Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai giai đoạn (Zoea1 – Zoea5 và Zoea5 – Cua1) với các mật độ khác nhau - Pdf 11

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 304 THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG CUA BIỂN
THEO HAI GIAI ĐOẠN (Zoea
1
– Zoea
5
và Zoea
5

Cua
1
) VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU

Cua
1
) VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
Cán bộ hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Th.s TĂNG MINH KHOA NGUYỄN THANH HÙNG
MSSV: 06803014
LỚP: NTTS K1 Cần Thơ – 2010

3

LỜI CẢM TẠ
Trong quá trình thực hiện đề cương khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Nuôi trồng
thủy sản em xin chân thành bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Tăng Minh Khoa
cùng với quí Thầy Cô- Khoa Sinh Học Ứng Dụng đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho
em những kiến thức vô cùng quí báu trong những năm học vừa qua và thời gian em
thực hiện đề tài tốt nghiệp. Em mong rằng trong cuộc sống quí Thầy Cô mãi là tấm
gương sáng để dìu dắt chúng em trên bước đường sự nghiệp.
Em xin bài tỏ lòng biết ơn đối với tập thể lớp Nuôi Trồng Thủy Sản K1 và gia đình đã
động viên an ủi và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu xót kính mong được sự góp ý của quí

5
(thí nghiệm 1) được tiến hành ương ở
các mật độ 300 con/L, 400 con/L và 500 con/L và từ Zoae
5
- Cua
1
(thí nghiệm 2) với
mật độ ương 30 con/L, 40 con/L và 50 con/L. Kết quả thí nghiệm 1 cho thấy mật độ
ương 500 con/L cho tỷ lệ sống (14.7±10.88%) cao hơn mật độ 400 con/L (10,1±1,9%)
có ý nghĩa thống kê và cao hơn nghiệm thức mật độ 300 con/L (12,5±2,78) không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05). Qua đó cho thấy khi ương ấu trùng Cua từ giai đoạn
Zoae
1
-Zoae
5
ở mật độ 500 con/L sẽ cho tỷ lệ sống cao hơn từ đó giúp tiết kiệm thể
tích ương đồng thời tiết kiệm được lượng thức ăn dẫn đến làm giảm chi phí sản xuất
góp phần tăng thêm lợi nhuận cho nhà sản xuất giống. Ở thí nghiệm 2 mặt dù tỷ lệ
sống ở nghiệm thức mật độ 30 con/L (11,8±1,56%) cao hơn so với nghiệm thức mật
độ 40 con/L (9±2,05%) và nghiệm thức mật độ 50 con/L (7,37±2,06) nhưng khác
biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Do đó trong tương lai cần phải có định
hướng ương Cua ở giai đoạn Megalopa-Cua
1
ở mật độ cao hơn nhằm tiết kiệm chi phí
sản xuất nâng cao lợi nhuận cho các nhà sản xuất.
ương lên tỷ lệ sống và sự phát triển của ấu trùng.
Cua biển từ giai đoạn Megalopa xuất hiện cặp càng nên dễ dàng ăn lẩn nhau ở mật độ
dầy do đó ương ấu trùng cua hai giai đoạn (Zoea
1
– Zoea
5
và Zoea
5
– Cua
1
) với mật độ
giảm dần nhằm giảm bớt tỷ lệ hao hụt.
Xuất phát từ vấn đề trên đề tài “Ương ấu trùng cua (Scylla paramamosain) theo hai
giai đoạn (Zoea
1
– Zoea
5
và Zoea
5
– Cua
1
) với các mật độ khác nhau” được tiến
hành nhằm xác định mật độ ương tốt nhất để tăng tỷ lệ sống của ấu trùng cua, sẽ góp
phần vào việc phát triển kỹ thuật ương cua biển ngày càng hiệu quả hơn.

Mục tiêu đề tài
6

Xác định mật độ ương thích hợp nhằm nâng cao tỷ lệ sống của cua giống.
Giúp chủ động được nguồn giống nuôi. Góp phần hoàn thiện quy trình ương ngày một


2.1. Đặc điểm sinh học của cua biển
2.1.1. Hình thái cấu tạo và phân loại
Theo Estampador (1949) loài Scylla paramanosain được phân loại theo hệ thống phân
loại của như sau:
Ngành : Arthropoda
Ngành phụ: Crustacea
Lớp: Malacostraca
Lớp phụ: Eumalacostraca
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Pleocyemat
Họ: Portunidae
Họ phụ: Portuninae
Giống: Scylla
Loài: Scylla paramamosain

Hình 2.1: Hình dạng loài cua biển Scylla paramamosain
Cua biển có tên tiếng Anh là mud crab, green crab, hay mangrove crab, tên tiếng việt
là cua biển, cua xanh, loài phân bố chủ yếu ở vùng biển nước ta là loài Scylla
8

paramanosain (cua sen) và loài Scylla olivacea (cua lửa). Cua có thân hình dẹp theo
hướng lưng bụng. Toàn bộ cơ thể được bao bọc trong lớp vỏ kitin dày và có màu xanh
lục hay vàng sậm. Cơ thể cua được chia thành hai phần: phần đầu ngực và phần bụng.
2.1.2. Phân bố
Theo Keenan et al (1998), Gopurenko et al (1999), loài Scylla paramamosain được
phân bố khắp khu vực biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, từ Nam Phi đến Biển
Đỏ, từ Okinnawa đến Tahiti và xuống tận miền Bắc nước Úc, Nhật Bản, Nam Trung
Quốc: Xiamen, Hong Kong, Singapore, Cambodia…Ở Trung Java: Indonesia và ở
Việt Nam chủ yếu là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.

trong quá trình di cư, trứng sẽ phát triển và chín dần. Cua ấp trứng trong khoang bụng,
cho đến khi nở thành ấu trùng Zoea
1
rồi tiếp tục lặp lại vòng đời.
Nhìn chung, chu kỳ sống của các loài cua biển theo Heasman (1980). Trích dẩn: Lee,
(1992) gồm 4 giai đoạn: giai đoạn ấu trùng, giai đoạn cua con (chiều rộng mai 20 − 80
mm), giai đoạn tiền trưởng thành (chiều rộng mai 70 − 150 mm) và giai đoạn trưởng
thành (chiều rộng mai 150 mm trở lên).
9Hình 2.2: Vòng đời của cua biển Scylla sp.
Hình chụp: David Mann; Sắp sếp lại: Williams et al, 1999.

Eyespot eggs: trứng xuất hiện điểm mắt; Zoea
1
: ấu trùng Zoea
1
;
Zoea
5
: ấu trùng Zoea
5
; Megalopa: ấu trùng Megalopa; Crab
1
: giai đoạn cua con

2.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Hill (1979) đã phân tích và quan sát thấy rằng trong ống tiêu hóa của cua gồm nhiều
thành phần khoảng 50% nhuyễn thể, 21% giáp xác, 29% các mảnh vụn hữu cơ, ít khi

nhiều dinh dưỡng để quá trình lột xác được thuận lợi. Quá trình phát triển của cua trải
qua nhiều lần lột xác và biến thái. Đường tăng trưởng của cua theo dạng bậc thang,
cua tăng trưởng về kích thước và khối lượng đột ngột sau mỗi lần lột xác. Ở từng giai
đoạn thì thời gian giữa các lần lột xác cũng khác nhau. Cua lột xác để tăng kích thước
và quá trình này phụ thuộc rất lớn vào đều kiện dinh dưỡng, môi trường và giai đoạn
phát triển của cơ thể. Theo Manganapa et al, (1987) cho rằng cua đực tăng trưởng
nhanh hơn cua cái và tốc độ tăng trưởng của cua đực khoảng 1,3 g/ngày, trong khi đó
cua cái tăng trưởng 0,9 g/ngày. Quá trình lột xác của cua mang tính đặc trưng riêng
biệt từng loài, thông thường 2 − 3 ngày/lần. Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo
dài từ 15 − 30 ngày/lần. Nơi ẩn náo rất quan trọng trong thời gian lột xác của cua,
trước khi lột xác cua thường tìm đến những nơi bụi rậm, gốc cây kính đáo để trú ẩn và
lẩn tránh kẻ thù. Khi mới lột xác cua rất yếu vỏ mềm, nên biện pháp sinh tồn là tìm
nơi an toàn để lột xác. Đặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái
sinh những phần phụ bộ đã mất. Ðối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần
phụ bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn (Trần Ngọc Hải và csv, 1999).
Quá trình tăng trưởng của cua biển còn chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ. Lee (1992) cho
rằng sự tăng trưởng của cua biển ngừng vào mùa đông, khi nhiệt độ giảm xuống 20
0
C.
Theo Manjulatha and Babu (1998) cho rằng nhiệt độ và nồng độ muối có ảnh hưởng
rất lớn đến sự lột xác và tăng trưởng của Cua. Nhiệt độ nước thấp hơn 24
o
C hoặc trên
34
o
C làm cua giảm ăn và kéo dài thời gian lột xác. Ở nhiệt độ từ 26 − 31
o
C, hoạt
động bắt mồi và lột xác của cua trong tình trạng bình thường. Loài S. paramamosain
có thể chịu đựng sự chênh lệch bất thường của nồng độ muối.

GĐ3
GĐ3
GĐ4
12

Bảng 2.1 Các giai đoạn thành thục của cua cái

2.1.6.2 Tập tính bắt cặp, đẻ và ấp trứng
Đối với vùng nhiệt đới cua đẻ quanh năm. Ở Việt Nam, mùa vụ sinh sản chính của
cua từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau (Hoàng Đức Đạt, 2004). Cua biển là loài có tập
tính di cư sinh sản. Tới mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ, lột xác tiền giao
vĩ. Hill (1976) cho rằng, sở vĩ cua di cư ra biển là cốt lỗi để tìm đều kiện tốt cho sự
phát triển tốt cho ấu trùng Zoea. Trước khi giao vĩ cua cái tiết ra một loại Hormon để
quyến rũ cua đực. Cua đực thường lớn hơn cua cái, khi giao vĩ cua đực dùng các chân
bò và càng ôm chặt lấy cua cái trên mặt lưng nó mang cua cái đi quanh có khi kéo dài
3 − 4 ngày, sau đó cua cái lột xác và bắt đầu giao vĩ, thời gian giao phối có thể kéo dài
từ 7 giờ đến 12 giờ (Trần Ngọc Hải và Nguyễn Thanh Phương, 2004). Cua đực ôm
cua cái áp sát mặt bụng vào nhau và gỡ yếm cua cái ra để giao phối. Túi tinh của con
đực được đưa vào túi chứa tinh của con cái ở giữa gốc chân thứ tư và thứ năm. Túi
tinh này được giữ trong nhiều tuần để thụ tinh qua nhiều lần sinh sản, tức là một lần
giao phối có thể thụ tinh cho cua cái từ 1 − 3 lần đẻ trứng. Sau đó, khi con cái đẻ trứng
thì cùng lúc tinh trùng được giải phóng để thụ tinh cho trứng. Cua đẻ rất khỏe. Một
con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến 2 − 3 triệu trứng mỗi năm. Trong một năm cua
đẻ từ 2 − 3 lần. Khi đẻ trứng cua cái nằm ở đáy dùng các chân bám vào nền đáy, phần
đầu ngực được nâng lên phần bụng (yếm Cua) được mở ra các chân bụng được dựng
đứng lên. Trứng chín qua ống dẫn trứng thụ tinh với tinh trùng từ túi chứa tinh trùng.
Phần lớn trứng đẻ ra được ấp trong khoang bụng của cua mẹ cho đến khi nở. Trứng
cua được ấp ở nơi nước biển có độ mặn cao khoảng 29-32‰, nhiệt độ ổn định. Thời
gian ấp trứng dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Nhiệt độ càng cao thời gian
ấp trứng càng nhanh. Trong đều kiện thuận lợi, trứng có thể nở đồng loạt khoảng 3 −


4
(Ph

m Th

Tuy
ế
t Ngân, 2005
)

2.1.6.3 Sự phát triển phôi và các giai đoạn ấu trùng

Tr

ng cua m

i
đẻ

đườ
ng kính trung bình 0,3 mm và có màu vàng t
ươ
i. S

phát
tri

n c



t, sau
đ
ó tim b

t
đầ
u
đậ
p và các c
ơ
quan khác c
ũ
ng b

t
đầ
u hình thành, khi tim
đậ
p kho

ng
200 − 240 l

n/phút phôi s

phá v

v


t (2004)

u trùng Zoea m

i n

là Zoea
1


u trùng
b

t
đầ
u b
ơ
i l

i
đượ
c ngay do có
đ
ôi m

t kép và s

c t



n 2 − 3 ngày, riêng giai
đ
o

n
Zoea
5
t

3 − 4 ngày.

u trùng có tính h
ướ
ng quang, chúng s

ng phù du, ho

t
độ
ng
nh

chân hàm 1 và s

co giãn c

a ph

n b


t th

, do
đ
ó

giai
đ
o

n này n

n
đ
áy
đố
i v

i
chúng là r

t quan tr

ng vì chúng ho

t
độ
ng tích c

c và


Bảng 2.2 Các giai đoạn ấu trùng cua biển (Scylla sp)
Giai đoạn Thời gian sau
khi nở (ngày)
Kích cỡ
(mm)
Đặc điểm phân biệt quan trọng

Zoea
1
0 − 3 1,65
Mắt chưa có cuống. Chân hàm I và II đều mang 4
lông tơ trên nhánh ngoài. Có 5 đốt bụng.
Zoea
2
3 − 6 2,18
Mắt có cuống. Nhánh ngoài của chân hàm I và II
mang 6 lông tơ. Có 5 đốt bụng.
Zoea
3
6 − 8 2,70
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 8 lông tơ, chân
hàm II mang 9 lông tơ. Có 6 đốt bụng. Gai bên của
đốt bụng 3 − 5 dài hơn.
Zoea
4
8 − 11 3,54
Nhánh ngoài của chân hàm I mang 10 lông tơ, của
chân hàm II mang 10 lông tơ dài, 1 − 2 lông ngắn.
Mầm chân bụng xuất hiện trên các đốt bụng 2 − 6

- Giai đoạn thành thục: Lúc này cua có tập tính di cư ra vùng nước mặn ven biển để
sinh sản.
Nhìn chung, ấu trùng Zoea thích hợp với độ mặn từ 25 − 30‰. Giai đoạn cua con và
cua trưởng thành phát triển tốt trong phạm vi 2 − 38‰. Tuy nhiên trong giai đoạn đẻ
trứng, độ mặn cần được duy trì ở 22 − 32‰. Theo báo cáo của Hyland (1984), cua
phân bố trong tự nhiên có liên quan đến dòng chảy với vận tốc 0,06 − 1,6 m/s.
2.1.7.2 Ðịch hại của cua
Theo Warner (1997) được trích dẫn bởi Hoàng Ðức Ðạt (2004), trong tự nhiên tỷ lệ
tử vong của cua rất cao và xảy ra trong suốt chu kỳ sống, nguyên nhân là do tập tính
ăn lẫn nhau. Giá thể là yếu tố quan trọng, có thể làm tăng đáng kể tỷ lệ sống của quần
đàn, nhất là trong đều kiện ương nuôi.
2.2. Các nghiên cứu sản xuất giống và nuôi cua biển
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật độ
Zeng and Li (1992) làm thí nghiệm về ảnh hưởng của số lượng và chất lượng trong
khẩu phần ăn lên sự phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển (Scylla serrata)
nhận thấy rằng luân trùng (Brachionus plicatilis) là khẩu phần ăn thích hợp cho sự
phát triển của ấu trùng cua biển ở giai đoạn đầu, ở mật độ luân trùng 60 cá thể/ml cho
tỷ lệ sống ấu trùng cao nhất ở giai đoạn Zoea
3
. Khi ấu trùng ở giai đoạn Zoea
5
, nếu chỉ
cho ăn luân trùng đơn độc sẽ có hiện tượng chậm lột xác và dẫn đến tử vong. Như vậy,
luân trùng không thể dùng cho ương nuôi cho tất cả các giai đoạn ấu trùng cua biển.
Mặt khác, ấu trùng cua biển ở giai đoạn Zoea
1
được cho ăn ấu trùng Artemia thì cho tỷ
lệ sống thấp, nhưng ở giai đoạn Zoea
5



Zoea
2
sẽ nâng cao tỷ lệ sống cao hơn 55%

.
Mardjono and Arifin (1993) cho rằng, luân trùng di chuyển chậm thích hợp cho ấu
trùng cua giai đoạn Zoea
1
và Zoea
2
. Từ Zoea
3
trở đi, ấu trùng cua biển tìm kiếm thức
ăn và chúng có thể ăn ấu trùng Artemia. Ngay ở giai đoạn Megalopa, ấu trùng cua có
thể ăn Artemia 2 ngày tuổi (Basyar, 1994).
Một nghiên cứu khác của Yunus and et al. (1994) nhằm cải thiện tỷ lệ sống của ấu
trùng cua biển, đặc biệt là giai đoạn Zoea
1
và Zoea
2
thông qua việc giàu hóa luân
trùng bằng hỗn hợp 10 g dầu gan cá tuyết, 20 g lòng đỏ trứng gà và 5 g men hòa tan
trong 100 lít nước, luân trùng được nuôi khoảng 2 giờ. Ấu trùng cua được cho ăn luân
trùng sau khi giàu hoá với mật độ 15 − 20 cá thể/ml nước ương. Kết quả cho tỷ lệ
sống của Zoea
1
(sau 5 ngày thả) là 74,1%.
Marichamy and Rajapackiam (2001) cho rằng nếu cho ăn thức ăn nghèo dinh dưỡng

Djunaidah et al, (2001). Nhận thấy tỷ lệ sống đến giai đoạn Zoea
5
cao nhất khi ương
ở mật độ 100 con/L là 63%, trong khi ương ở mật độ 50 con/L thì tỷ lệ sống chỉ đạt
17

27%, còn ương ở mật độ 75 con/L thì tỷ lệ sống 39% (Trích bởi Trương Trọng Nghĩa,
2005).
2.2.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
*Nhiệt độ và độ mặn
Nhiệt độ được xem là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cua.
Tỷ lệ bắt mồi của ấu trùng giảm khi nhiệt độ thấp dưới 20
o
C. Ở nhiệt độ 19 − 23
o
C
tất cả các ấu trùng đều chết ở giai đoạn Zoea
3
, chúng chỉ sống được 15 ngày
(Heasman,1993). Ở nhiệt độ 2 − 224
o
C ấu trùng chỉ còn sống rất ít sau 18 ngày, tỷ lệ
chết của ấu trùng Zoea
4
rất cao. Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu
trùng mà còn ảnh hưởng đến thời gian biến thái của ấu trùng. Giai đoạn ấu trùng cua
có thể kéo dài 28-35 ngày khi nhiệt độ 25 − 27
o
C trong khi nhiệt độ 28 − 30
o

thức ăn là Artermia giai đoạn 1 chết nhiệt ( ở nhiệt độ nước 80
0
C) hoặc đông lạnh với
Artermia bung dù tươi sống (chưa tách vỏ), tác giả thấy rằng, tỷ lệ sống giai đoạn
Zoea
5
− Cua
1
đều thấp, và thức ăn Artemia bung dù tươi sống (chưa tách vỏ) được
xem thích hợp nhất vì chúng ở tính trạng lơ lửng và ít gây sự nhiễm bẩn nước trong
trường hợp thiếu luân trùng, có thể cho ấu trùng cua biển ăn luân trùng chỉ một vài
ngày (ngày đầu tiên đến ngày thứ 3), sau đó thay thế bằng Artemia. Lượng luân trùng
cần cung cấp ở giai đoạn Zoea
1
là ( 100 cá thể/ml), thức ăn Artermia cần gia tăng mật
độ tới 20 cá thể/ml (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2005).

18

2.2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thể tích và mật độ

Cũng như tôm sú, ấu trùng cua biển sau khi nở được khử trùng bằng formaline 100
ppm trong một phút hoặc 200 ppm trong 30 giây, rồi mang bố trí vào hệ thống nuôi. Ở
nhiều nước khác nhau thì hệ thống ương cũng khác nhau. Đài Loan dùng bể 500 L để
ương ở giai đoạn Zoea và bể 1 − 10 m
3
khi chuyển Megalopa, mật độ ương là 10
con/L (Phạm Văn Quyết, (2008). Nhưng ở Ấn Độ thì lấy bể 300 L để ương, mật độ 25
− 75 con/L, Theo Trần Ngọc Hải (2001), ở Úc ương với mật độ 30 − 100 con/L, Nhật
Bản 10 − 50 con/L và Malaysia 25-30 con/L. Nguyễn Cơ Thạch và csv. (1998), đã bố


CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian:
Địa điểm: Trại tôm sú giống Đăng Khoa số 179C/5 – KV1 – An Bình – Ninh Kiều –
Cần Thơ.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
3.2.1 Dụng cụ và trang thiết bị
- Bể xử lí nước và bể chứa nước.
- Bể ương ấu trùng: Xô nhựa 9 cái, thể tích 60L/cái
- Hệ thống sục khí: Ống dẫn khí, van đều chỉnh, đá bọt.
- Bình ấp Artemia.
- Kính hiển vi, nhiệt kế thủy ngân,
- Bộ test pH, NH
+
4
, NO
-
2
,NO
-
3,
KH.
- Các dụng cụ khác như: Cân điện tử, máy bơm, ống xi phon, thao nhựa, cốc
thủy tinh…
3.2.2 Hóa chất
Hóa chất xử lí nước dùng trong thí nghiệm: Chlorine, formol, EDTA…
3.2.3 Nguồn nước


Thành phần Thức ăn chế biến:
+ 200 g thịt tép
+ 20 lòng đỏ trứng
+ 50 g sữa bột
+ Dầu mực 5%
+ Leucethine 2%
Cách chế biến: Cho các thành phần trên vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, sau đó đem
hỗn hợp chưng cách thủy khoảng 15 − 20 phút, đem hỗn hợp nghiền qua lưới cà kích
thước mắt lưới cỡ 1000 µm sau đó có thể đem cho ấu trùng cua ăn, có thể bảo quản
trong tủ lạnh cho ăn nhiều lần.
Phương pháp nở và sử dụng
Artemia: Khử trùng trứng Artemia trước khi nở nhằm
loại bỏ mầm bệnh bám trên vỏ trứng Artemia .
Khử trùng trứng Artemia: Ngâm trứng cần cho nở trong dung dịch hóa chất khử trùng
(javel, chlorine) 200ppm trong 20 phút với mật độ khử trùng là 50 gam trứng/L dung
dịch. Sau đó rữa sạch trứng bằng nước ngọt qua lới lọc 100 − 150 µm và cho nở.
Phương pháp cho nở trứng Artemia: Bể nở Artemia trong có hình trụ chóp nón, màu
trắng có vòi tháo ở đáy. đem ấp ở độ mặn 25‰. Nhiệt độ ấp trứng 25 − 30
0
C, tốt
nhất là 28
0
C. pH từ 8 − 8,5. Mật độ cho nở 2 − 5 g/L tốt nhất là 2g/L. cường độ sáng
từ 1000 − 2000 lux. Sục khí mạnh, thời gian nở từ 15 − 24 giờ tùy từng loại trứng.
Đối với Artemia bung dù thì thới gian bung dù khoảng 14 − 15 giờ. Trước khi thu
naupli cần tắc sục khí, đậy kín bể, chờ 15 phút cho vỏ trứng nổi lên, mở val thu ấu
trùng tách biệt dưới đáy bể. Ngâm ấu trùng lại bằng formaline với nồng độ 500 ppm
sau đó rữa lại bằng nước ngọt, đem cho ấu trùng cua ăn hoặc có thể bảo quản trong tủ
lạnh cho cua ăn nhiều lần.

- Nghiệm thức 3: Mật độ ương là 50 con/L.
Phương pháp thu và bố trí ấu trùng
Phương pháp thu: Trước khi thu ấu trùng, tắt hết sục khí, sau 3 − 5 phút chờ cho ấu
trùng nổi lên mặt nước. Lúc đó toàn bộ số ấu trùng Zoea có chất lượng tốt sẽ hướng
quang và nổi lên trên mặt nước, tụ lại. Số ấu trùng kém chất lượng lắng tụ dưới đáy.
Dùng ống nhựa hút loại bỏ toàn bộ ấu trùng kém chất lượng, thu ấu trùng đạt chất
lượng ra thùng nhựa 10 lít, sau đó tiến hành định lượng và bố trí vào bể ương có thể
tích 50 lít. Theo đúng mật độ của từng nghiệm thức là 300 con/L; 400 con/L; 500
con/L. Trước khi bố trí ấu trùng được xử lý bằng formaline 200 ppm trong 30 giây để
loại bỏ mầm bệnh. Thời gian thu xong ấu trùng càng nhanh càng tốt khoảng 10 phút


Cách cho ăn
Thức ăn cho ấu trùng cua là Artemia bung dù từ Zoea
1
− Zoea
2
, ấu trùng của Artemia
sau khi nở khoảng 3-4 giờ và đem cho ấu trùng cua ăn từ Zoea
3
− Zoea
5
(Bảng 3.1) và
thức ăn tự chế từ Zoea
5
− Cua
1
(Bảng 3.2).
Megalopa Cua
1

Lượng thức ăn
Ấu trùng Artemia x x
5

10 cá thể/ml
Thức ăn tự chế x x Theo nhu cầu
3.3.3 Các chỉ tiêu cần theo dõi ở hai thí nghiệm
3.3.3.1 Yếu tố môi trường
- Nhiệt độ, pH: Được ghi nhận ngày 2 lần (sáng 8 giờ và chiều 2 giờ).
- TAN, N-NO
2
: 4 ngày/lần, được đo bằng các bộ testkit.
3.3.3.2 Sinh trưởng và tỷ lệ sống
- Tỷ lệ biến thái: Xác định tỷ lệ biến thái của ấu trùng cua các giai đoạn Zoea
1
,

Zoea
2
,
Zoea
3
,

Zoea
4
, Zoea

- Cho ăn ngày 4 lần ( 6h, 12h, 18h,0h ).
- Thay nước 30%, 3 ngày/lần.
3.5 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được tính toán các giá trị trung bình, cao nhất, thấp nhất, độ lệch
chuẩn về tỷ lệ sống ở các nghiệm thức trong cùng thí nghiệm bằng phần mềm Excel
và SPSS 13.0.

24

CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN


0
C thì ấu trùng cua phát triển tốt, còn nhiệt độ
vượt khỏi mức giới hạn cho phép thì dẫn đến ấu trùng cua bị rối loạn sinh lý và chết.
Như vậy, nhiệt độ ở các nghiệm thức trong thí nghiệm nằm trong khoảng thích hợp
cho sự phát triển của ấu trùng cua.
25

Bảng 4.1 Các yếu tố môi trường thủy lý hóa trong thí nghiệm
Chỉ tiêu Thời gian đo Nghiệm thức 1 Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
Sáng 27,5 ± 0,29 27,4 ± 0,32 27,5 ± 0,27 Nhiệt độ (
0
C)
Chiều 30,4 ± 0,28 30,1 ± 0,11 30,3 ± 0,08
Sáng 7,9 ± 0,04 8,0 ± 0,06 8,0 ± 0,04 pH
Chiều 7,9 ± 0,04 8,0 ± 0,03 7,9 ± 0,02
N-NH
4
+
(mg/l) 1,36 ± 0,10 1,87 ± 0,11 2,07 ± 0,15
NO
2


NO
2
-
là yếu tố tác động lớn đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển.
Qua kết quả phân tích NO
2
-
trung bình ở các nghiệm thức hầu như tăng dần, cụ thể ở
nghiệm thức 1 (0,24 ± 0,01 mg/L), nghiệm thức 2 (0,3 ± 0,05 mg/L) nghiệm thức 3
(0,38 ± 0,04 mg/L). Nguyên nhân dẫn đến hàm lượng NO
2
-
tăng dần ở các nghiệm
thức là do ương với mật độ tăng dần 300, 400, 500 con/l ở thí nghiệm 1. Đều đó dẫn
đến một phần lượng thức ăn dư thừa và chất thải phân hủy cũng nhiều hơn. Từ những

Trích đoạn Tỷ lệ biến thá Các yếu tố môi trường 1 Nhi ệt độ Tỷ lệ sống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status