Các phương pháp lập bản đồ di truyền người - Pdf 11

Các phương pháp lập bản
đồ di truyền người 1. Phân tích liên kết (Linkage analysis)

Sự trao đổi chéo giữa các locus trên cùng nhiễm sắc thể có thể tạo ra tái tổ
hợp. Việc đánh giá tần số tái tổ hợp có thể thực hiện dựa vào quan sát sự di
truyền các allele trong các gia đình. Sự xác định các phase liên kết (có nghĩa
là nhiễm sắc thể mà trên đó mỗi một allele được định vị) là một phần quan
trọng của phương pháp này.
Mặc dù có sự tương quan giữa centiMorgan và khoảng cách vật lý thật sự
giữa các locus, mối quan hệ này bị phức tạp do các sai khác về giới tính trong
tái tổ hợp, các tần số tái tổ hợp cao hơn ở gần các telomere và sự tồn tại của
các điểm nóng tái tổ hợp (recombination hot spots).
Sự sai khác về thống kê của 2 locus có thể được tính toán bằng cách tính tỉ số
của hai hợp lẽ (likelihood): hợp lẽ của liên kết ở tần số tái tổ hợp đã cho chia
cho hợp lẽ của không liên kết. Logarithm của tỉ số sai khác này được ký hiệu
là LOD (logarithm of odds). LOD>0,3: có liên kết; LOD<-0,2: không liên
kết.
Khoảng cách giữa các locus được tính bằng đơn vị centiMorgan (cM). 1 cM
tương ứng với tần số tái tổ hợp xấp xỉ 1%.
Phân tích liên kết cho phép chúng ta xác định được khoảng cách tương đối
giữa các locus nhưng không xác định được các vị trí đặc trưng với marker
hoặc các gene bệnh.
2. Các phương pháp lập bản đồ vật lý (physical mapping) 2.1. Phương pháp lập bản đồ mất đoạn (delection mapping)

Karyotype của các bệnh nhân mắc bệnh di truyền thỉnh thoảng được phát

2.3. Lai tế bào soma
Các tế bào soma của các loài khác nhau khi sinh trưởng trong cùng môi
trường nuôi cấy với sự có mặt của một số tác nhân như polyethylene glycol
hoặc virus Sendai, thỉnh thoảng sẽ dung hợp với nhau tạo thành các tế bào lai.
Khi lai các tế bào chuột và tế bào người với nhau sẽ thu được các tế bào lai
chứa 86 nhiễm sắc thể : 46 nhiễm sắc thể người và 40 nhiễm sắc thể chuột.
Sau đó các tế bào lai được phép sao chép. Các tế bào này bắt đầu mất đi một
số nhiễm sắc thể người khi chúng trải qua quá trình nguyên phân. Cuối cùng
các tế bào còn lại bộ nhiễm sắc thể đầy đủ của chuột và chỉ một hoặc một số
nhiễm sắc thể người. Các tế bào này được lập karyotype để xác định nhiễm
sắc thể nào của người còn lại (nhiễm sắc thể của người và chuột có thể được
phân biệt với nhau dựa vào kích thước và các phương pháp hiện băng). Sau
đó các tế bào này được nghiên cứu để xác định tế bào nào mang gene thích
hợp đang nói đến. Ví dụ nếu gene luôn luôn được tìm thấy trong các tế bào
chứa nhiễm sắc thể số 1 của người nhưng chưa bao giờ được phát hiện trong
các tế bào không mang nhiễm sắc thể số 1, chúng ta có thể kết luận rằng gene
này phải được định vị trên nhiễm sắc thể số 1.
Sự có mặt của gene trong tế bào lai có thể được phát hiện bằng một số
phương pháp. Nếu gene mã hoá một enzyme được sản xuất ra bởi tế bào thì
một xét nghiệm enzyme có thể được sử dụng. Điện di protein được sử dụng
để nhận ra một sản phẩm protein người và để phân biệt nó với sản phẩm
protein tương đương của chuột. Tuy nhiên các phương pháp này yêu cầu một
sản phẩm protein đã biết phải được phát hiện. Thông thường hơn, hiện nay
các nhà nghiên cứu kiểm tra sự lai của các dòng tế bào dung hợp với một
mẫu dò đánh dấu phóng xạ mang DNA quan tâm bằng cách sử dụng phương
pháp Southern blotting hoặc kỹ thuật PCR.
2.4. Lập bản đồ lai phóng xạ (Radiation hybrid mapping)

Phương pháp này bắt đầu với một thể lai tế bào soma chứa một nhiễm sắc thể
đơn của người. Sau đó các tế bào này được chiếu với tia X hoặc tia - để làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status