Mô hình phân phối đa cấp – Giải pháp phân phối mới cho các nhà quản trị - Pdf 11

MỤC LỤC
Trang
Công ty Sinh Lợi ......................................................................................................... 29
Công ty cổ phần Sinh Lợi (TP Hồ Chí Minh) cũng là một trong những công ty bán
hàng đa cấp đang tồn tại ở Việt Nam. Hình thức hoạt động của công ty là giới thiệu
với mọi người về những khoản hoa hồng và lợi ích của người làm thành viên cảu
Sinh Lợi được hưởng. Tuy nhiên để được làm thành viên của công ty thì người muốn
tham gia phải mua một trong hai sản phẩm là máy tạo khí ozon 3 triệu đồng hoặc
máy mát xa 6 triệu đồng. Thành viên của công ty cũng có được hoa hồng nếu giới
thiệu người khác mua sản phẩm. Trên thị trường thì giá của máy ozon chỉ khoảng 1,2
triệu đồng và giá của máy mát xa là 2,4 triệu đồng. .................................................... 29
3.3 Hậu quả của những mô hình không đúng cách: ........................................... 29
\4.1 Đối với doanh nghiệp ................................................................................... 33
4.2 Đối với người tham gia, người tiêu dùng ..................................................... 34
4.3Từ phía Chính phủ ......................................................................................... 37
4.4 Đối với xã hội ............................................................................................... 38
1
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian khoảng mười năm trở lại đây, có một hình thức phân
phối mới trong kinh doanh du nhập vào Việt Nam được gọi dưới nhiều
cái tên như : bán hàng đa cấp, kinh doanh theo mạng, kinh doanh đa
cấp…
Hiện nay hình thức kinh doanh này mặc dù được du nhập cũng khá
lâu nhưng vẫn là 1 đề tài mang tính nóng hổi, gây nhiều tranh cãi trong cả
nước. Lợi dụng sự hiểu biết còn hạn chế của người dân đã có một số cá
nhân và tổ chức cố tình làm sai lệch hình thức kinh doanh này để thu lợi
bất chính. Bằng cách xây dựng những mô hình ảo, quảng bá sai sự thật,
thu hút người vào mạng lưới lừa đảo chúng đã phần nào tạo nên sự bất ổn
định trong 1 số bộ phận dân cư. Đã có rất nhiều bài viết, phóng sự về
những trường hợp lừa đảo nhưng vẫn còn có rất nhiều người bị lôi kéo

- Một vài công ty và tổ chức đang kinh doanh theo mô hình phân
phối đa cấp tại Việt Nam
- Các cá nhân tham gia làm nhà phân phối trong hệ thống phân phối đa
cấp.
• Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp.
- Phương pháp điều tra, chọn mẫu.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
• Phạm vi nghiên cứu:
- Xuất xứ của mô hình kinh doanh.
- Một số mô hình kinh doanh chính thức tại nước ngoài.
- Một số cá nhân nước ngoài thành công với hình thức kinh doanh
này.
3
- Một số công ty kinh doanh đa cấp tại Việt Nam.
- Các cá nhân tham gia vào mạng lưới phân phối đa cấp
4. Kết cấu của đề tài:
Ngoài 2 phần mở đầu và kết luận, đề án bao gồm những nội dung cơ
bản sau:
- Tổng quan về Kinh doanh đa cấp trên thế giới.
- Kinh doanh đa cấp tại Việt Nam - Tiềm năng, thực trạng và giải
pháp.
4
NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ MLM TRÊN THẾ GIỚI:
1. Xuất xứ của kinh doanh đa cấp:
Trên 50 năm trước, Karl Renborg, một công dân Mỹ đã thành lập
công ty Nutrilite Productc, Inc. Công ty này hoạt động tương tự như các
công ty kinh doanh theo mạng ngày nay. Và có thể coi ông là ông tổ của
mô hình kinh doanh theo mạng. Công ty do ông thành lập hoàn toàn

“Kinh doanh theo mạng là một hình thức kinh doanh sử dụng những
người hợp thành một tổ chức để lưu hành hàng hoá và dich vụ từ điểm
sản xuất đến người tiêu dùng bằng phương pháp tiếp xúc giữa con người
với con người”.
Theo Luật cạnh tranh của Việt Nam (Điều 3 khoản 11), ban hành
ngày 9/11/2004 và có hiệu lực từ 1/7/2005 và Nghị Định 110/2005/NĐ-
CP ban hành ngày 24 tháng 8 năm 2005 có hiệu lực từ ngày 8/9/2005
(đính kèm phụ lục) thì BHĐC được định nghĩa như sau:
“Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá đáp ứng
các điều kiện sau đây:
Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hoá được thực hiện thông qua mạng lưới
người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác
nhau;
Hàng hoá được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa
điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh
nghiệp hoặc người tham gia;
6
Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền
thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết qủa tiếp thị bán hàng của mình
và của người tham gia bán hàng đa cấp dưới trong mạng lưới do mình
tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp
thuận.”
3.Các đặc trưng cơ bản và sơ đồ của mô hình kinh doanh đa cấp:
3.1 Bán hàng đa cấp là một hình thức phát triển của bán hàng trực tiếp.
Như chúng ta đã biết, bán hàng trực tiếp là phương thức phân phối
hàng hoá không qua bất kỳ một cấp trung gian nào. Mọi hoạt động sản
xuất, phân phối hàng hoá đến tay người tiêu dùng đều do nhà sản xuất
đảm nhiệm thông qua mạng lưới những người bán hàng trực tiếp. Các
hãng như Dell – bán máy tính trực tiếp cho khách hàng bằng đội ngũ

người… Trên thực tế thì con số này lớn hơn nhiều lần. Khi mô hình của
bạn hoạt động tốt sẽ tạo nên một phản ứng dây truyền liên tục .
8
Tầng 1
Tầng 2
Tầng 3
NPP
A
dạy cho
C
B
A
NPP
dạy cho
dạy cho
dạy cho
3.2 Bản chất của BHĐC là sao chép.
Trong mạng lưới, nhà phân phối độc lập đến trước phải sao chép lại
chính mình cho những người đến sau, và nhà phân phối đó sẽ trở thành
người đỡ đầu. Có nghĩa là nhà phân phối độc lập phải truyền lại cho
những người thuộc mạng lưới của mình một niềm đam mê vào công việc,
những kiến thức và kinh nghiệm về sản phẩm cũng như công việc, và họ
luôn mong muốn người đi sau giỏi hơn mình. Bản chất “sao chép” có thể
được minh hoạ theo sơ đồ sau:
Hình 2: Mô hình minh họa bản chất sao chép trong BHĐC
Theo hình a, nếu nhà phân phối
độc lập hướng dẫn cho người A nào
đó, nhưng A chưa thể dậy lại cho
người khác giống như nhà phân phối
được, nếu nhà phân phối cắt đứt

Bán
buôn
Trung
gian
Bán lẻ
Người
TD
Nhà SX
Kênh 3
Bán buôn
Người
TD
Bán
lẻ
Nhà SX
Kênh 1 Nhà SX Người TD
Kênh 2
Người
TD
Bán
lẻ
Nhà SX
-Kênh 2, hàng hoá được lưu thông qua một cấp trung gian là nhà bán
lẻ
-Kênh 3, có thêm một cấp trung gian là đại lý bán buôn.
-Kênh 4, gồm ba cấp trung gian là nhà bán buôn, trung gian, và nhà
bán lẻ.
Trên thực tế còn nhiều cấp trung gian hơn nữa, và càng nhiều cấp
trung gian thì việc kiểm soát càng trở nên khó khăn. Ở kênh 1 mặc dù
hàng hoá được bán trực tiếp đến người tiêu dùng, nhưng công ty phải

phân phối truyền thống
Tc:Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% - 80% Giá bán
Sản Phẩm
Sơ đồ 2: Hình thức phân phối hàng sx nội địa qua hệ thống PPTT
Tc:Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% - 80% Giá
Thành Sản Phẩm
12
Sở đồ 3: Hình thức phân phối hàng hóa qua hệ thống BHĐC
Trong hình thức phân phối truyền thống, thông thường các sản phẩm
sau khi được sản xuất ra tại nhà máy sẽ được phân phối đến các đại lý
khu vực, đại lý bán sỉ, đại lý bán lẻ, rồi sau đó mới đến tay người tiêu
dùng. Trong trường hợp nếu sản phẩm đó là nhập khẩu thì sẽ thêm một
khâu trung gian nữa đó chính là nhà nhập khẩu sản phẩm. Để kiếm được
lợi nhuận thì các nhà kinh doanh thường phải tăng giá ở các khâu trung
gian. Phần tăng thêm này chính là hoa hồng trả cho các khâu trung gian.
Thông thường các khâu này chiếm từ 30% - 40% giá bán ra của một sản
phẩm. Bên cạnh đó người tiêu dùng còn phải chịu một khoản chi phí khác
nữa, đó là chi phí dành cho quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền và khuyến
mãi. Khoản chi phí này thường chiếm khoảng 40% giá bán ra của một sản
phảm.
Ví dụ như chi phí quảng cáo trên Tivi vào giờ cao điểm là khoảng
38 triệu VNĐ cho 30 giây trên kênh VTV1, hoặc từ 3-5 triệu VNĐ trên
các đài địa phương. Hay chi phí quảng cáo trên báo Lao Động là 8 triệu
cho một trang báo…
Mà theo các chuyên gia thi một thông điệp quảng cáo muốn tạo
được ấn tượng nơi người xem sẽ thường xuyên phải quảng cáo từ 4 -10
lần trong 1 ngày và kéo dài liên tục trong nhiều tháng. Như vậy chi phí
quảng cáo là rất lớn cộng với việc tăng giá thành ở các khâu trung gian sẽ
làm cho giá của sản phẩm tăng từ 70 - 80%. Trong khi đó giá thành sản
xuất ra một sản phẩm tại nhà máy chỉ chiếm khoảng 20 – 30% mà thôi.

20% - 30%
20% - 30%
5% - 10%
60% - 70%
60% - 70%
một lượng hoa hồng tích lũy lớn, chính vì vậy người ta nhầm tưởng đây
là hình thức phân phối qua nhiều cấp trung gian.
5. Sự khác biệt giữa MLM và Bán hàng trực tiếp
Đa số các chuyên gia đều công nhận rằng Kinh doanh theo mạng là
một phần của của khái niệm bán hàng trực tiếp trong đó các sản phẩm
hoặc dịch vụ được phân phối trên cơ sở trực tiếp giữa người và người và
được người bán bán hàng bán cho người tiêu dùng.Tuy nhiên, hai khái
niệm này trên thực tế lại tạo ra kiểu hành vi rất khác nhau đối với những
người bán hàng.
Những công ty bán hàng trực tiếp được biết đến với đặc trưng dựa
trên“ người bán”, có nghĩa rằng họ chiết khấu phần trăm hoa hồng sẵn có
cho nhà phân phối hàng hoá trong việc bán lẻ cao hơn người quản lý công
việc của họ.
Những công ty bán hàng trực tiếp thường quảng bá các loại hàng
hoá có giá cao hơn, mục đích sử dụng lâu dài, bền như những bộ lọc nước
và không khí, nồi nấu ăn, các vật dụng trang trí nhà cửa hoặc vật dụng gia
đình, vân vân hơn là sản phẩm tiêu dùng thường xuyên.
Các loại sản phẩm do các công ty bán hàng trực tiếp phân phối
thường giới hạn tiềm năng thu nhập thặng dư. Rõ ràng điều này cũng có
những ngoại lệ như thu nhập thặng dư từ bán bảo hiểm, nhưng thường thì
với các mặt hàng là hàng tiêu dùng thường xuyên, người bán hàng phải
dựa vào người bán hàng kế tiếp lẫn doanh số tiềm năng. Các ngân phiếu
hoa hồng trực tiếp thường cao hơn so với trong KDTM, vì thế nhà phân
phối muốn nhanh chóng kiếm được tiền , thì bán hàng trực tiếp đúng là
một chiếc vé lựa chọn . Còn nếu muốn xây dựng một thu nhập thặng dư

lượng tốt với một mức giá rẻ nhờ vào hệ thống phân phối một
cấp trung gian. Hơn nữa, người tiêu dùng sẽ được hưởng những
dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt nhất như: hàng được mang đến
16

Trích đoạn Đối với người tham gia, người tiêu dùng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status