LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin trong thế kỷ 20 và việc
ứng dụng những thành tựu của nó vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời
sống xã hội đã tạo nên những sản phẩm tiện ích đối với con người. Thẻ ngân
hàng đã ra đời trên cơ sở kết hợp hài hoà giữa công nghệ ngân hàng và công
nghệ thông tin. Được xem là một phương thức thay thế tiền mặt hàng đầu
trong các giao dịch tiêu dùng, thẻ ra đời không chỉ đem lại lợi ích cho ngân
hàng và khách hàng mà còn có tác dụng tích cực đến nền kinh tế. Trong hơn
nửa thế kỷ qua, thẻ đã trở thành phương tiện thanh toán chủ yếu trong tiêu
dùng cá nhân ở nhiều nước trên thế giới.
Việt Nam vẫn được coi là một quốc gia sử dụng quá nhiều tiền mặt.
Tình trạng giao dịch quá nhiều bằng tiền mặt dẫn đến việc phải sử dụng
nhiều nhân lực, tốn nhiều thời gian và làm tăng chi phí hoạt động. Theo ước
đoán của một chuyên gia ngân hàng, tình trạng sử dụng quá lớn tiền mặt
trong nền kinh tế nước ta hiện nay đang làm cho chúng ta mỗi năm mất đi
tới 1 tỷ đô la Mỹ- một con số khổng lồ nếu so sánh với mức thu nhập quốc
dân còn khiêm tốn.
Thẻ xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1990 bắt đầu bằng
việc Ngân hàng Ngoại thương (NHNT) thực hiện hoạt động thanh toán thẻ
tín dụng quốc tế. Từ đó đến nay, NHNT đã không ngừng đẩy mạnh hoạt
động thanh toán thẻ, đồng thời từng bước thực hiện phát hành thẻ tại Việt
Nam. Tuy nhiên cho đến nay, thẻ vẫn chưa thay thế được tiền mặt để tạo ra
một cuộc cách mạng về giao dịch như nó từng tạo ra trên thế giới.
Tại Việt Nam, NHNT luôn đi đầu trong hoạt động kinh doanh thẻ nói
chung cũng như trong nghiệp vụ phát hành thẻ nói riêng. Tuy nhiên, Ngân
hàng cũng gặp phải một sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương
mại trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Vì vậy, việc nghiên
cứu các đối thủ, từ đó tìm ra những giải pháp thích hợp để tăng tính cạnh
1
tranh của Ngân hàng trong hoạt động phát hành thẻ, tăng lợi nhuận của Ngân
hàng là điều cần phải được thực hiện.
không dùng tiền mặt phát sinh từ đó và càng ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế.
Thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán không dùng tiền mặt là tổng hợp các mối quan hệ chi trả
tiền tệ không có sự xuất hiện của tiền mặt. Đặc trưng của phương thức này là
sự vận động của hàng hoá, dịch vụ độc lập với sự vận động của tiền tệ cả về
thời gian lẫn không gian và thông thường hai quá trình này không ăn khớp
với nhau. Trong phương thức này, tiền mặt không làm trung gian trao đổi
mà chính hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) thực hiện chức năng này.
Khác với thanh toán dùng tiền mặt chỉ là quan hệ thanh toán giữa
người mua và người bán, trong thanh toán không dùng tiền mặt, ngoài chủ
thể chịu trách nhiệm thanh toán và chủ thể được hưởng thường có sự tham
gia của ít nhất là một ngân hàng nên ngân hàng có một vai trò to lớn, vừa là
người tổ chức, vừa là người thực hiện, đồng thời là người kết thúc quá trình
thanh toán. Sự tham gia của ngân hàng cùng với các phương tiện hiện đại và
các mối quan hệ đa dạng vào quá trình thanh toán sẽ giúp cho việc thực hiện
các hoạt động thanh toán cho doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng và an toàn.
Các đơn vị kinh doanh chỉ cần mở tài khoản tại ngân hàng và ký lệnh thanh
toán khi cần thiết là mọi hoạt động thanh toán coi như đã được hoàn tất. Hơn
nữa, số tiền trong tài khoản của doanh nghiệp lại rất an toàn và có thể sinh
lãi trong thời gian chưa dùng đến. Như vậy, hoạt động thanh toán đã được
đơn giản rất nhiều, giảm bớt khó khăn cho nền kinh tế cũng như các doanh
nghiệp. Các hoạt động như vận chuyển tiền, kiểm tra tiền để thanh toán
không còn nữa, lượng tiền trong lưu thông và các chi phí lưu thông cần thiết
như chi phí in tiền, vận chuyển và bảo quản tiền giảm, tiền nhàn rỗi lại được
tận dụng để phát triển kinh tế xã hội.
3
Hoạt động thanh toán qua ngân hàng, cùng với sự phát triển của
những ứng dụng của công nghệ thông tin trong ngân hàng, đang ngày càng
phát triển. Hệ thống ngân hàng ngày càng được hoàn thiện về mọi mặt để
ty) phát hành cho khách hàng của mình để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ
và rút tiền mặt. Các công cụ khác, ngoài séc, đều yêu cầu một khoản phí khá
lớn cho từng giao dịch, đặc biệt là những giao dịch khối lượng không lớn, vì
vậy đối với những giao dịch xảy ra thường xuyên thì thẻ tỏ ra có ưu thế hơn
hẳn những công cụ còn lại.
II. Tổng quan về thẻ
1. Sự hình thành và phát triển thẻ
Thẻ đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trên thế giới. Trong phạm vi
rộng, thẻ nói chung bao gồm tất cả các loại: thẻ séc, thẻ rút tiền mặt, thẻ ghi
nợ, thẻ tín dụng… Thẻ thanh toán là một trong những thành tựu của ngành
công nghiệp ngân hàng. Đó là cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá
nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong bán lẻ vào những năm 1970 và 1980
nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển của thẻ là thành quả của sự đổi
mới và khả năng marketing của các chuyên gia ngân hàng thế giới.
Tuy nhiên, ngân hàng không phải là người đầu tiên phát hành thẻ. Tại
Mỹ, các thẻ bách hoá, thẻ du lịch và giải trí được phát hành trước khi bước
vào ngành công nghiệp ngân hàng. Một vài yếu tố đã thúc đẩy các ngân
hàng tham gia vào lĩnh vực thẻ. Nó cho phép các ngân hàng đưa ra được các
dịch vụ mới cho các khách hàng hiện có và là một phương tiện tối ưu để hấp
dẫn các khách hàng mới- các cá nhân cũng như những doanh nghiệp bán lẻ.
Mặc dù không phải là một yếu tố quyết định, có lẽ nhiều ngân hàng đã tham
gia vào lĩnh vực này nhằm đuổi kịp những phát triển mà sự cạnh tranh đòi
hỏi. Dĩ nhiên là các ngân hàng cũng được khuyến khích áp dụng các kế
hoạch thẻ do khả năng có thể gia tăng lợi nhuận của chính ngân hàng.
Thẻ xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1914 khi tổng công ty xăng dầu
California (ngày nay là công ty Mobie) cấp thẻ cho nhân viên và một số
5
khách hàng của mình. Thẻ chỉ nhằm khuyến khích bán sản phẩm của công ty
chứ không kèm theo việc gia hạn tín dụng. Sau đó, các hệ thống cửa hàng
bán lẻ tiếp tục phát triển hình thức tài trợ khách hàng này thông qua việc
những lợi ích của hệ thống thanh toán này, ngày càng có nhiều tổ chức tín
dụng tham gia thanh toán. Nhiều tổ chức phát hành thẻ khác bắt đầu liên kết
để cạnh tranh với Bank of America. Năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết
thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới
có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng. Năm 1967, bốn
ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành
Western States BankCard Association (WSBA) và mở rộng mạng lưới thành
viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ
chức này là Master Charge. Tổ chức này cũng cấp phép cho Interbank sử
dụng tên và thương hiệu Master Charge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ
chức tài chính đã trở thành thành viên của Master Charge và đủ sức cạnh
tranh với Bank Americard.
Tuy nhiên, để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được khách
hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi
một địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi
đó, Inter Bank (Master Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã
xây dựng một hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý thanh toán thẻ
toàn cầu. Năm 1977, Bank Americard trở thành Visa USA và sau đó trở
thành tổ chức thẻ quốc tế Visa. Năm 1979, Master Charge cũng trở thành
một tổ chức thẻ quốc tế lớn khác là Master Card. 4 tổ chức thẻ quốc tế lớn
nhất hiện nay là Visa, Master Card, Amex, JCB.
Do thẻ ngày càng được sử dụng rộng rãi, các công ty và các ngân
hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu lợi nhuận này. Thẻ dần dần
được xem như một công cụ văn minh, thuận lợi trong các cuộc giao dịch
mua bán. Các loại thẻ Master Card, Visa, Amex, JCB được sử dụng rộng rãi
trên toàn cầu và cùng phân chia những thị trường rộng lớn.
Chính sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại và những ứng
dụng của cuộc cách mạng thông tin trong lĩnh vực ngân hàng đã góp phần
thúc đẩy sự ra đời của thẻ với nhiều tên gọi khác nhau mà hiện nay đang
được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với lợi thế về vốn,
-Số thẻ (được in nổi): số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên
thẻ và được in lại trên hoá đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ. Tuỳ theo
từng loại thẻ mà có chữ số, cách cấu trúc theo nhóm khác nhau.
-Họ tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của
người được uỷ quyền nếu là thẻ công ty.
-Ngày hiệu lực của thẻ (được in nổi): là thời hạn mà thẻ được phép lưu hành.
Tuỳ theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc
ngày đầu tiên và ngày cuối cùng được sử dụng thẻ.
-Ký tự an ninh trên thẻ, số mật mã của đợt phát hành: mỗi loại thẻ luôn có
ký hiệu an ninh kèm theo, in phía sau của ngày hiệu lực nhằm tăng tính an
toàn của thẻ, đề phòng giả mạo.
Ngoài ra còn có thể có các yếu tố khác như: chữ kí, hình của chủ thẻ,
hình nổi không gian 3 chiều (hoặc chip đối với thẻ điện tử).
• Mặt sau của thẻ gồm:
-Dải băng từ chứa các thông tin như: số thẻ, ngày hết hạn, tên chủ thẻ, ngân
hàng phát hành, các yếu tố kiểm tra an toàn khác.
-Dải băng chữ kí của chủ thẻ: cơ sở chấp nhận thẻ đối chiếu chữ ký này với
chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ.
2.3. Phân loại thẻ
2.3.1. Theo công nghệ sản xuất:
1. Thẻ khắc chữ nổi: Các thông tin cần thiết được khắc nổi lên bề mặt
của thẻ. Tấm thẻ đầu tiên đã được sản xuất theo công nghệ này. Hiện nay
người ta không sử dụng thẻ loại này nữa vì kỹ thuật sản xuất quá thô sơ, dễ
bị làm giả.
2. Thẻ băng từ: được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một băng từ
chứa hai rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến
trong vòng 20 năm nay. Tuy nhiên, do thẻ mang tính thông tin cố định, khu
9
vực chứa thông tin hẹp không áp dụng được các kĩ thuật mã bảo đảm an
toàn, thông tin trong thẻ không tự mã hoá được, người ta có thể đọc thẻ dễ
một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng.
2. Thẻ ghi nợ: có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi của
chủ thẻ. Chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp cho một mức thấu chi theo
sự thoả thuận giữa hai bên. Những giao dịch thực hiện bằng thẻ này sẽ được
khấu trừ vào tài khoản của chủ thẻ và ghi có vào tài khoản của cơ sở chấp
nhận thẻ (CSCNT). Thẻ ghi nợ có hai loại cơ bản là thẻ on-line và thẻ off-
line. Thẻ on-line là thẻ ghi nợ mà những thông tin về giao dịch được kết nối
trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại CSCNT hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân
hàng phát hành. Giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài
khoản chủ thẻ. Thẻ off-line là thẻ mà thông tin giao dịch được lưu tại máy
điện tử của CSCNT và được chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn
(không có kết nối trực tiếp với điểm thanh toán). Giá trị những giao dịch sẽ
được khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
3. Thẻ rút tiền mặt: Về bản chất, đây cũng là một loại của thẻ ghi nợ
nhưng thẻ này chỉ được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng, các máy rút
tiền tự động (ATM) và sử dụng các dịch vụ khác do máy ATM cung cấp như
kiểm tra số dư, chuyển khoản, chi trả các khoản vay,... Với chức năng
chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, số tiền rút ra mỗi lần sẽ được trừ dần vào số
tiền kí quĩ. Thẻ rút tiền mặt có hai loại. Một loại chỉ được dùng để rút tiền
mặt tại những máy rút tiền tự động của ngân hàng phát hành, còn loại kia
ngoài địa điểm trên còn được sử dụng để rút tiền ở các ngân hàng cùng tham
gia tổ hợp thanh toán với ngân hàng phát hành thẻ.
2.3.4. Theo hạn mức tín dụng
1. Thẻ vàng: là loại thẻ được phát hành cho những đối tượng có thu nhập
cao, có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ
này nhìn chung có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
2. Thẻ thường (thẻ chuẩn): là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ
biến, đại chúng, được hơn 142 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày.
Thẻ có hạn mức tín dụng thấp hơn thẻ vàng.
11
công ty đứng ra tổ chức và độc quyền phát hành loại thẻ của họ. Họ trực tiếp
phát hành thẻ và đứng ra quản lý chủ thẻ. Việc mở rộng thị trường được thực
hiện bằng cách lập ra các chi nhánh hay văn phòng đại diện phát hành thẻ,
do vậy phạm vi hoạt động thường nhỏ hơn so với hình thức hiệp hội. JCB và
American Express là điển hình của hình thức tổ chức này.
Ngân hàng phát hành thẻ: là thành viên chính thức của tổ chức thẻ và được
phép phát hành thẻ. Ngân hàng này có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý hồ sơ xin
cấp thẻ, thiết kế các tiêu chuẩn kĩ thuật, mật mã, kí hiệu,.. cho các loại thẻ để
bảo đảm an toàn trong quá trình sử dụng thẻ, sau đó phát hành thẻ cho khách
hàng, mở và quản lí tài khoản thẻ, chịu trách nhiệm việc thanh toán số tiền
mà khách hàng trả cho người bán bằng thẻ.
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT): là thành viên chính thức hoặc thành
viên liên kết của tổ chức thẻ và/ hoặc các ngân hàng được ngân hàng phát
hành thẻ uỷ quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ.
Ngân hàng đại lí thanh toán thẻ: là ngân hàng được NHTTT uỷ quyền
thực hiện một số dịch vụ thanh toán thẻ thông qua hợp đồng ngân hàng đại
lí. Ngân hàng đại lí có nhiệm vụ trả tiền cho cơ sở chấp nhận thẻ khi nhận
được biên lai thanh toán, trả tiền mặt theo yêu cầu của chủ sở hữu thẻ, nhận
chuyển tiếp số tiền thanh toán bằng thẻ đến bên bán. Ngân hàng đại lí là
ngân hàng trực tiếp kí hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và
xử lí các giao dịch về thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ, cung cấp các dịch vụ hỗ
trợ cho cơ sở chấp nhận thẻ.
Chủ thẻ: là người có tên trên thẻ và được quyền sử dụng thẻ. Chủ thẻ có thể
là một cá nhân riêng lẻ, hoặc đại diện cho một công ty hay tổ chức nào đó có
nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán. Chỉ chủ thẻ mới có thể sử dụng thẻ của
mình. Một chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm thẻ phụ cho người thân, có thể sở
hữu một hoặc nhiều thẻ. Chủ thẻ phải trả phí cho ngân hàng phát hành thẻ.
Người chịu trách nhiệm thanh toán thẻ: là chủ thẻ chính (đối với thẻ cá
nhân) hoặc/ và tổ chức, công ty xin cấp thẻ (đối với thẻ công ty).
13
(5) (3)
(4) (6) (7) (8)
(4)
(6)
(7)
:Quy trình phát hành :Quy trình đòi tiền
:Quy trình cấp phép :Quy trình thanh toán
:Quy trình khiếu nại và xử lý tranh chấp
(1) Ngân hàng phát hành yêu cầu khách hàng phát hành thẻ cung cấp các
hồ sơ cần thiết theo quy định chứng minh nhân thân của khách hàng,
khả năng thanh toán của họ và các tổ chức cá nhân có quan hệ.
(2) Ngân hàng phát hành thẻ cho khách hàng đủ điều kiện.
(3) Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán, rút tiền mặt tại các CSCNT.
(4) CSCNT kiểm tra khả năng thanh toán của thẻ: xin chuẩn chi của
NHTTT nếu số tiền thanh toán vượt quá hạn mức, kiểm tra bảng tin
cảnh giác nếu số tiền nhỏ hơn hạn mức mà NHTTT cho phép.
15
Ngân h ng thanhà
toán
Tổ chức thẻ
quốc tế
Đơn vị chấp
nhận thẻ hoặc
ngân h ng à đại lý
(5) CSCNT so sánh chữ ký trên hoá đơn và chữ ký trên thẻ, nếu đúng thì
cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay ứng tiền mặt cho khách hàng.
(6) CSCNT nhận tiền thanh toán- đã trừ khoản chiết khấu đại lý- từ
NHTTT sau khi nộp lại hoá đơn cho ngân hàng này hoặc sau khi tổng
để quản lý. Hồ sơ gồm: tên chủ thẻ, địa chỉ nơi ở và làm việc, số CMND, số
hộ chiếu, số thẻ, loại thẻ, ngày hiệu lực, số tài khoản chỉ định để thanh toán
sao kê, người thanh toán sao kê, tài sản thế chấp (nếu có).
Sau đó, ngân hàng tiến hành mã hoá thẻ và in thẻ, xác định mã số cá
nhân (PIN) của chủ thẻ, nhập dữ liệu về chủ thẻ vào tập tin quản lý, giao thẻ
và số PIN cho chủ thẻ. Chủ thẻ nhận thẻ, ký vào hợp đồng sử dụng thẻ và
băng chữ ký ở mặt sau của thẻ.
2.5. Một số thiết bị sử dụng
Thanh toán bằng thẻ là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt
và nó đòi hỏi phải có số thiết bị kĩ thuật hỗ trợ cho việc thanh toán được đơn
giản, nhanh gọn và an toàn. Các thiết bị hỗ trợ rất nhiều nhưng hiện nay chủ
yếu là các loại sau:
Máy chà hoá đơn (máy cà thẻ): được đặt tại CSCNT, dùng để ghi lên hoá
đơn những thông tin in nổi ở mặt trước của thẻ (số thẻ, tên chủ thẻ, ngày
hiệu lực,..) cùng chữ kí của chủ thẻ. Hoá đơn này được xem là bằng chứng
xác nhận việc chủ thẻ đã thực hiện giao dịch, đồng thời là cơ sở pháp lí để
giải quyết các tranh chấp giữa các đối tượng có liên quan (nếu có xảy ra).
Máy chà hoá đơn được cấu tạo gọn nhẹ dễ sử dụng với kích thước
30cm x 20cm x 4cm. Khi sử dụng thì đặt thẻ vào khung đã được thiết kế sẵn
(mặt in nổi hướng lên trên) và đặt hoá đơn vào khung còn lại, kéo cần chà
qua lại một lần thì các thông tin ở mặt trước thẻ sẽ in lên hoá đơn. Thiết bị
này được sử dụng tại đa số các điểm chấp nhận thẻ ở Việt Nam trước đây.
17
Điện thoại- Telex dùng để điện hoặc telex các thông tin như: mã số thẻ, thời
gian thực hiện, tổng số tiền xin cấp phép đến ngân hàng để xin cấp phép, sau
vài phút ngân hàng sẽ trả lời từ chối hay chấp nhận bằng việc cho một mã số
chấp thuận và CSCNT phải ghi mã số này vào hoá đơn.
Máy xin cấp phép EDC là thiết bị điện tử cấp phép tự động được trang bị
cho các CSCNT dùng để xin cấp phép trực tuyến với ngân hàng phát hành,
các trung tâm cấp phép của các loại thẻ khác nhau trên thế giới thông qua
mình. Chủ thẻ cũng có thể thấy điều này khi sử dụng thẻ để thanh toán tiền
hàng hoá, dịch vụ thông qua một mạng lưới rộng rãi các CSCNT trong và
ngoài nước hay rút tiền mặt khi cần thiết tại các tổ chức tài chính hay ngân
hàng trên thế giới hoặc tại các máy rút tiền tự động ATM với loại tiền phù
hợp của nước sở tại.
Với kích thước gọn nhẹ của thẻ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo
người, tạo cảm giác thoải mái khi đi mua sắm, đặc biệt với khối lượng chi
trả lớn. Khi mua sắm hàng hoá, dịch vụ, khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ và
ký vào hoá đơn thanh toán thì việc mua bán hàng hoá coi như đã hoàn thành.
Với việc sử dụng thẻ, một cách gián tiếp khách hàng đã tiết kiệm được chi
phí vận chuyển và kiểm đếm tiền. Với việc sử dụng thẻ, khách hàng có thể
thực hiện giao dịch bằng bất cứ loại tiền tệ nào trên thế giới nhưng chỉ phải
thanh toán cho ngân hàng phát hành thẻ bằng đồng bản tệ.
Bên cạnh đó, với một tấm thẻ trong tay, chủ thẻ không còn gặp tình
trạng phải chạy đến ngân hàng trước giờ đóng cửa để rút tiền mặt mà họ có
thể rút tiền mặt tại các máy ATM được trang bị ở nhiều nơi công cộng ở
trong và ngoài nước. Thẻ làm giảm đến mức tối thiểu nhu cầu giữ tiền mặt,
cho phép người sử dụng hoãn việc chi trả các hàng hoá và dịch vụ trong một
thời gian ngắn, các báo cáo chi trả được thực hiện một cách thuận lợi có ý
nghĩa quan trọng trong đánh giá tín dụng. Những người sử dụng thẻ có hạn
mức tín dụng tuần hoàn ngoài ra cón có thêm một thuận lợi nữa là gia tăng
khả năng mua hàng hoá và dịch vụ, và bằng cách ấy tránh được nạn quan
liêu khi xin cấp các khoản cho vay cá nhân. Hơn nữa, người có thẻ tín dụng
có sự mềm dẻo đáng kể trong việc định thời gian và việc hoàn trả khối lượng
19
nợ. Với thẻ ghi nợ, khách hàng thậm chí còn được hưởng một mức thấu chi
nhất định trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng. Đặc biệt đối với thẻ
công ty, ngoài những tiện ích trên, nó còn giúp công ty quản lý và kiểm soát
hiệu quả các chi tiêu của nhân viên mình.
Ngoài ra, khi sử dụng thẻ, chủ thẻ còn được hưởng một số dịch vụ
đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới và khách nước ngoài thường rất thích
dùng thẻ nên chấp nhận thẻ cũng là một cách giúp các đại lý thu hút khách
hàng, tăng doanh số bán hàng.
Việc chấp nhận thẻ sẽ giúp các đơn vị này đa dạng hoá phương thức
thanh toán, giảm tình trạng chậm trả của khách hàng cũng như công tác kiểm
đếm, thu giữ tiền mặt, tránh nhận phải tiền giả trong thanh toán, qua đó giảm
được các chi phí kinh doanh không cần thiết.
Một điều quan trọng khác là khi chấp nhận thanh toán thẻ, các
CSCNT hưởng lợi rất nhiều từ ngân hàng. Các đại lý sẽ được ngân hàng
cung cấp các máy móc cần thiết cho việc thanh toán bằng thẻ, họ không phải
mất tiền đầu tư cho hình thức thanh toán này. Các CSCNT nhờ đó cũng thiết
lập được mối quan hệ mật thiết với ngân hàng, điều này đồng nghĩa với việc
ngân hàng sẽ dành cho họ những khoản ưu đãi trong những giao dịch khác,
đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết
các cơ sở kinh doanh đều sử dụng một lượng vốn lớn vay từ ngân hàng nên
được ưu đãi trong vay vốn là một lợi ích lớn đối với tất cả các cơ sở kinh
doanh.
2.6.3. Đối với ngân hàng
Khi tham gia hoạt động kinh doanh thẻ, ngân hàng phát hành (NHPH)
cũng như ngân hàng thanh toán thẻ thu được rất nhiều lợi ích.
Thứ nhất, thẻ cho phép các ngân hàng đưa ra được các dịch vụ mới
cho các khách hàng hiện có và là một phương tiện tối ưu để hấp dẫn các
khách hàng mới- các cá nhân cũng như các ngân hàng bán lẻ. Ngân hàng có
thể phát triển các dịch vụ khác liên quan đến thanh toán thẻ như kinh doanh
ngoại tệ, nhận tiền gửi,... Cùng với việc cung cấp các dịch vụ đầy đủ và đa
dạng hoá dịch vụ, danh tiếng cũng như uy tín của ngân hàng được nâng lên.
21
Việc gia nhập các tổ chức thẻ quốc tế giúp ngân hàng tạo thêm được quan hệ
với nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính khác, qua đó củng cố uy tín và tăng
hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Thứ hai là tăng nhanh tốc độ chu chuyển, thanh toán. Hầu hết mọi
giao dịch thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện và
thanh toán trực tuyến, vì vậy tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều
so với những giao dịch sử dụng các phương tiện thanh toán khác. Thay vì
thực hiện các giao dịch trên giấy tờ, với giao dịch thẻ, mọi thông tin đều
được xử lý qua hệ thống máy móc điện tử thuận tiện, nhanh chóng.
Thứ ba là thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước. Việc sử
dụng thẻ được thực hiện thông qua mạng trực tuyến dưới sự kiểm soát của
ngân hàng đã tạo điều kiện quan trọng cho việc kiểm soát khối lượng giao
dịch thanh toán của dân cư và của cả nền kinh tế, do đó hạn chế và giảm
thiểu tác động tiêu cực của các hoạt động kinh tế ngầm, đồng thời tạo tiền đề
cho việc tính toán lượng tiền cung ứng, tăng cường tính chủ đạo của nhà
nước trong điều tiết nền kinh tế, điều hành, thực thi các chính sách kinh tế
tài chính, tiền tệ, ngoại hối và thực hiện quản lý thuế có hiệu quả.
Thứ tư là cải thiện môi trường văn minh thương mại, thu hút khách du
lịch và đầu tư nước ngoài. Thanh toán bằng thẻ tạo điều kiện hết sức thuận
lợi cho việc hội nhập nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, trước
hết trong lĩnh vực hết sức quan trọng: hoạt động tài chính ngân hàng, thông
qua các tổ chức thẻ quốc tế lớn trên thế giới. Việc tiếp cận với phương tiện
văn minh hiện đại của thế giới, tạo ra một môi trường thương mại văn minh,
hiện đại hơn cũng là một yếu tố thu hút khách du lịch, các nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam. Thanh toán thẻ an toàn, hiệu quả, chính xác, nhanh
chóng cũng sẽ tạo niềm tin của dân chúng vào hoạt động của hệ thống ngân
hàng.
2.6.5. Rủi ro trong kinh doanh thẻ
Rủi ro theo nghĩa rộng là khả năng tổn thất tài chính hoặc bị giảm
mức lợi nhuận kinh doanh so với dự kiến. Mặc dù thanh toán bằng thẻ có
23
được nhiều ưu điểm hơn so với thanh toán bằng tiền mặt nhưng cũng có thể
gặp một số rủi ro chính sau.
Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua thư, điện thoại: CSCNT cung cấp dịch
vụ, hàng hoá theo yêu cầu của chủ thẻ qua thư hoặc điện thoại dựa vào các
thông tin về chủ thẻ: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ,… mà không
biết rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻ chính thức. Khi giao
dịch đó bị NHPH từ chối thanh toán thì CSCNT phải chịu rủi ro.
Nhân viên CSCNT giả mạo hoá đơn thanh toán thẻ: Khi thực hiện giao
dịch, nhân viên CSCNT cố tình in ra nhiều bộ hoá đơn thanh toán cho một
giao dịch nhưng chỉ đưa cho chủ thẻ ký vào một bộ hoá đơn. Các hoá đơn
còn lại bị giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu đòi tiền từ NHTTT. Trường hợp
này dẫn đến rủi ro cho CSCNT hoặc NHPH.
Tạo băng từ giả: Các tổ chức tội phạm dùng các thiết bị chuyên dụng thu
thập thông tin thẻ trên băng từ của thẻ thật tại CSCNT, sử dụng phần mềm
riêng để mã hoá, in và tạo băng từ trên thẻ giả và thực hiện các giao dịch giả
mạo. Loại thẻ này đang phát triển tại các nước tiên tiến và gây thiệt hại cho
chủ thẻ, NHPH và NHTT.
2.7. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thẻ thanh toán
2.7.1. Các nhân tố khách quan
2.7.1.1. Các điều kiện về mặt xã hội
Sự phát triển và mức độ phát triển thanh toán thẻ tại mỗi quốc gia phụ
thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của xã hội đó. Nó gồm có những nội
dung chính sau:
Thói quen giao dịch của công chúng: Thói quen sử dụng phương tiện
thanh toán nào của công chúng là một nhân tố đặc biệt quan trọng tác động
đến sự phát triển thẻ thanh toán tại mỗi quốc gia bởi nó tạo ra môi trường
cho thanh toán thẻ. Thẻ rất khó hoặc không thể phát triển trong một xã hội
mà chi tiêu bằng tiền mặt đã trở thành một thói quen không thể thay đổi
trong công chúng. Chỉ khi việc thanh toán được thực hiện chủ yếu qua hệ
25