| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 9
Một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với vấn đề
trầm cảm và lo âu của học sinh 2 trường Trung
học cơ sở, thành phố Hà Nội
Nguyễn Thanh Hương (*), Trương Quang Tiến (*), Hoàng Khánh Chi(*),
Nguyễn Hoàng Phương (*), Trần Bích Phượng (**), Micheal Dunne (***)
Ngày nay vấn đề sức khỏe tâm thần là khá phổ biến trong giới trẻ và có xu hướng tăng lên đặc biệt
ở các nước đang phát triển. Điển hình về vấn đề này như trầm cảm và lo âu trong thời kỳ vò thành
niên có thể để lại hậu quả tức thì hoặc lâu dài tới sức khỏe thể chất cũng như tâm thần khi trưởng
thành. Tuy nhiên, ở Việt Nam vấn đề này lại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Mục đích của
bài báo này là xác đònh một số yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với trầm cảm và lo âu ở học sinh hai
trường trung học cơ sở của Hà Nội. Đây là nghiên cứu cắt ngang sử dụng bộ câu hỏi tự điền khuyết
danh với 972 học sinh từ lớp 6 đến lớp 8. Các mô hình phân tích đa biến được sử dụng để kiểm soát
một số yếu tố nhiễu. Kết quả cho thấy học sinh nội thành có sức khỏe tâm thần kém hơn so với học
sinh ngoại thành (p<0.05). Trầm cảm và lo âu ở cả học sinh nam và nữ có mối liên quan với nhiều
yếu tố khác nhau. Gắn kết tốt với nhà trường; được cha, mẹ quan tâm phù hợp là yếu tố bảo vệ. Bò
bắt nạt/trêu ghẹo; sự kiểm soát và bảo vệ quá mức của cả cha lẫn mẹ là yếu tố nguy cơ của trầm cảm
và lo âu. Kết quả nghiên cứu nhất quán với công bố của một số nghiên cứu trước đây và cho thấy
tính cấp thiết của việc triển khai các chương trình can thiệp tại trường học để cải thiện sự gắn kết
với nhà trường, giảm tình trạng bắt nạt/trêu ghẹo và hỗ trợ phụ huynh quan tâm, chăm sóc các em
một cách phù hợp nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần của thế hệ trẻ.
Từ khóa: Trầm cảm, lo âu, vò thành niên, yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ.
Some risk and protective factors for
depression and anxiety among students
of two secondary schools in Hanoi
Nguyen Thanh Huong (*), Truong Quang Tien (*), Hoang Khanh Chi (*),
Nguyen Hoang Phuong (*), Tran Bich Phuong (**), Micheal Dunne (***).
Nowadays, mental health problems are quite prevalent and on an increasing trend among adolescents
and youth. Typical mental health problems include depression and anxiety among adolescents which
can have serious short-term and long-term impacts on adult physical and mental health. However,
khoảng 15% vào năm 2020 [4].
Sức khỏe tâm thần của vò thành niên là một vấn
đề đang ngày càng thu hút sự quan tâm của các cán
bộ quản lý, cán bộ y tế và cộng đồng. Sức khỏe tâm
thần được đánh giá là một cấu phần quan trọng
trong sức khỏe tổng thể của thế hệ trẻ. Những vấn
đề về sức khỏe tâm thần trong thời kỳ vò thành niên
name for collecting data from 972 school children from grade 6 to grade 8. Multivariable linear
regression models and General linear models were employed to control confounding variables. The
results show that adolescents in suburban school have better mental health than their counterparts
in inner city school (p<0.05). There are various factors associated with depression and anxiety.
School connectedness, appropriate mother and farther care are protective factors. Bullying,
overprotection of both mother and father are risk factors of depression and anxiety. The study results
are consistent with findings from previous studies and show the urgent need of developing and
implementing intervention programs at schools to improve school connectedness, reduce school
bullying, and support parents to take care their children appropriately, and thus to contribute to
promoting mental wellbeing of young generation.
Key words: Depression, anxiety, adolescent, risk factors, protective factors.
Các tác giả:
(*) Trường Đại học Y tế Công cộng - 138 Giảng Võ, Hà Nội
- Nguyễn Thanh Hương - Tiến só, Phó Trưởng khoa các Khoa học xã hội
- Trương Quang Tiến - Thạc só, Phó Trưởng Bộ môn Giáo dục sức khỏe
- Hoàng Khánh Chi - Thạc só, Giảng viên Bộ môn Chính sách và Pháp luật Y tế
- Nguyễn Hoàng Phương - Cử nhân, Trợ giảng bộ môn Giáo dục sức khỏe
(**) Trần Bích Phượng - Thạc só, Tổ chức Atlantic Philanthropies
(***) Micheal P. Dunne - Giáo sư, Tiến só, Đại học Công nghệ Queensland, Úc.
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 11
có mối liên quan chặt chẽ với rất nhiều hành vi
nguy cơ như tự tử, uống rượu, hút thuốc, sử dụng ma
Thò Kim Dung và cộng sự (2007) có những phát
hiện đáng chú ý về tình trạng lo âu và trầm cảm ở
học sinh. Tỉ lệ học sinh có biểu hiện lo âu là 12,3%
và trầm cảm là 8,4% [2].
Trong khuôn khổ của bài báo này này chúng tôi
tập trung vào 2 vấn đề sức khỏe tâm thần là trầm
cảm và lo âu. Đây là những vấn đề thường gặp trong
các vấn đề sức khỏe tâm thần ở học sinh.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm
thần của trẻ em. Trong đó, những yếu tố tác động
tích cực làm giảm nhẹ các tác động tiêu cực, tăng
cường sức khỏe tâm thần được gọi là yếu tố bảo vệ.
Bên cạnh đó có những yếu tố có tác động tiêu cực,
làm tăng khả năng xuất hiện các các vấn đề sức
khoẻ tâm thần được gọi là yếu tố nguy cơ. Việc xác
đònh rõ các yếu tố này giúp chúng ta xây dựng giải
pháp can thiệp thích hợp để cải thiện vấn đề sức
khỏe tâm thần. Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ có thể
thuộc các lónh vực: sinh học, tâm lí và xã hội bao
gồm các yếu tố về gia đình (sự quan tâm của cha
mẹ, mối quan hệ của các thành viên trong gia
đình…), trường học (sự gắn kết với nhà trường, vấn
đề bạo lực tại trường học…), và cộng đồng (mối gắn
kết với cộng đồng, các dòch vụ giải trí, các dòch vụ
tư vấn của xã hội…) [22].
Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở trẻ em, đặc biệt
là trầm cảm, lo âu nếu không được quan tâm phòng
ngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại hậu quả cho cả
cá nhân trẻ và gia đình chúng. Một trong những hậu
quả nghiêm trọng của vấn đề là trẻ có thể có ý đònh
tổng số 974 em học sinh tham gia.
Bộ câu hỏi thu thập số liệu bao gồm 4 phần
chính đó là các thông tin chung, môi trường gia đình,
môi trường trường học và vấn đề sức khỏe tâm thần
12 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
bao gồm trầm cảm, lo âu và một số hành vi nguy cơ
đối với sức khỏe.
Thang đo được sử dụng trong bộ câu hỏi:
Thang đo trầm cảm: Sử dụng thang đo CES-D
(The Centre for Epidemiological Studies-
Depression Scale) gồm 20 tiểu mục [16]. Thang đo
này đã được đánh giá về tính giá trò và độ tin cây
đối với đối tượng vò thành niên ở Việt Nam (với
α
= 0,87) [8]. Trong nghiên cứu này α = 0,82)
Thang đo lo âu: Sử dụng thang đo gồm 13 tiểu
mục đã bước đầu được đánh giá tính giá trò và độ tin
cậy đối với đối tượng vò thành niên ở Việt Nam (với
α = 0,82) [8]. Trong nghiên cứu này α = 0,81)
Thang đo mức độ bò trêu ghẹo/bắt nạt tại trường
học: Nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên tham
khảo kỹ lưỡng các tài liệu trong và ngoài nước.
Thang đo gồm 5 tiểu mục với lựa chọn trả lời ở 3
mức (không bao giờ, thỉnh thoảng, thường xuyên)
để đo lường mức độ bò bắt nạt tại trường học trong
vòng 1 tháng trước thời điểm điều tra. Thang đo có
độ tin cậy cao (
α = 0,79).
Thang đo mối quan hệ/ gắn kết với cha và mẹ:
tích số liệu. Để phân tích các yếu tố liên quan với
trầm cảm và lo âu, cần kiểm soát một số yếu tố
nhiễu như các biến về dân số học, đặc điểm gia
đình…). Bước thứ nhất trong phân tích chúng tôi sử
dụng mô hình hồi qui tuyến tính đa biến
(Multivariable linear regression models) để xác
đònh các hợp biến (covariates) có ý nghóa thống kê.
Bước thứ 2 sử dụng mô hình tuyến tính tổng quát
(General linear Models - GLM) để xác đònh các
yếu tố liên quan. Phân tích được tách riêng cho
nhóm học sinh nam và nữ.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1 . Một số thông tin chung
Tỷ lệ học sinh giữa trường ngoại thành và nội
thành (51,7% và 48,3%), giữa nam và nữ (51,3% và
48,7%) và giữa 3 khối lớp 6, 7 và 8 (33,3%, 36,0%
và 30,7%) là khá tương đồng. Chỉ có gần 2% em báo
cáo có lực học kém trong học kỳ trước. Về tình trạng
kinh tế của gia đình có 12,3% được đánh giá là khá
và giàu (gia đình có ô tô), 74,1% là trung bình (gia
đình có xe máy) và 13,6% là nghèo (gia đình chỉ có
xe đạp). Gần 3% các em có bố mẹ bỏ nhau và 2,5%
mồ côi cha/mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ. Có khoảng 25%
các em không biết trình độ học vấn của cha/mẹ.
Khi được hỏi về mối quan hệ trong gia đình,
trên 50% các em đã chứng kiến cha mẹ cãi nhau
trong đó gần 15% ở mức độ thỉnh thoảng hoặc
thường xuyên. Gần 20% các em đã chứng kiến cha
mẹ đánh nhau trong đó gần 5% chứng kiến ở mức
độ thỉnh thoảng và thường xuyên. Khi cần có sự
Tuy nhiên không có sự khác biệt về mức độ trầm
cảm giữa nhóm có 1 anh/chò em với nhóm có từ 2
anh/chò em trở lên. Nam học sinh sống với cha
và/hoặc mẹ có điểm trầm cảm thấp hơn một cách
có ý nghóa thống kế với điểm của nam học sinh
không sống với cha, mẹ đẻ. Nam học sinh có mẹ là
cán bộ nhà nước cũng có điểm trầm cảm thấp hơn
có ý nghóa thống kê so với nhóm nam học sinh có
mẹ là các nghề khác. Các em nam chứng kiến
cha/mẹ cái nhau ở mức độ thỉnh thoảng và thường
xuyên có mức độ trầm cảm cao hơn so với nhóm còn
lại (Bảng 3).
Với học sinh nữ: Bò trêu ghẹo/bắt nạt ở trường
là yếu tố nguy cơ trong khi đó gắn kết với nhà
trường, chăm sóc của mẹ là yếu tố bảo vệ. Đòa bàn
trường học và kết quả học tập có liên quan với trầm
cảm của học sinh nữ. Nữ sinh ở nội thành có mức độ
trầm cảm cao hơn có ý nghóa thống kê so với nữ sinh
ở ngoại thành (điểm trầm cảm trung bình là 18.259
so với 14.736). Nữ sinh có mức học trung bình và
kém có mức độ trầm cảm cao hơn các em có lực học
khá và giỏi.
3.3.2. Các yếu tố liên quan đến lo âu
Bảng 4 cho thấy các biến có liên quan với lo âu
cho nam và nữ học sinh và bảng 5 chỉ ra mối liên
quan của các phân nhóm trong mỗi biến với lo âu.
Với học sinh nam: Bò trêu ghẹo/bắt nạt ở trường
và mẹ bảo vệ quá mức là yếu tố nguy cơ đối với lo
âu ở học sinh nam. Thêm nữa các em không có ai
để chia sẻ khi có vấn đề có mức độ lo âu cao hơn
(n=469)
Học sinh
nội thành
(n=503)
T-test
(p-value)
Lớp 6
(n = 324)
Lớp 7
(n = 350)
Lớp 8
(n =298 )
ANOVA
(p value)
Mean(SD)
Mean(SD)
Mean(SD)
Mean(SD)
Mean(SD)
Mean(SD)
Mean(SD)
(4.39)
20.26
(4.85)
20.27
(4.50)
.250
Bảng 1. Điểm trầm cảm và lo âu theo giới, đòa điểm
trường học và khối lớp
Nam
Nữ
Các biến
t
p value
t
p value
Gắn kết với nhà trường
-4.769
.001*
-5.114
.001*
Bò trêu ghẹo/bắt nạt
5.925
.001*
3.578
F
p value
F
p value
Khối lớp
.077
.926
1.941
.145
Đòa điểm của trường
.323
.570
5.085
.025*
Tình trạng kinh tế
.073
.787
1.181
.278
Số anh chò em
2.915
.183
.908
Nghề ghiệp của cha
1.060
.366
.613
.607
Nghề nghiệp của mẹ
3.352
.019*
.500
.683
Tình trạng sử dụng rượu của cha, mẹ
.644
.423
2.249
.135
Tình trạng sử dụng ma túy của cha, mẹ
160
690
.982
.322
.858
.425
3.027
.050*
Bảng 2. Phân tích đa biến các yếu tố liên quan với
trầm cảm (cho nam và nữ học sinh)
* Có ý nghóa thống kê (p<0.05)
14 Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
4. Bàn luận
Với truyền thống và văn hóa của đất nước, trẻ
em Việt Nam luôn được quan tâm chăm sóc của cha
mẹ và của xã hội. Cùng với sự phát triển kinh tế của
đất nước, nhìn chung trẻ em Việt Nam hiện nay
đang được hưởng một cuộc sống với các điều kiện
vật chất tốt hơn trước nhưng đồng thời các em cũng
đang phải đối mặt với nhiều yếu tố nguy cơ đối với
sức khỏe tâm thần. Nghiên cứu này góp phần cung
cấp một số bằng chứng về các yếu tố nguy cơ và bảo
vệ đối với vấn đề trầm cảm và lo âu - hai vấn đề
thường được đề cập khi nói đến sức khỏe tâm thần
không chỉ của trẻ em mà của cả người trưởng thành,
nhưng lại chưa được nghiên cứu nhiều ở qui mô
cộng đồng tại Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng
một số thang đo đã được đánh giá tính giá trò và độ
tin cậy. Đây là một trong những yếu tố đảm bảo
Nam
Không có
21.542
2.945 Có một
17.643ª
2.626 Có từ 2 trở lên
17.350ª
2.649 Hiện đang sống với ai
Với cả cha và mẹ đẻ
16.933ª
2.313 Với cha hoặc mẹ đẻ
12.693ª
4.134
Chứng kiến bố mẹ cãi nhau
Chưa bao giờ
17.217
2.719 Hiếm khi
18.031
2.663 Thỉnh thoảng/thường xuyên
21.288
2.725 Kết quả học tập
Giỏi 15.058ª
.033*
Bò trêu ghẹo/bắt nạt
9.046
.001*
3.238
.001*
Chăm sóc của mẹ
Bảo vệ quá mức của mẹ
2.870
.004*
2.530
.012*
Chăm sóc của cha
Bảo vệ quá mức của cha
.739
3.294
.070
Số anh chò em
.184
.832
.662
.516
Hiện đang sống với ai
.457
.634
8.352
.001*
Tình trạng hôn nhân của cha, mẹ
.001
.985
5.184
.023*
Trình độ học vấn của mẹ
1.350
.258
Tình trạng sử dụng ma túy của cha, mẹ
2.246
.135
.004
.948
Tìm sự hỗ trợ tình cảm
2.756
.028*
.773
.543
Cha mẹ cãi nhau
.787
.456
3.682
.026*
Cha mẹ đánh nhau
1.038
.355
.387
.697
Mâu thuẫn với anh chò em
20.932ª
1.509
Với cha hoặc mẹ đẻ 24.491ª
1.846
Không sống với cha mẹ đẻ 25.375
2.151
Tình trạng hôn nhân của cha mẹ
Sống với nhau 24.610
1.742
Không sống với nhau 22.589
1.650
Nghề nghiệp của cha
19.631ª
1.286 Anh chò em ruột
19.344ª
1.269 Bạn bè
19.741ª
1.279 Họ hàng và những người khác
19.912 ª
1.272 Không ai cả
18.112
1.248 Chứng kiến bố mẹ cãi nhau
Chưa bao giờ
23.769ª
1.648
Thường xuyên 24.171ª
1.852
Bảng 5. Các nhóm có liên quan với lo âu (với điểm
trung bình và SE) (với cả nam và nữ
học sinh)
Ghi chú: a - Sự khác biệt có ý nghóa thống kê (p >0.05)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Tạp chí Y tế Công cộng, 9.2009, Số 13 (13) 15
được chất lượng của nghiên cứu và tạo điều kiện
cho việc so sánh kết quả với các nghiên cứu khác
trong lónh vực này.
Nghiên cứu cũng cho thấy có nhiều yếu tố liên
quan với trầm cảm và lo âu của cả nam và nữ học
sinh. Một số yếu tố có ảnh hưởng tích cực (yếu tố
bảo vệ) và một số có ảnh hưởng tiêu cực (yếu tố
nguy cơ). Sự gắn kết với nhà trường và mối quan
tâm chăm sóc của cha, mẹ là yếu tố bảo vệ làm
giảm sự trầm cảm và lo âu của học sinh vò thành
niên. Điều quan trọng là sự quan tâm của cha có ảnh
hưởng tới sức khỏe tâm thần của các em nam còn
sự quan tâm của mẹ có ảnh hưởng tới các em nữ.
Kết quả này là nhất quán với công bố của một số
nghiên cứu ở nước ngoài. Rigby, Slee và Martin
Nghiên cứu này không tìm thấy mối liên quan
có ý nghóa thống kê giữa tình trạng sử dụng rượu,
ma túy của cha/mẹ và việc cha mẹ ly hôn với sức
khỏe tâm thần của trẻ. Kết quả này là rất khác với
các nghiên cứu tương tự ở các nước phương Tây.
Các nghiên cứu này đều cho thấy việc bố/mẹ
nghiện rượu, sử dụng ma túy, cha mẹ đánh/cãi nhau
hoặc ly dò/ly thân có ảnh hưởng rất lớn, làm tăng
triệu chứng của trầm cảm và lo âu ở trẻ vò thành
niên [13;18;20]. Sự khác biệt giữa kết quả của
nghiên cứu này với nghiên cứu của các quốc gia
phát triển có thể là do sự khác biệt về văn hóa, với
bối cảnh văn hóa Việt Nam tỷ lệ ly hôn, nghiện ma
túy và nghiện rượu ở khu vực các trường triển khai
nghiên cứu này là khá thấp. Tỷ lệ vò thành niên
sống cùng cha và mẹ trong nghiên cứu này là trên
90% và tỷ lệ có cha/mẹ sử dụng ma túy là dưới 1%.
Tuy vậy, trong tương lai mô hình này có thể thay đối
cùng với những tác động tiêu cực của sự phát triển
trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra mối
liên quan giữa nghèo đói và sức khỏe tâm thần của
người lớn và vò thành niên, đặc biệt là với nữ giới
[12;15]. Tuy nhiên, nghiên cứu này lại không tìm
thấy mối liên quan có ý nghóa thống kê giữa kinh tế
gia đình và trầm cảm, lo âu của vò thành niên. Điều
này có thể là do việc phân loại tình trạng kinh tế gia
đình trong nghiên cứu này dựa trên câu hỏi trung
gian về sở hữu ô tô, xe máy hay xe đạp là chưa đủ
độ nhạy để đánh giá mức độ kinh tế của hộ gia đình.
trường Đại học Y tế Công cộng trong lónh vực khoa học
xã hội và sức khỏe sinh sản". Chúng tôi xin gửi lời cảm
ơn đến lãnh đạo trường Đại học Y tế Công Cộng và hai
trường Trung học cơ sở ở Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều
kiện và tham gia vào quá trình nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
1. Trần Văn Cường (2002), Điều tra dòch tễ học lâm sàng
một số bệnh tâm thần thường gặp ở các vùng kinh tế xã hội
khác nhau của nước ta hiện nay (Báo cáo đề tài cấp Bộ).
2. Lê Thò Kim Dung (2007), Bước đầu tìm hiểu một số yếu
tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở một số
trường trung học cơ sở thuộc một số thành phố (Đề tài nghiên
cứu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mã số B2003-49-61).
3. Nguyễn Viết Thiêm (2002), Sức khỏe tâm thần cộng đồng
- Tài liệu đào tạo sau đại học., Đại học Y Hà Nội.
4. WHO (1998), Ủng hộ các chính phủ và các nhà hoạch đònh
chính sách (tài liệu dòch từ nguyên bản tiếng Anh).
Tiếng Anh
5. California Department of Education (2004), California
Healthy Kids Survey, California Safe and Healthy Kids
Program Office.
6. Cho, H., Hallfors, D. D., and Sanches, V., (2005),
"Evaluation of a High School Peer Group Intervention for
At-Risk Youth. " Journal of Abnormal Child Psychology,
33, No.3 (June 2005)pp. 363-374.
7. Forero R, M. L., Rissel C, Bauman A. (1999), " Bullying
behaviour and psychosocial health among school students in
New South Wales, Australia: cross sectional survey." British
Medical Journal, pp. 344-349.
adolescent mental health." Journal of Adolescence, 30pp.
801-812.
18. Spence, S., Najman, J., Bor, W., O'Callaghan, M., &
Williams, G., (2002), "Maternal anxiety and depression,
poverty and marital relationship factors during early
childhood as predictors of anxiety and depressive symptoms
in adolescence." Journal of Child psychology and
psychiatry, 43(4)pp. 457-469.
19. Tran T., P. L., & Harpham T., (2003), Young Lives
Premilinary Country Report: Viet Nam. An International
Study of Childhood Poverty.
20. Videon, T. M. (2002), "The Effects of Parent-
Adolescent Relationships and Parental Separation on
Adolescent Well-Being. " Journal of Marriage and Family,
64(May 2002)pp. 489-503.
21. WHO (2001), The World Health report 2001 - Mental
Health: New Understanding, New Hope.
22. WHO (2005), Mental Health policy and Service
Guidance Package - Child and Adolescent Mental Health
Policies and Plans. Nguồn:
http://www.who.int/mental_health/policy/en/Child%20%20
Ado%20Mental%20Health_final.pdf (truy cập ngày
12/04/2007).