1
Chuyên đề tốt nghiệp
Danh mục từ viết tắt
NHTM : Ngân hàng thương mại
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD : Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
TSĐB : Tài sản đảm bảo
CN : Chi nhánh
NHN
0
&PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
RR : Rủi ro
CBNV : Cán bộ nhân viên
PGD : Phòng giao dịch
HĐQT : Hội đồng quản trị
TCCB : Tổ chức cán bộ
XDCB : Xây dựng cơ bản
TTQT : Thanh toán quốc tế
TG : Tiền gửi
TCKT : Tổ chức kinh tế
NQH : Nợ quá hạn
1
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
1
2
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ, đất nước ta sau hơn
20 năm tiến hành đổi mới đã đạt được những thành quả hết sức to lớn.
Đóng góp vào thành tựu đó của đất nước, không thể không kể tới vai trò
&PTNT chi nhánh Bách Khoa.
Song do thời gian thực tập còn hạn chế, sự hiểu biết về thực tế cũng
chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót trong chuyên đề này. Em rất
mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các cán bộ ngân hàng để bài
viết được hoàn chỉnh hơn.
2
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
2
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!CHƯƠNG 1. CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm
NHTM xuất hiện trước khi có chủ nghĩa tư bản, nghề ngân hàng bắt đầu
với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các thợ vàng. Người làm nghề đổi tiền
thường là người giàu, trước đó có thể đã làm nghề cho vay nặng lãi. Họ thường
có két tốt để cất giữ nhằm đảm bảo an toàn. Do yêu cầu cất trữ tiền của các
lãnh chúa, các nhà buôn… nhiều người làm nghề đổi tiền thực hiện luôn cả
nghiệp vụ cất trữ hộ. Trong điều kiện lưu thông tiền kim loại (bạc hoặc vàng)
các chủ cửa hàng vàng,s bạc vừa đổi tiền, thanh toán hộ, vừa đúc tiền và cho
vay nặng lãi. Họ là những người làm nghề kinh doanh tiền tệ hay còn gọi là
nhà buôn tiền. Do tính chất vô danh của tiền nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm
thời một phần tiền gửi của khách hàng để cho vay. Hoạt động này làm thay đổi
cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền- kẻ cho vay nặng lãi- thành nhà buôn tiền-
ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi của khách tạo nên lợi nhuận
lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu hút tiền gửi để cho vay bằng
cách trả lãi cho người gửi tiền. Bằng cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà
ngân hàng huy động được ngày càng nhiều tiền gửi là điều kiện để mở rộng
đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hi
sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để
kinh doanh.
NHTM hoạt động bằng cách “đi vay để cho vay” khoản chênh lệch lãi
suất, sau khi đã trừ đi những chi phí khác là lợi nhuận của khách hàng. NHTM
có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền gửi của các
doanh nghiệp và cá nhân với các lãi suất khác nhau như tiền gửi có kỳ hạn, tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Ngoài ra, khi cần thêm vốn ngân hàng có thể huy động bằng cách phát
hành các chứng chỉ tiền gửi hay vay vốn của ngân hàng trung ương hoặc các tổ
chức tín dụng khác.
1.1.2.2. Sử dụng vốn
Sử dụng vốn là nghiệp vụ kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng. Vốn mà NHTM sử dụng để cho vay xuất phát từ nguồn vốn mà
ngân hàng huy động được từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong
việc tạo ra khả năng tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện các chức năng
xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng
và từ đó dẫn đến lợi nhuận nhiều hơn, đời sống kinh tế của nhân dân được
4
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
4
5
Chuyên đề tốt nghiệp
nâng cao. Rõ ràng tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ
hoạt động của nền kinh tế. Nó tạo ra khả năng tài trợ cho hoạt động công
nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp của đất nước.
1.1.2.3. Các hoạt động khác
*Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng
6
Chuyên đề tốt nghiệp
đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và
tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lời
và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để thanh toán.
* Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ
ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác
phát triển sang cả uỷ thách vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thách phát hàng, uỷ
thác đầu tư… Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn
tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành
lập, mua bán, sát nhập doanh nghiệp.
* Cung cấp các dịch vụ đại lý
Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh
hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn)
cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ,
phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
Ngoài các nghiệp vụ chủ yếu ở trên các ngân hàng thương mại còn thực
hiện các nghiệp vụ: Tài trợ các hoạt động của chính phủ, cho thuê thiết bị
chung và dài hạn, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm và môi giới đầu tư chứng
khoán.
1.2. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Khái niệm tín dụng
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh Credium, có nghĩa là một sự
tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác, đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ
nhân gian Việt Nam thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có
hoàn trả cả gốc và lãi.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, các khái niệm
lại cho người cho vay.
Người sở hữu
Người sử dụng
Cho vay
Hoàn trả
Người cho vay Người đi vay
Sơ đồ 1.1. Chu kỳ vận động tín dụng
1.2.1.2. Phân loại tín dụng Ngân hàng thương mại
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách
hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại:
7
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp
*Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả
năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
- Tín dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống;
- Tín dụng trung hạn: Từ trên 1 năm đến 5 năm;
- Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm
Có khoản cho vay không xác định trước thời hạn như cho vay luân
chuyển. Khách hàng thoả thuận với ngân hàng về việc ngân hàng được quyền
trích tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi tài khoản có tiền.
Việc xác định trước thời hạn thu nợ trong trường hợp này có thể gây ra khó
khăn cho khách hàng trong việc tiêu thụ sản phẩm.
*Phân loại theo hình thức
Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê
Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách
ro theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm
cả nội và ngoại bảng, cho vay, bảo lãnh chứng khoán. Cách phân loại này giúp
ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích
lập dự phòng tổn thất kịp thời.
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản
thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
*Phân loại khác
Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…)
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá
trong cấp tín dụng của ngân hàng.
1.2.1.3. Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ
thể hoá trong các quy định của ngân hàng Nhà nước và các NHTM.
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác
định. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển.
9
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp
- Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả
Cho vay
Tài sản khác
180
420
1600
300
5%
10%
0
Tiền gửi
Đi vay
Nguồn khác
Vốn và quỹ
1800
500
100
100
10%
12%
9%
Nếu thu khác và chi khác dự kiến là 18 và 30, lãi suất cho hoà vốn (Lợi
nhuận = 0) là:
(249 – 51 + 30 – 18) = 0,13125, có nghĩa là nếu ngân hàng cho vay với
lãi suất bình quân là 13,125% thì thu nhập ròng bằng không. Để ROE (thu
nhập ròng sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân) đạt 15% trong điều kiện
thuế suất thu nhập là 40%, lãi suất cho vay bình quân phải là:
10
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
10
11
tạo ra lợi nhuận trong tương lai.
Để hỗ trợ cho ngân hàng và khách hàng, các luồng tiền trong tương lai-
phụ thuộc vào kế hoạch chi tiêu trong tương lai- cần được dự kiến.
11
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp
- Sử dụng các tỉ lệ: bao gồm tỉ lệ thanh khoản, tỉ lệ sinh lời, tỉ lệ rủi ro, tỉ
lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn sở hữu
- Các điều kiện kinh tế
Các kết quả phân tích trên cho ngân hàng thấy một phần quá khứ và hiện
tại của khách hàng. Điều ngân hàng quan tâm hơn là khả năng trong tương lai
của khách hàng, có thể là trong mấy tháng hoặc mấy năm. Thời hạn càng dài,
dự đoán càng khó chính xác, đó là do tác động của các điều kiện kinh tế, thiên
tai, các thay đổi bất thường trong đời sống, chính trị, khủng hoảng kinh tế
vùng, quốc gia, sự sa sút đột ngột của ngành… làm thay đổi các tính toán ban
đầu dẫn đến giảm hoặc mất khả năng trả nợ của khách hàng. Tổn thất của
khách hàng đến tổn thất của khách hàng chỉ trong gang tấc.
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng tín dụng
Nội dung chính của hợp đồng tín dụng
+ Khách hàng: Họ tên, địa chỉ, tư cách pháp nhân (nếu có)
+ Mục đích sử dụng: Khách hàng phải ghi rõ vay để làm gì
+ Số lượng tín dụng: Là số tiền (hoặc hạn mức tín dụng) ngân hàng cam
kết cấp cho khách hàng
+ Lãi suất: Hợp đồng tín dụng phải ghi rõ lãi suất mà khách hàng trả
đồng thời xác định tính chất của lãi suất (là lãi suất cố định hay biến đổi trong
suất kỳ hạn tín dụng). Nếu lãi suất có thay đổi thì phải xác định rõ các điều
kiện thay đổi đó.
+ Phí: Để có được các cam kết tín dụng có thể khách hàng phải trả cho
trình ngân hàng thu thập thêm các thông tin bổ sung cho các thông tin ở bước 1
và ra các quyết định cụ thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu.
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các
khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an
toàn. Một số trường hợp, các khoản tín dụng đã không hoàn trả hoặc không
hoàn trả đúng hạn. Việc thanh toán nợ không đúng hạn cho ngân hàng cho thấy
các “trục trặc” trong hoạt động của khách hàng. Việc xem xét, tìm nguyên
nhân là rất quan trọng để giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các quyết định mới
liên quan đến tính an toàn của khoản tín dụng.
+ Trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ nần dây
dưa, hoặc làm ăn yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp
dụng phương án thanh lí, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi
khoản nợ, bao gồm phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản
tiền gửi.
+ Trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết
tìm cách khắc phục để trả nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác,
bao gồm gia hạn nợ, giảm lãi hoặc cho vay thêm.
1.2.1.7. Rủi ro tín dụng
*Khái niệm rủi ro tín dụng
13
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho
ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả
đầy đủ vốn và lãi.
*Các nguyên nhân và dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
14
15
Chuyên đề tốt nghiệp
nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn
mức thấu chi.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu
chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong
quá trình hoạt động, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ séc…
vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách
hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi
mà ngân hàng phải trả:
Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi
*Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách
hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ.
Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
*Cho vay luân chuyển
Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Doanh nghiệp
khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và sẽ
thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Việc cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu
chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong thời gian tới.
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho
vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài
trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán
hoá và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng)
có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả)
hoặc mang đến ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.
* Nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng thương mại
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư
bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân
hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết.
Các loại bảo lãnh phân theo mục tiêu:
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (bảo lãnh vay vốn)
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán
* Nghiệp vụ cho thuê tài chính
16
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
16
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn.
Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng
phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi (thời hạn
khoảng 80- 90% đời sống kinh tế của tài sản). Hết hạn thuê, khách hàng có thể
mua lại tài sản đó.
* Cho vay tiêu dùng
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng để mua hàng trả góp hàng
hoá lâu bền như xe máy, nhà cửa… phương thức cho vay có thể cho vay trực
tiếp đối với người mua hoặc thông qua tài trợ cho các doanh nghiệp bán lẻ
hàng lâu bền, các công ty xây dựng để các doanh nghiệp này bán hàng trả góp.
Ngân hàng có thể tài trợ (hoặc đồng tài trợ) toàn bộ hoặc một phần giá trị hàng
cho vay phải đáp ứng kịp thời, thuận tiện, chính xác, đầy đủ và an toàn nhu cầu
vay vốn của khách hàng; tiến hành thực hiện các bước kiểm tra, giám sát trogn
quá trình sử dụng vốn nhằm tạo điều kiện để người vay thực hiện thành công
và có hiệu quả dự án vay vốn.
- Đối với người đi vay, sau khi đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời, thuận tiện số
vốn vay theo nhu cầu, phải thực hiện sử dụng vốn đúng mục đích và các điều
kiện sử dụng vốn khác theo cam kết; tìm mọi biện pháp hạn chế đến mức thấp
nhất ảnh hưởng xấu của môi trường khách quan nhằm thu hút được hiệu quả
kinh doanh và xã hội lớn nhất; tạo điều kiện để thực hiện đúng các cam kết về
tính thời hạn và giá trị hoàn trả của khoản vốn vay.
- Hiệu quả của dự án vừa bảo toàn và mở rộng quy mô vốn cho các ngân
hàng hoạt động và phát triển, vừa tạo lợi ích kinh tế để người vay mở rộng quy
mô hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá
cho xã hội để phát triển nền kinh tế và đảm bảo các điều kiện vệ sinh môi
trường theo quy định. Chính vì vậy, chất lượng tín dụng có ý nghĩa và vai trò
rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng, đối với hoạt động doanh nghiệp và
toàn bộ nền kinh tế.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng thì có rất nhiều các chỉ tiêu khác nhau,
song thường sử dụng một số chỉ tiêu chính sau đây:
* Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng huy cho vay được nhiều hay ít, mối
quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng ra sao. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ ngân
hàng cho vay được nhiều, các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đa dạng và
phong phú.
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã
quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn chính là tỉ lệ giữa khoản nợ gốc quá hạn hoặc tính cả
tiền lãi quá hạn so với tổng dư nợ
1.3.1. Nhân tố chủ quan
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tín dụng, đảm bảo
cho các ngân hàng thương mại thực hiện các mục tiêu đã hoạch định nhưng vẫn
đảm bảo được an toàn và có hiệu quả.
Một chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp sẽ thu hút được nhiều khách
hàng mở rộng được cho vay, đảm bảo được khả năng sinh lời trên cơ sở tuân thủ
pháp luật, và lại phân tán được rủi ro. Bất cứ ngân hàng thương mại nào muốn
hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì đều phải có những chính sách tín dụng phù
19
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp
hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế. Chất lượng tín dụng sẽ tuỳ thuộc vào
việc xây dựng chính sách tín dụng của các ngân hàng thương mại.
* Công tác tổ chức của ngân hàng
Tổ chức của ngân hàng cần được cụ thể hoá và sắp xếp một cách khoa học,
đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, các bộ phận trong từng
ngân hàng nói riêng và toàn bộ hệ thống ngân hàng nói chung, tạo điều kiện đáp
ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp ngân hàng theo dõi quản lý sát sao các
mặt nghiệp vụ và kịp thời phát hiện giải quyết các vướng mắc về nghiệp vụ khi
cần thiết.
* Chất lượng nhân sự
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong quản lý vốn tín dụng
nói riêng và hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung. Nền kinh tế phát triển,
hoạt động của các ngân hàng thương mại càng đa dạng, phong phú về các sản
phẩm dịch vụ đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể sử dụng được
các máy móc, công nghệ hiện đại. Do vậy, việc tuyển chọn nhân sự cần được
kiểm tra, sát hạch kĩ lưỡng, cán bộ tín dụng phải là người có tư cách đạo đức tốt,
Chất lượng tín dụng còn phụ thuộc vào việc có chấp hành đúng quy trình
tín dụng hay không, và việc thực hiện các khâu trong quy trình tín dụng cũng như
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các giai đoạn như thế nào. Một khoản tín dụng
không thực hiện đúng quy trình sẽ gây hậu quả không tốt đến chất lượng tín dụng.
* Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng có tác động trực tiếp đến quyết định cho vay hay không
của ngân hàng. Xét trên tầm vĩ mô thì thông tin tín dụng là cơ sở, là yếu tố cơ bản
trong quản lý tín dụng của ngân hàng. Nó đánh giá chất lượng tín dụng và đưa ra
các dự báo về khả năng phát triển kinh tế. Thông tin càng đầy đủ, chính xác, kịp
thời thì khả năng phòng ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng cao, hoạt
động tín dụng mà không nắm bắt được thông tin thì ngân hàng khó có thể lường
hết được hậu quả nghiêm trọng đối với hoạt động tín dụng trong hoạt động kinh
doanh của mình.
* Kiểm tra, giám sát nội bộ
Thông qua công tác này, các nhà lãnh đạo ngân hàng nắm bắt được tình
hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, những khó khăn, những thuận lợi để từ
đó tự điều chỉnh, kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các thể lệ, chế độ, các quy
trình nghiệp vụ cho vay… Công tác này được các ngân hàng thương mại hết sức
quan tâm và coi trọng, xem đây là việc làm thường xuyên, từ đó phát hiện ra
những khe hở trong quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và bổ sung kịp thời để
xoá bỏ những khe hở đó.
* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng
Nền kinh tế phát triển đòi hỏi ngành ngân hàng phải được trang bị đầy đủ
các công nghệ thiết bị hiện đại, phù hợp với nhu cầu của xã hội và phục vụ kịp
thời yêu cầu của khách hàng về các mặt dịch vụ với chi phí cả hai bên đều chấp
nhận được. Mặt khác, các trang thiết bị này cũng giúp cho các nhà quản trị ngân
hàng kịp thời nắm bắt được mọi diễn biến của thị trường, các dự báo về khả năng
phát triển kinh tế và mọi hoạt động tín dụng để đưa ra được những chiến lược,
21
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
thành từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: nhu cầu của khách hàng- khả năng của
ngân hàng- sự tín nhiệm lẫn nhau giữa ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, chất
lượng tín dụng cũng được phụ thuộc vào 3 yếu tố trên, trong đó có sự tin tưởng là
cầu nối. Ngân hàng có uy tín cao thì khả năng thu hút vốn lớn, và ngược lại khách
hàng mà có tín nhiệm với ngân hàng thì sẽ được ưu đãi về lãi suất cho vay, thủ tục
vay cũng đơn giản hơn, vay vốn dễ dàng hơn. Như vậy, có thể nói, sự tín nhiệm
có tác động rất lớn đến chất lượng tín dụng ngân hàng.
22
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
22
23
Chuyên đề tốt nghiệp
Về phía khách hàng, là những tổ chức kinh tế, các hộ sản xuất với tư cách
là các nhà sản xuất kinh doanh có nhu cầu về vốn đầu tư, họ mong muốn được từ
ngân hàng một quan hệ giao dịch thuận lợi, nhanh chóng. Nếu sự tín nhiệm của
khách hàng với ngân hàng cao (biểu hiện ở tư cách đạo đức tốt, tài chính lành
mạnh, quan hệ tín dụng sòng phẳng…) thì những khoản tín dụng mà ngân hàng
cấp cho họ sẽ được kịp thời về thời gian, chất lượng tín dụng cũng được đảm bảo.
Về phía ngân hàng, là một đơn vị kinh tế với tư cách là người cung cấp vốn
cho các nhà sản xuất, thì trong trường hợp lòng tin bị lợi dụng để lừa đảo hoặc do
dân trí, trình độ hiểu biết chưa cao, làm ăn kém hiệu quả dẫn đến không trả nợ
được ngân hàng, và như vậy, lòng tin (sự tín nhiệm) đã tác động xấu đến chất
lượng tín dụng.
* Yếu tố tự nhiên
Đây là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch
bệnh… Khi xảy ra những điều này thường xuyên cũng sẽ tác động gây hậu quả
xấu đến ngân hàng và khách hàng, chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng theo.
23
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
23
& PTNT Việt Nam đã ra quyết
định số 123/QĐ/HĐQT-TCCB về việc “mở Chi nhánh Bách Khoa- Chi nhánh
cấp 2 loại 5 thuộc Chi nhánh NHN
o
& PTNT Láng Hạ”. Chi nhánh Bách Khoa
được thành lập đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của PGD Bách Khoa
trong năm đầu hoạt động.
Năm 2003, nâng cấp chi nhánh, mở rộng mạng lưới hoạt động, triển khai
chương trình hệ thống hoá Ngân hàng. Với sự tăng trưởng không ngừng của
Chi nhánh NHN
o
& PTNT Bách Khoa, ngày 20/02/2003 theo quyết định số
22/QĐ/HĐQT-TCCB của Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHN
o
& PTNT Việt
Nam một lần nữa quyết định nâng cấp Chi nhánh Bách Khoa từ cấp 2 loại 5
lên cấp 2 loại 4, đơn vị phụ thuộc NHN
o
& PTNT Láng Hạ, có con dấu để hoạt
động kinh doanh theo uỷ quyền của NHN
o
& PTNT Láng Hạ.
Được sự nhất trí của NHN
o
& PTNT Láng Hạ và công văn cho phép của
NHNN Thành phố Hà Nội số 631/NHNN-HNA7 ngày 20 tháng 09 năm 2005
v/v “Chuyển trụ sở Chi nhánh NHN
o
& PTNT Bách Khoa” (sau một loạt các
thủ tục và thoả thuận), Hợp đồng thuê Trụ sở được ký ngày 27/09/2006 giữa
683/QĐ/NHLH-TCCB thành lập Phòng Hành chính- Nhân sự thuộc Chi nhánh
Bách Khoa, và hoàn chỉnh tổ chức lãnh đạo của các phòng trong Chi nhánh,
từng bước ổn định về mọi mặt đáp ứng được nhiệm vụ kinh doanh, tạo uy tín,
vị thế trên địa bàn Thủ đô.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức- nhân sự
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy
Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành bao gồm: 1 Giám đốc, 2 Phó giám
đốc, cùng 33 nhân viên và 2 Phòng giao dịch
Tại Chi nhánh, lượng nhân viên được bố trí vào các phòng ban
sau:
+ Ban giám đốc
+ Phòng Tín dụng
+ Tổ thẩm định
+ Phòng Hành chính nhân sự
+ Phòng Giao dịch
+ Phòng Kế toán ngân quỹ
25
Lê Xuân Thắng Lớp: Ngân hàng 46Q
25