Tài liệu Các phương pháp lập bản đồ di truyền người doc - Pdf 98


Các phương pháp lập bản đồ
di truyền người 1. Phân tích liên kết (Linkage analysis)
Sự trao đổi chéo giữa các locus trên cùng
nhiễm sắc thể có thể tạo ra tái tổ hợp. Việc
đánh giá tần số tái tổ hợp có thể thực hiện
dựa vào quan sát sự di truyền các allele
trong các gia đình. Sự xác định các phase
liên kết (có nghĩa là nhiễm sắc thể mà trên
đó mỗi một allele được định vị) là một phần
quan trọng của phương pháp này.
Mặc dù có sự tương quan giữa centiMorgan
và khoảng cách vật lý thật sự giữa các locus,
mối quan hệ này bị phức tạp do các sai khác
về giới tính trong tái tổ hợp, các tần số tái tổ
hợp cao hơn ở gần các telomere và sự tồn tại
của các điểm nóng tái tổ hợp (recombination
hot spots).

Sự sai khác về thống kê của 2 locus có thể
được tính toán bằng cách tính tỉ số của hai
hợp lẽ (likelihood): hợp lẽ của liên kết ở tần
số tái tổ hợp đã cho chia cho hợp lẽ của
không liên kết. Logarithm của tỉ số sai khác
này được ký hiệu là LOD (logarithm of
odds). LOD>0,3: có liên kết; LOD<-0,2:
không liên kết.
Khoảng cách giữa các locus được tính bằng

đoạn bị mất đủ lớn để có thể quan sát dễ
dàng dưới kính hiển vi và xảy ra trên cả hai
nhiễm sắc thể của cặp tương đồng thì
thường gây chết.
2. 2. Phương pháp lai tại chỗ (In situ
hybridization)
Đoạn DNA thu được từ marker đa hình hoặc
gene bệnh mà chúng ta muốn biết vị trí được
tạo dòng với mẫu dò (probe) bằng kỹ thuật
DNA tái tổ hợp. Mẫu dò được đánh dấu với
chất phóng xạ như tritium chẳng hạn. Sau đó
mẫu dò được đặt vào một màng lai chứa
nhiễm sắc thể kỳ giữa mà DNA của nó đã
biến tính. Mẫu dò phóng xạ sẽ bắt cặp bổ
sung với DNA đã biến tính của đoạn nhiễm
sắc thể đặc trưng. Bởi vì mẫu dò phát ra bức
xạ nên vị trí của nó có thể được xác định
một cách chính xác bằng cách đặt một phim
nhạy cảm tia X lên trên màng lai (phóng xạ
tự ghi (autoradiography)).
Phương pháp lai tại chỗ sử dụng các mẫu dò
phóng xạ thường diễn ra chậm và mức phân
tích khá thấp (2-5 Mb). Kỹ thuật FISH
(fluorescence in situ hybridization) sử dụng
mẫu dò huỳnh quang thay cho mẫu dò
phóng xạ là nhanh hơn và cho phép phân
tích vùng của mẫu dò tốt hơn, thường là ở
trong khoảng 1 Mb đối với nhiễm sắc thể kỳ
giữa. Bằng cách sử dụng nhiễm sắc thể kỳ
trung gian, các nhiễm sắc thể ở kỳ này kết

trên nhiễm sắc thể số 1.
Sự có mặt của gene trong tế bào lai có thể
được phát hiện bằng một số phương pháp.
Nếu gene mã hoá một enzyme được sản xuất
ra bởi tế bào thì một xét nghiệm enzyme có
thể được sử dụng. Điện di protein được sử
dụng để nhận ra một sản phẩm protein người
và để phân biệt nó với sản phẩm protein
tương đương của chuột. Tuy nhiên các
phương pháp này yêu cầu một sản phẩm
protein đã biết phải được phát hiện. Thông
thường hơn, hiện nay các nhà nghiên cứu
kiểm tra sự lai của các dòng tế bào dung hợp
với một mẫu dò đánh dấu phóng xạ mang
DNA quan tâm bằng cách sử dụng phương
pháp Southern blotting hoặc kỹ thuật PCR.
2.4. Lập bản đồ lai phóng xạ (Radiation
hybrid mapping)
Phương pháp này bắt đầu với một thể lai tế
bào soma chứa một nhiễm sắc thể đơn của
người. Sau đó các tế bào này được chiếu với
tia X hoặc tia -> để làm đứt gãy sợi kép
nhiễm sắc thể. Bức xạ này giết chết tế bào vì
vậy chúng phải được dung hợp với tế bào
động vật gặm nhấm để tồn tại. Một số tế bào
lai được tạo ra gọi là các thể lai phóng xạ
(radiation hybrid) mang các đoạn nhỏ nhiễm
sắc thể người đã lai với nhiễm sắc thể gặm
nhấm. Sự có mặt của nhiễm sắc thể người có
thể được phát hiện bằng sự sàng lọc đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status