Lời mở đầu
Trong những năm vừa qua, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ không
ngừng tăng lên và đang dần khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc
dân. Hàng năm các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp khoảng 26% GDP, 31%
tổng sản lượng công nghiệp, thu hút 26% lực lượng lao động. Doanh nghiệp vừa
và nhỏ chiếm 97% tỷ trọng số lượng các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Đây là
khu vực được đánh giá là rất có tiểm năng phát triển kinh tế.
Nghị định số 90/NĐ-CP ngày 23-11-2002 của Chính phủ về trợ giúp phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nêu :" Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là
một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát tiển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa vả nhỏ phát huy tính chủ động sáng tạo,
nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học-công nghệ và nguồn lực..."
Nhận thức được điều này, trong thời gian qua các ngân hàng thương mại
đã chú trọng quan tâm đến các doanh nghiệp này. Nhất là khi môi trường kinh
doanh giữa các ngân hàng này càng trở nên khốc liệt thì việc nhắm tới các doanh
nghiệp vừa và nhỏ như là một đối tượng khách hàng đầy tiềm năng là chiến lược
phát triển tất yếu của các ngân hàng thương mại.
Nắm được chủ trưởng của Đảng và Nhà nước cũng như để bắt kịp với xu
hướng vận động của nền kinh tế, ngân hàng Công Thương Thanh Xuân trong
thời gian qua đã đẩy mạnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Và hoát
động này đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ nhưng cũng bộc lộ nhiều khó
khăn, hạn chế đòi hỏi ngân hàng phải nỗ lực tìm cách giải quyết để ngân hàng có
thể phát triển hơn nữa và tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy sau một
thời gian thực tập tại ngân hàng, em đã chọn đề tài :"Nâng cao chất lượng tín
1 1
dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Công thương Thanh
Xuân" cho chuyên đề tốt nghiệp.
Ngoài Lời mở đầu, Mục lục, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
Chuyên đề được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương I: Tín dụng ngân hàng và Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với
3 3
tiêu chí xác định riêng của mình. Như vậy việc phân loại doanh nghiệp vừa và
nhỏ chỉ mang tính tương đối và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Đối với Việt Nam, sau một thời gian nghiên cứu yêu cầu thực tế và học
hỏi kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, ngày 23/11/20011, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 90/NĐ-CP quy định lại tiêu chí để xác định doang nghiệp
vừa và nhỏ, như sau: " Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh
đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ
đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người ".
1.1.2_Đặc điểm
Đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là mối quan tâm của các
NHTM vì đây là đối tượng khách hàng ngày càng có vai trò quan trọng trong
hoạt động của các ngân hàng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ bên cạnh những hạn
chế còn có những mặt tích cực. Việc tìm hiểu đặc điểm của doanh nghiệp vừa và
nhỏ sẽ giúp cho hoạt động giữa NHTM và các doanh nghiệp này đạt được hiệu
quả cao.
a_Quy mô hoạt động nhỏ
Quy mô hoạt động của một doanh nghiệp thường được đánh giá dựa trên
hai tiêu chí cơ bản là số vốn hoạt động và số lượng lao động trung bình. Đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đăng kí là dưới 10 tỷ đồng và số lượng lao
động trung bình không quá 300 người. Do đó, có thể nói quy mô hoạt động của
những doanh nghiệp này là không lớn khi so sánh trong tương quan nền kinh tế.
Quy mô vốn nhỏ bé, nên hầu hết các doanh nghiệp này đều gặp khó khăn
về vốn. Việc tiếp cận với các nguồn tài chính khác với những doanh nghiệp này
cũng là một vấn đề nan giải. Nguồn vốn tự có thấp, khả năng tiếp cận với các
nguồn vốn từ những tổ chức tín dụng thấp đã khiến cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ gặp hàng loạt các khó khăn khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
4 4
b_Khả năng cạnh tranh thấp
Do đặc điểm lượng vốn hoạt động nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các
trường, từ các doanh nghiệp lớn và từ đối thủ.
Bên cạnh đó, chỉ cần một lượng vốn bổ sung không nhiều, các doanh
nghiệp này có thể dễ dàng đổi mới thiết bị và công nghệ hơn so với các doanh
nghiệp lớn. Ngoài ra, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ứng dụng được các kĩ
thuật tiên tiến kết hợp tự động hoá, cơ khí hoá với lao động thủ công, trên cơ sở
đó từng bước đổi mới công nghệ. Do đó các doanh nghiệp này có thể thay đổi
một cách linh hoạt theo xu hướng của thị trường mà không cần quá nhiều vốn
đầu tư. Tuy nhiên, vốn lại luôn là vấn đề khó khăn của các doanh nghiệp này, vì
vậy nếu được đánh giá đúng khả năng, có dự án khả thi thì việc đầu tư cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ đem lại lợi nhuận cao cho các NHTM
1.1.3_Vai trò của DNV&N
Khi nói đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia, chúng ta thường nghĩ
ngay đến các doanh nghiệp khổng lồ quen thuộc. Chẳng hạn như khi nói đến
nền kinh tế Nhật Bản thì người ta nghĩ ngay tới Mitsubishi, Toyota; nói đến Hàn
Quốc là Samsung...Trong khi đó, trên thực tế thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại
đóng một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.
a_Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
Do có lợi thế là chỉ cần một lượng vốn nhỏ cũng có thể thành lập được
công ty, nhà xưởng, mở văn phòng... với chi phí thấp, tính năng động và tính linh
6 6
hoạt cao, có khả năng thích ứng với những nhu cầu thường xuyên thay đổi của
thị trường nên ở các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam số lượng doanh
nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn chiếm khoảng hơn 90% tổng số các doanh nghiệp.
Thêm vào đó, phần lớn các doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực
thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông sản, xây dựng và
giao thông vận tải...., lại thường sử dụng công nghệ lạc hậu, nửa cơ giới nửa thủ
công do vậy khả năng thu hút lao động của các doanh nghiệp này là rất lớn. Ở
Việt Nam, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đóng góp hơn 25% GDP, 26%
việc làm thường xuyên và tạo ra 1,2 triệu việc làm mới mỗi năm. Trong khi đó
các doanh nghiệp lớn có kĩ thuật sản xuất hiện đại, công nghệ tiên tiến, nhất là
vùng nông thôn, thì doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong việc thu gom, tiêu thụ sản phẩm không chỉ với thị trường trong nước mà
còn xuất khẩu ra nước ngoài.
Bên cạnh đó, do lợi thế của mình các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất thích
hợp với khu vực kinh doanh thương mại-dịch vụ bán lẻ. Trong khi đó các doanh
nghiệp lớn khó có thể tổ chức được một mạng lưới bán lẻ để tiêu thụ hàng hoá
của mình mà phải thông qua mạng lưới bán lẻ của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Chính vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng được nhu cầu của người tiêu
dùng kể cả ở những nơi xa xôi, cơ sở hạ tầng thấp kém một cách nhanh chóng
thuận tiện, do đó mà rút ngắn khoảng cách về kinh tế giữa các vùng, góp phần
làm cho nền kinh tế phát triển một cách đồng đều trên toàn lãnh thổ.
Thu hút được một lượng vốn lớn nhàn rỗi trong dân, khai thác tận dụng
được các tiềm năng thế mạnh của từng vùng, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp
lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế. Theo số liệu của UNDP thì doanh nghiệp
8 8
vừa và nhỏ đã đóng góp 26%GDP. Sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ đã góp phần đáng kể trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội, giải quyết
công ăn việc làm, tăng thu cho ngân sách Nhà nước, đóng góp phần lớn trong giá
trị GDP mà nền kinh tế tạo ra hàng năm.
d_Tạo sự linh hoạt cho nền kinh tế
Trên thực tế, tỷ trọng số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước luôn
chiếm trên 90%. Với ưu thế về yêu cầu vốn không lớn, và linh hoạt trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, do đó số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ gia tăng
không ngừng. Điều này góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn nhàn rỗi từ
dân, như vậy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng hiệu quả cho
việc sử dụng các nguồn lực tài chính. Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng đối
với công cuộc phát triển kinh tế đặc biệt là với Việt Nam- một nước đang phát
triển và đang trong lộ trình hội nhập kinh tế thế giới.
Bên cạnh đó, sự phát triển không ngừng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã
nhà buôn tiền có thể sử dụng tạm thời một phần tiền gửi của khách để cho vay.
Hoạt động này làm thay đổi cơ bản hoạt động của nhà buôn tiền- kẻ cho vay
nặng lãi- thành nhà buôn tiền- Ngân hàng. Hoạt động cho vay dựa trên tiền gửi
của khách, tạo nên lợi nhuận lớn nên các ngân hàng đều tìm cách mở rộng thu
hút tiền gửi để cho vay bằng cách trả lãi cho người gửi tiền.
Tóm lại: đứng trên góc độ các loại hình mà ngân hàng cung cấp thì ngân
hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
10 10
nền kinh tế. Như vậy, ngay từ khi mới được hình thành cho đến nay, hoạt động
tín dụng luôn là hoạt động nòng cốt của các ngân hàng thương mại.
Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy
nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc các trung gian
khác)- ví dụ như tín dụng ngân hàng- thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định
nhằm đảm bảo tính an toàn và khă năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể
hoá trong các qui định của ngân hàng Nhà nước và các NHTM. Ba nguyên tắc cơ
bản như sau:
Thứ nhất: khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian
xác định. Các khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản
tiền gửi của khách hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi như đã cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu
cầu người nhân tín dụng phải thực hiện đúng cam kết này. Đây là điều kiện để
ngân hàng tồn tại và phát triển.
Thứ hai: khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích
được thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật và các
qui định khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp qui định phạm vi hoạt động cho
các ngân hàng. Bên cạnh đó, mỗi ngân hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt
động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồng tín dụng đảm bảo ngân
nhà cửa, phương tiện vận chuyển.
12 12
Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng
này được sử dụng nhằm cấp vốn cho các dự án lớn, đầu tư xây dựng cơ
bản, cải tiến khoa học công nghệ....
Tại các NHTM, tín dụng ngắn hạn thường được ưu tiên hơn và chiếm tỷ
trọng cao hơn tín dụng trung, dài hạn do nguồn vốn dành cho tín dụng
trung, dài hạn thường đắt và khan hiếm hơn. Hơn thế nữa, tín dụng trung,
dài hạn lại thường có rủi ro cao hơn. Việc phân chia các loại hình tín dụng
theo thời gian giúp cho ngân hàng có thể tính toán một cách tương đối rủi
ro có thẻ xảy ra, khả năng sinh lời của tài sản. Điều này cung liên quan
mật thiết đến công tác quản lý thanh khoản của các NHTM.
b_Căn cứ vào đối tượng khách hàng
Căn cứ vào đối tượng khách hàng, tín dụng ngân hàng được chia làm 2
loại như sau:
Tín dụng cho khách hàng là các tổ chức kinh tế- xã hội: các tổ chức kinh
tế-xã hội bao gồm các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các tổ chức tín
dụng khác, các hộ sản xuất kinh doanh...
Tín dụng cho khách hàng cá nhân: là loại tín dụng chỉ cấp cho nhu cầu của
từng cá nhân nhỏ lẻ.
Hiện nay, các ngân hàng thường phân chia các đối tuong khách hàng thành
khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng doanh
nghiệp lớn. Việc phân chia này giúp cho ngân hàng quản lý khách hàng và các
khoản vay tốt hơn do mỗi đối tượng này lai có nhu cầu tín dụng khác nhau. Bên
cạnh đó, quy trình nghiệp vụ tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp và khách
hàng cá nhân rất khác nhau.
c_Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng
Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng, người ta có những loại tin dụng sau:
13 13
Cho vay: đây là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng và cũng là
cả về chất lượng và giá cả, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường.
Có thể hiểu chất lượng tín dụng như sau: chất lượng tín dụng là sự đáp
ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo
sự tồn tại , phát triển của ngân hàng.
Như vậy, chất lượng tín dụng được thể hiện trên các phương diện sau:
Đối với khách hàng: tín dụng được cấp phải phù hợp với mục đích sử
dụng và đáp ứng được vốn của khách hàng, với lãi suất kì hạn hợp lý, thủ
tục đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm
bảo nguyên tắc tín dụng. Khoản tín dụng này phải giúp cho khách hàng
tạo ra lợi nhuận đủ để chi trả lãi cho khoản vay và tăng được giá trị tài sản
sở hữu cho khách hàng.
Đối NHTM: phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực
của bản thân ngân hàng và đảm bảo được không chỉ mức độ an toàn của
vốn vay mà còn cả tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả
đầy đủ,đúng hạn và có lãi khi kết thúc hợp đồng tín dụng.
Đối với sự phát triển của kinh tế- xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất lưu
thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn, việc làm, khai thác những
tiềm năng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản
xuất, đáp ứng được những mục tiêu chung của Nhà nước về phát triển
kinh tế xã hội.
1.3.2_Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
a_Chỉ tiêu định tính
15 15
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Việc quy định tiêu chuẩn cụ
thể cho các chỉ tiêu định tính là rất khó khăn, và nó chỉ mang tính tương đối. Căn
cứ vào tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng trong tương quan của toàn hệ thống
ngân hàng của mỗi một nền kinh tế, mỗi ngân hàng sẽ tự xác định tiêu chí cho
chỉ tiêu định tính khác nhau.
Các chỉ tiêu định tính có thể được đánh giá trên các khía cạnh sau:
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng đối
với đối tượng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như uy tín của ngân
hàng đối với đối tượng khách hàng này. Các chỉ tiêu trên càng cao càng thể hiện
được khả năng của ngân hàng trong việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
Tuy nhiên, các chỉ tiêu này không phản ánh hết được chất lượng tín dụng,
mà nó chỉ có thể phản ánh được quy mô, tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng tín dụng
vì đằng sau các khoản tín dụng đó còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tín dụng là khoản
mục đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng nhưng cũng là hoạt động đem
lại nhiều rủi ro nhất. Vì vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng không chỉ dựa vào
nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng mà còn phải sử dụng một số nhóm chỉ tiêu khác
nhằm có sự đánh giá toàn diện hơn.
Nhóm chỉ tiêu về nợ có đảm bảo:
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tỷ lệ phần trăm giữa nợ có tài
sản đảm bảo trên tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất
17 17
định. Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng nợ có tài sản đảm bảo là lớn
hay nhỏ đối với tổng dư nợ.
Tài sản đảm bảo có thể giúp ngân hàng giảm thiểu được thiệt hại khi rủi ro
tín dụng xảy ra. Trong thực tế, các khoản vay cần có tài sản đảm bảo thì giá trị
của khoản vay đó không được vượt quá 70% giá trị tài sản đảm bảo. Các ngân
hàng đặc biệt là các NHTM Nhà nước đang cố gắng tăng dần tỷ trọng dư nợ có
tài sản đảm bảo, bởi đây là nguồn thu hồi nợ có giá trị của ngân hàng.
Bên cạnh đó, tài sản đảm bảo cũng làm tăng trách nhiệm của khách hàng
đi vay với khoản tín dụng được cấp, và tạo ra mối ràng buộc về lợi ích giữa
khách hàng và ngân hàng. Vì vậy, một tỷ lệ cao hay thấp dư nợ có tài sản đảm
bảo trên tổng dư nợ cũng phản ánh được chất lượng tín dụng của ngân hàng là
cao hay thấp. Tuy nhiên, chỉ tiêu này mới chỉ phản ánh khả năng thu hồi vốn của
ngân hàng khi có rủi ro xảy ra. Để đánh giá chất lượng tín dụng còn phải xét số
vốn thực tế chưa thu hồi được khi hết hạn hợp đồng tín dụng.
chỉ tiêu này càng thấp thì phản ánh chất lượng tín dụng càng cao. Mặc dù mục
đích cao nhất của ngân hàng trong kinh doanh là an toàn, nhưng khi nói một
ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt thì không thể không nói đến khả năng sinh
lãi của các khoản tín dụng đó. Vì vậy, để có được sự đánh giá chính xác hơn về
chất lượng tín dụng thì không thể bỏ qua chỉ tiêu về lợi nhuận.
Chỉ tiêu về lợi nhuận từ hoạt động tín dụng:
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là lợi nhuận hàng năm từ hoạt động cho
vay của ngân hàng thường được tính tại thời điểm cuối năm. Chỉ tiêu này cao
phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng tốt và ngược lại. Vì bên cạnh mục
19 19
tiêu an toàn thì bất kì ngân hàng nào cũng phải hướng đến mục tiêu lợi nhuận
đặc biệt trong một nền kinh tế thị trường cạnh tranh.
Tóm lại: để có thể đánh giá chất lượng tín dụng một cách toán diện nhất
thì cần phải đánh giá đồng bộ các chỉ tiêu. Bởi vì mỗi chỉ tiêu chỉ có thể đánh giá
được chất lượng tín dụng là tốt hay xấu trên một phương diện nhất định.
1.3.3_Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
a_Nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, đảm bảo
hoạt động tín dụng của ngân hàng đi đúng quĩ đạo. Nó có ý nghĩa quyết định đến
sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Căn cứ vào tình hình cụ thể của
mỗi thời kì mà ngân hàng hoạch định cho mình một chính sách tín dụng phù
hợp. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ giúp cho ngân hàng thu hút được
khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời cho hoạt động tín dụng trên cơ sở phân
tán rủi ro, nhờ đó mà phát huy được năng lực của bản thân ngân hàng đồng thời
tận dụng được sự thuận lợi và hạn chế tối đa bất lợi từ môi trường kinh doanh.
Điều đó cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng phụ thuộc vào sự đúng đắn của
chính sách tín dụng. Bất cứ ngân hàng nào muốn hoạt động tín dụng có chất
lượng đều phải có chính sách tín dụng thích hợp cho ngân hàng của mình.
Quy trình tín dụng
gặp rủi ro khó có thể thu hồi được vốn, giảm chất lượng tín dụng.
Công tác thẩm định phải chính xác, thận trọng nhưng không mất quá nhiều
thời gian vì điều này sẽ kéo dài thời gian thực hiện dự án, giảm hiệu quả sản xuất
21 21
kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thông qua quá trình thẩm định dự
án, ngân hàng có thể tư vấn cho chủ đầu tư trên cơ sở những kinh nghiệm vốn có
của mình, giúp cho dự án hiệu quả hơn, đồng thời thắt chặt hơn mối quan hệ
giữa ngân hàng và khách hàng.
Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Nhờ có thông tin tín dựng, người quản lý có thể đưa ra những quyết
địng cần thiết liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay.
Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn có sẵn ở ngân hàng như hồ sơ
vay vốn, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng...;
thông tin từ phía khách hàng như phỏng vấn trực tiếp, báo cáo định kì, từ các cơ
quan, tổ chức chuyên cung cấp thông tin tín dụng; hoặc từ các nguồn thông tin
khác như báo chí...Số lượng và chất lượng của thông tin có được liên quan đến
mức độ chính xác trong việc phân tích khách hàng, đánh giá thị trường để đưa ra
những quyết định phù hợp. Thông tin càng đầy đủ, chính xác, toàn diện và nhanh
nhạy thì khả năng nắm bắt cơ hội và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng
càng cao, chất lượng tín dụng từ đó mà được nâng lên.
Công tác tổ chức và trình độ nghiệp vụ của cán bộ
Cán bộ tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất đối với hoạt động tín dụng
của ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng. Đây là những người trực tiếp thực
hiện tất cả các khâu của qui trình tín dụng do đó việc bảo đảm an toàn và tính
sinh lời cho mỗi khoản tín dụng phụ thuộc vào trình độ cũng như đạo đức nghề
nghiệp của cán bộ tín dụng. Xã hội ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi chất
lượng nhân sự cao hơn để có thể xử lý kịp thời, linh hoạt và hiệu quả những tình
huống có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, giúp ngân hàng ngăn ngừa và hạn
chế rủi ro tín dụng.
động tín dụng.
Tóm lại: chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nhiều nhân tố
thuộc nội tại của mỗi ngân hàng. Sự ảnh hưởng của các nhân tố này là khác
nhau, tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và tình hình cụ thể của mỗi
ngân hàng. Vấn đề cần quan tâm là làm thế nào để có thể phát huy được những
ảnh hưởng tích cực, sử dụng một cách linh hoạt các nhân tố này để có thể thực
hiện hoạt động tín dụng có chất lượng.
b_Nhân tố khách quan
Khách hàng
Khi một khoản tín dụng đã được cấp thì việc đảm bảo an toàn và tính sinh
lời của khoản vốn đó phụ thuộc rất nhiều vào chính khách hàng. Vì lúc đó họ là
người nắm giữ khoản tín dụng. Vì vậy, khách hàng là một trong những nhân tố
quan trọng nhất ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Nếu chỉ có sự nỗ lực từ phía
ngân hàng thì khoản tín dụng được cấp cũng không được coi là có chất lượng.
Để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả cho các khoản tín dụng của ngân hàng thì
khách hàng phải có năng lực ( về tài chính, quản lý điều hành, trình độ lao
động...), có dự án kinh doanh khả thi và có đạo đức nghề nghiệp, có như vậy thì
chất lượng tín dụng mới được nâng cao.
Năng lực tài chính của khách hàng mà cụ thể ở đây là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ thể hiện ở khả năng sinh lãi, vốn tự có, tài sản đảm bảo... Năng lực
tài chính càng cao thì khả năng trả nợ của doanh nghiệp càng cao, đảm bảo được
tính an toàn cho khoản vốn tín dụng.
Năng lực quản lý điều hành và trình độ của lao động trong doanh nghiệp
cũng không kém phần quan trọng. Đây là yếu tố mang tính quyết định đến việc
sinh lời của khoản tín dụng. Khả năng làm việc, trình độ cũng như năng lực quản
24 24
lý của doanh nghiệp sẽ làm cho khoản vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu
quả tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp đủ để doanh nghiệp có thể trả lãi cho ngân
hàng đầy đủ, đúng hạn và tăng được vốn chủ sở hữu như kế hoạch đã đề ra.
Môi trường kinh tế