24 TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 304
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM
SINH HỌC TRONG ƯƠNG CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ NGÀNH: 304
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM
SINH HỌC TRONG ƯƠNG CÁ LĂNG NHA
(Mystus wyckioides)
Cần Thơ, 2011
Sinh viên thực hiện:
LÊ THỊ XUÂN THANH
MSSV: 0753040081
LỚP: NTTS K2
Cán bộ hướng dẫn:
gian làm đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy Cô Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại
Học Tây Đô đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho em những kiến thức quý báu
trong những năm học vừa qua, tạo dựng hành trang để em bước vào cuộc sống
sau này.
Xin cảm ơn tất cả các bạn trong tập thể lớp NTTS K2 và gia đình đã tận tình
giúp đỡ và động viên, đóng góp ý kiến bổ ích giúp em hoàn thành thực tập tốt
nghiệp.
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại
Học Tây Đô và cùng toàn thể các bạn dồi giàu sức khỏe và thành công.
Em xin chân thành cám ơn và ghi nhớ!
LÊ THỊ XUÂN THANH 28
29
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu
của tôi trong khuôn khổ đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học
trong ương nuôi cá Lăng nha (Mystus wyckioides)”. Kết quả này chưa được
dùng cho bất cứ luận văn cung cấp nào khác. Ngày 30 tháng 06 năm 2011
LÊ THỊ XUÂN THANH
30
MỤC LỤC
31
4.2 Ảnh hưởng của nhịp sử dụng tốt nhất của chế phẩm sinh học lên sự
sinh trưởng và tỷ lệ sống cá Lăng nha giống 33
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Đề xuất 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC a
(ppm) ở thí nghịêm 2 35
Bảng 4.14: Biến động NO
2
-
(ppm) suốt thời gian thí nghiệm 2 36
Bảng 4.15: Biến động của hàm lượng COD (ppm) ở thí nghịêm 2 36
Bảng 4.16: Mật độ vi khuẩn tổng (CFU/ml) ở thí nghiệm 2 37
Bảng 4.17: Trọng lượng cá nuôi ở các nghiệm thức thí nghiệm 2 39
Bảng 4.18: Kích thước cá nuôi ở các nghiệm thức thí nghiệm 2 39 33 DANH SÁCH HÌNH Hình 2.1: Cá Lăng nha đực-cái 5
Hình 2.2: Sơ đồ ảnh hưởng của chế phẩm sinh học 12
Hình 3.1: Nơi bố trí thí nghiệm 22
Hình 4.1: Biến động vi khuẩn tổng suốt thời gian thí nghiệm 1 29
Hình 4.2: Biến động vi khuẩn lactic suốt thời gian thí nghiệm 1 30
Hình 4.3: Tỉ lệ sống của các nghiệm thức thí nghiệm 1 33
Hình 4.4: Biến động vi khuẩn tổng suốt thời gian thí nghiệm 2 37
Hình 4.5: Biến động vi khuẩn lactic suốt thời gian thí nghiệm 2 38
Hình 4.6: Tỉ lệ sống của các nghiệm thức thí nghiệm 2 40
Bên cạnh những thuận lợi, nghề nuôi cá Lăng nha còn gặp nhiều hạn chế, vì đây
là đối tượng nuôi mới, kỹ thuật nuôi và qui trình sản xuất giống chưa hoàn
thiện, bên cạnh đó là vấn đề môi trường và dịch bệnh.
Để khắc phục tình trạng trên, tạo ra nhiều con giống đáp ứng cho nhu cầu ương
nuôi có chất lượng giống tốt, một trong những chương trình nghiên cứu công
nghệ sinh học đang được áp dụng trong thủy sản nhằm giải quyết vấn đề trên, là
sử dụng chế phẩm sinh học để hạn chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh,
tăng sức đề kháng của đối tượng nuôi thủy sản và cải thiện môi trường. Chính vì
thế, đề tài: Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học trong ương nuôi
cá Lăng nha được tiến hành nghiên cứu.
35
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh học lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống
trong ương cá Lăng nha tại Hồng Ngự-Đồng Tháp nhằm cải thiện môi trường,
nâng cao chất lượng con giống, giảm tỷ lệ hao hụt và chi phí trong quá trình
ương.
1.3 Nội dung của đề tài
Xác định liều lượng tốt nhất của chế phẩm sinh học lên sự sinh trưởng và tỷ lệ sống
cũng như chất lượng cá Lăng nha giống.
Xác định nhịp sử dụng tốt nhất của chế phẩm sinh học lên sự sinh trưởng và tỷ lệ
sống cũng như chất lượng cá Lăng nha giống.
Tên địa phương: cá Lăng đuôi đỏ, cá Lăng nha
Tên gọi khác: Hemibagrus wyckioides Chang và Faux, 1949. Mystus aubenton,
Mystus rubicauda, Mystus microphthalmus, Macrones wyckioides.
2.1.2 Đặc điểm hình thái của cá Lăng nha
Cá Lăng nha là loài cá da trơn có hình dạng giống cá trê, có thân tròn, thuôn dài
về hướng đuôi. Cá có 2 râu hàm trên màu trắng kéo dài đến vây hậu môn, 2 râu
hàm dưới cũng màu trắng, 2 râu trên mũi ngắn và 2 râu cằm (Nguyễn Trọng
Tài, 2010). Cá Lăng nha giống có màu xám tro đậm, đến giai đoạn trưởng thành
cá có màu xám tro nhạt, dưới bụng có màu trắng, ở vùng đuôi và phần đầu cá
vây ngực vây bụng, vây hậu môn có màu đỏ, vây đuôi đỏ đậm. Khi còn nhỏ
màu đỏ của vây cá chưa rõ rệt, đặc biệt là cá nuôi nhân tạo, lúc nhỏ dưới 20 gam
toàn thân cá màu đen sau khi nuôi một thời gian đuôi cá mới chuyển sang màu
đỏ. Cá nuôi trong lồng có màu sắc đậm hơn cá nuôi trong ao nhưng màu đỏ của
đuôi lại nhạt hơn cá trong ao. Màu sắc của đuôi là một trong những đặc điểm
quan trọng để phân biệt loài cá này với các loài cá Lăng khác (Bùi Thanh Loan,
2009)
.
37
2.1.3 Đặc điểm phân bố
Cá Lăng nha thường sống ở tầng đáy, thích trú ẩn trong các bụi cây, hốc đá. Có
nhiều ở những vùng nước chảy mạnh, thác, hoặc ở những vùng sông lớn. Ở
Châu Á loài cá này được tìm thấy ở Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Campuchia,
Việt Nam và một số nước khác. Người ta phát hiện thấy cá có nhiều ở những
vùng nước chảy mạnh đặc biệt là ở các vùng có thác chảy thuộc địa phận của
các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia (theo Mai Đình Yên,
1978, Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993). Ở Việt Nam, cá Lăng
nha có mặt ở các thủy vực nước ngọt và lợ nhẹ vùng gần cửa sông độ mặn dưới
38
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Cá Lăng nha khoảng 6-8 tháng tuổi rất dễ phân biệt đực cái. Cá đực có gai sinh
dục dài và đầu mút nhọn. Cá cái có lỗ sinh dục dạng tròn và hơi lồi. Buồng
trứng cá cái có hình quả nhót, tuyến sẹ cá đực có hình dài với nhiều tua lồi bên
(Nguyễn Trọng Tài, 2010).
Trong tự nhiên, mùa sinh sản của cá từ tháng 5-11, tập trung vào tháng 6-8 khi
thời tiết mát. Sau hơn một năm tuổi, khi thành thục cá bố mẹ tự bắt cặp sinh sản,
có chiều dài khoảng 50 mm tương ứng với trọng lượng trên 850 gam. Các giai
đoạn phát dục của cá theo nhóm tuổi không giống nhau. Hệ số thành thục của cá
đực thấp so với cá cái, hệ số hành thục cá Lăng nha thấp hơn so với cá loài cá
khác và dao động từ 3,5-8% (Nguyễn Trọng Tài, 2010).
Cá có kích thước lớn có số lượng trứng nhiều hơn cá có kích thước nhỏ. Sức
sinh sản của cá Lăng nha có thể đạt tới 100.000 trứng ở cá cái 3kg. Trứng cá
Lăng nha lớn so với nhiều trứng cá Lăng khác, trứng có đường kính 1.9-2.1
mm. Cá có thời gian tái phát dục nhanh, khoảng 2-3 tháng và có thể sinh sản
quanh năm (Nguyễn Trọng Tài, 2010).
Hinh 2.1: Cá Lăng nha đực-cái
2.2 Tình hình nuôi thủy sản
2.2.1 Tình hình nuôi thủy sản trên thế giới
Theo Nguyễn Đặng Thùy (2009) tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) thế
(VIEF, 2010).
2.2.2 Tình hình nuôi thủy sản ở Việt Nam
Diện tích NTTS tăng đều đặn theo từng năm suốt từ 1981 tới nay, từ 230 nghìn
ha năm 1981 lên 384,6 nghìn ha năm 1986, đến 2006 đã đạt gần 2 triệu ha, kể từ
2006 thì Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 3 về sản lượng NTTS thế giới (năm
2005 Việt Nam chỉ đứng thứ 6). Kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD là nguồn thu
ngoại tệ lớn thứ 4 của Việt Nam (5,25% GDP Việt Nam) và đứng thứ 6 về kim
ngạch xuất khẩu thủy sản thế giới. (Tổng cục Thống kê, 2006 trích bởi Nguyễn
Đặng Thùy, 2009).
Theo Global Aquaculture, năm 2007 xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đạt 3,78
tỷ USD chiếm 4% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản toàn thế giới và tăng
54,92% so với kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam năm 2004. Trung
bình giai đoạn 2004-2007 xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tăng bình quân
15,7%/năm, tăng gấp 1,7 lần so với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản
toàn thế giới.
40
Trong khi đó, năm 2007 nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam ở mức 0,36 tỷ USD
chiếm 0,37% tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản toàn thế giới và tăng 71,43% so
với tổng giá trị nhập khẩu thuỷ sản năm 2004 của Việt Nam. Trung bình giai
đoạn 2004-2007 nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam tăng bình quân 19,7%/năm.
Theo báo cáo của các sở Nông nghiệp & PTNT sản lượng khai thác tháng
12/2010 ước đạt 255,8 ngàn tấn, đưa sản lượng khai thác 12 tháng năm nay lên
2.450,8 ngàn tấn, bằng 107,6 % so với cùng kỳ năm 2009 và đạt 102,1% so với
kế hoạch (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2010).
Như vậy, cán cân thương mại thuỷ sản của Việt Nam luôn thặng dư dao động
trong khoảng từ 2,23-3,42 tỷ đồng, trung bình giai đoạn 2004-2007 thặng dư
bình quân 15,3%/năm.Việt Nam hiện đang đứng vị trí thứ 6 về xuất khẩu thuỷ
sản trên thế giới (sau Trung Quốc) và đứng ở vị trí thứ 32 về nhập khẩu thuỷ sản
trên thế giới. (VIEF, 2010).
giám thống kê, 2005 trích theo Nguyễn Đặng Thùy, 2009). Tổng diện tích mặt
nước nuôi trồng thủy sản năm 2007 đạt 5,002 ha, tăng 1,354 (37,11%) so với
năm 2005 (Sở NN&PTNT Đồng Tháp, 2007). Trong đó các đối tượng nuôi
chính là cá Tra, cá Basa, cá Lóc.
Với những thuận lợi về điều kiện hệ thống kênh rạch, nay huyện Hồng Ngự -
Đồng Tháp đang nuôi và phát triển cá Lăng nha. Hiện có khoảng 10 hộ nuôi cá
Lăng nha thương phẩm và 2 cơ sở cho cá Lăng nha sản xuất giống bằng phương
pháp sinh sản nhân tạo. Do đặc tính dễ nuôi, cá có thể nuôi trong ao hoặc ngoài
bè (Báo SITTO Việt Nam, 2008).
2.3 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện khí hậu của nơi triển khai thí nghiệm mang tính chất nhiệt đới gió cận
xích đạo, quanh năm nóng ấm, lượng mưa phong phú, các yếu tố khí tượng có
sự phân hoá rõ rệt theo mùa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với hướng
gió là gió mùa Tây - Nam. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với
hướng gió mùa Đông - Bắc. Nhiệt độ trung bình năm khá cao khoảng 27
0
C.
Nhìn chung không có sự khác biệt lớn so với nơi khác trong tỉnh và vùng Đồng
bằng sông Cửu Long. Tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là
38
0
C, tháng 01 có nhiệt độ trung bình thấp nhất năm 20
0
C (phòng Tài nguyên và
Môi trường, 2011).
Bảng 2.1: Đặc điểm khí hậu chủ yếu của vùng thí nghiệm
Tây - Nam vào mùa hè (mùa mưa/nóng)
Tháng
5-11
42
2.4 Biến động của các yếu tố môi trường
Nhiệt độ khoảng nhiệt độ thích hợp cho các ao nuôi cá ở vùng nhiệt đới là từ
25-30
o
C (Dương Nhựt Long, 2002 được trích bởi Quách Sĩ Quý, 2006). Nhiệt
độ thích hợp với cá Lăng nha từ 21-29
o
C, pH thích hợp cho cá Lăng nha từ 6-
8.2 (Nguyễn Trọng Tài, 2010). Tiêu hao Oxy hóa học (COD) thích hợp cho ao
nuôi cá là 15-30 ppm, giới hạn cho phép là 15-40 ppm (Quách Sĩ Quý, 2006).
Theo Quách Sĩ Quý (2006), nồng độ N-NH
3
thích hợp cho ao nuôi cá dao động
trong khoảng 1 ppm. Hàm lượng N-NH
4
+
thích hợp cho ao nuôi cá thâm canh là
nhỏ hơn 4 ppm. Hàm lượng đạm nitrite (N-NO
2
-
) cho phép trong các ao nuôi cá
là từ 0.01-1 ppm, nhưng tốt nhất là không nên có dạng đạm này trong. COD
thích hợp cho ao nuôi cá là 15-30 ppm, giới hạn cho phép là 15-40 ppm.
2.5 Vai trò của vi sinh vật
Vi sinh vật trong tự nhiên
Theo Trần Công Bình (2002) thì vi sinh vật trong tự nhiên hiện diện ở tất cả các
môi trường như: không khí, đất và nước. Hệ sinh vật trong nước: phần lớn vi
quá nhiều làm cho thức ăn thừa hoặc tan rã và chất thải của vật nuôi, làm ô
nhiễm môi trường nước nếu vượt sức chứa của ao, sức chứa hay là khả năng tự
làm sạch của ao là khả năng đồng hóa các chất cặn bã này, sự đồng hóa này chủ
yếu là nhờ các vi sinh vật thông qua các quá trình phân hủy vật chất hữu cơ
(đạm, hydrocacbon), các quá trình lên men, quá trình chuyển hóa các chất đạm
(cố định đạm, nitrite hóa và phân nitrate hóa), quá trình chuyển hóa các nguyên
tố khác (lưu huỳnh, phophore, sắt) (Trần Công Bình, 2002).
Các vi sinh vật cũng đóng vai trò dinh dưỡng cho các loài thủy sản, sinh khối
của vi sinh vật cũng có thể cung cấp thức ăn trực tiếp hoặc gián tiếp, một số loài
cá có khả năng ăn các chất vẩn hữu cơ lơ lững và các màng sinh học, vi khuẩn
là thành phần thức ăn của nhiều loài động vật phù du nên các loài thủy sản có
thể ăn gián tiếp chúng qua động vật phù du. Ngoài ra, một số vi khuẩn sống
trong đường ruột của cá có khả năng tiết ra Vitamin B12 bổ sung nhu cầu của
cá. Vi sinh vật còn đóng vai trò hỗ trợ sức khỏe cho các loài thủy sản, hệ vi sinh
vật trong ruột giúp tiêu hóa và hấp thu hiệu quả hơn, bảo vệ thành ruột chống sự
xâm nhập của vi khuẩn lạ, có thể kích thích hệ miễn dịch của cá (Trần Công
Bình, 2002).
2.6 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng
thủy sản
2.6.1 Tình hình nghiên cứu chế phẩm sinh học
Từ những vai trò có ích của vi sinh học, người ta đã có nhiều ứng dụng quan
trọng trong nuôi trồng thủy sản, như là tạo ra những chế phẩm sinh học dùng
trong thủy sản nhằm cải thiện môi trường, hạn chế dịch bệnh, tăng sức đề kháng
cho vật nuôi nhằm đem lại năng suất cao nhất.
Ý tưởng sử dụng vi khuẩn probiotic đã được Elie Metnhicoff đưa ra năm 1907
(Nguyễn Hữu Phúc, 2003 trích dẫn bởi Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1,
2005), khi kiểm tra việc tiêu thụ sữa chua, tác giả tìm thấy ảnh hưởng của vi
khuẩn Lactobacillus delbrueckii; Bulgaricus đến việc kéo dài tuổi thọ của người
Bungary.
44
huỳnh như Rhodobacter sp., Rhodospirillum, Rhodopseudomonas viridis, R.
palutris, Rhodomicrobium vanniell, các loại nấm Aspergillus oryzae, Aspergil-
lus niger, Rhizopus sp. Tuy nhiên, có nhiều chủng vi sinh vật thực hiện được
nhiều chức năng khác nhau, nên ranh giới của 3 nhóm này đôi khi phân chia
không rõ ràng (Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1, 2005). Theo Viện
nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 (2005) trên thế giới đã có khá nhiều nghiên
cứu về việc sử dụng probiotic trong nuôi trồng thủy sản.
45 Hình 2.2: Sơ đồ ảnh hưởng của chế phẩm sinh học (Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy
sản 1, 2005)
Theo Trần Công Bình và Trương Trọng Nghĩa (2002) trên thị trường thuốc và
hóa chất cho thủy sản hiện nay, các chế phẩm từ “vi sinh vật hữu ích” rất dạng
với nhiều tên thương mại khác nhau. Thành phần các chế phẩm này cũng rất
khác nhau, có thể chứa một loài hay rất nhiều loài vi khuẩn, có thể có bổ sung
thêm các men phân giải hữu cơ, các vitamin hay các chất chiết xuất sinh
Theo Nguyễn Đình Trung (2004), các enzym phân hủy các hợp chất hữu cơ
phức tạp thành các hợp chất hữu cơ đơn giản. Sau đó các chủng vi sinh vật phát
huy tác dụng như sau:
• Vi sinh vật dị dưỡng chuyển hóa các hợp chất hữu cơ đơn giản thành các
chất vô cơ. NH
3
được làm giảm do hai loài vi sinh vật tự dưỡng theo chu
trình, Nitrosomonas sử dụng ammonia NH
4
+
làm chất dinh dưỡng. Nhóm
vi sinh vật này khi sử dụng Ammonia sẽ sinh ra Nitrit (NO
2
-
) cũng gây
sốc cho tôm. Nitrobacter sẽ chuyển Nitrite (NO
2
-
) thành dạng Nitrate
(NO
3
-
) là chất không độc đối với tôm cá.
• Vi sinh vật thuộc nhóm Bacillus vừa sử dụng trực tiếp chất hữu cơ trong
ao, vừa khử Nitrate (NO
3
-
) thành Nitơ (N
2
Nguồn nước phải chủ động dẫn và tiêu dễ dàng: Theo qui trình ương thì thời
gian đầu dẫn nước vào từ từ và nâng cao dần mực nước. Cá bột thích sống ở
những vùng nước nông. Sau một thời gian cho thêm nước vào ao để làm cho
môi trường sống của cá rộng hơn, đồng thời cải thiện trạng thái hoá học của
nước
Chất đáy phải thích hợp: Chất đáy có tác dụng điều chỉnh độ béo của nước, nếu
chất đáy tốt có độ pH trung bình 6,5-7,5 thì dễ dàng tạo ra nguồn nước tốt. Nếu
chất đáy kém độ pH thấp hoặc rất cao thì khó gây được màu nước và phân bón
cũng lãng phí. Theo kinh nghiệm thực tế thì đất bùn là tốt nhất. Độ dày của bùn
từ 20-25cm là vừa, nếu quá dày thì dễ gây ra chất độc và trở ngại chi việc kéo
lưới.
Diện tích và độ sâu vừa phải: Ao ương cá bột vừa nhất là có diện tích khoảng
500-1000m
2
. Ao rộng quá khó chăm sóc, điều chỉnh màu nước chậm, khi có gió
dễ có sóng đánh dạt cá bột vào bờ. Ngược lại ao quá nhỏ thì ương cá bột được
ít, chất nước sẽ thay đổi đột ngột do ảnh hưởng của những điều kiện ngoại cảnh
sẽ không tốt cho sức khoẻ của cá. Độ sâu của ao chỉ từ 1-1,2m, cá bột thích sống
ở vùng nước nông, gần bờ nên không cần ao sâu.
Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ: Bờ ao sẽ hình thành dòng nước chảy, cá tập
trung nhiều vào đó không kiếm được mồi sẽ gây yếu, đồng thời cá dữ cũng theo
nước chảy mà lọt vào ao. Những ao bị rò rỉ không chủ động điều tiết mực nước,
mất chất màu mỡ, cá sinh trưởng kém và tỷ lệ hao hụt cao.
Ánh sáng đầy đủ: Thức ăn của cá bột là sinh vật phù du, sinh vật phù du cần ánh
sáng để sinh trưởng và phát triển. Do đó bờ ao không nên có nhiều bụi rậm và
cây cao, ao thoáng khí nhiều ánh sáng, thức ăn cho cá phong phú hơn.
Thuận tiện cho việc quản lý chăm sóc: Để gây thức ăn cho cá ương, thường hay
dùng nhiều đến phân chuồng vì vậy ao ương nên ở gần nhà để dễ chăm sóc quản
lý. Tuy nhiên, trong thực tế ít có ao đủ các tiêu chuẩn trên, các gia đình nên chú
trọng 2 tiêu chuẩn chính là nguồn nước và chất đáy tốt, còn những yêu cầu khác
làm thức ăn cho cá để sau khi thả là cá đã có sẵn thức ăn ngay. Cá mau lớn, ít
hao hụt. Thời gian bón lót thích hợp nhất là 6-7 ngày trước khi thả cá. Bón sớm
quá các loại địch hại có thời gian sinh sản phảttiển. Phân bón thường dùng là
phân chuồng. Một sào Bắc bộ dùng 80-100kg phân (khoảng 30-50kg/100m
2
).
Nếu dùng phân bắc thì sử dụng 15-20kg/100m
2
ao.
Đối với những ao ở miền rừng núi, trung du khó gaya màu thì số lượng phân
nhiều hơn số lượng nêu trên. Phân vẩy đều khắp ao. Nếu có điều kiện thì bừa
hoặc cào để trộn đều phân với bùn.
Tháo nước: Sau khi đã bón lót thì tháo nướcvào ao. Lúc đầu chỉ giữ mức nước
50-60cm. Chỉ tháo nước trước khi thả cá 1-2 ngày. Khi tháo nước vào phải kiểm
tra, lọc sạch sinh vật địch hại của cá không cho chúng theo vào.
Những công việc trên cần tiến hành tuần tự và kỹ lưỡng. Công việc chuẩn bị ao
làm sao chi sát ngày thả cá bột. Nếu chuẩn bị ao quá sớm, ngoài 10 ngày trở ra
thì các loài sinh vật địch hại phát triển trở lại, khi đó phải chuẩn bị lại lần nữa
thì rất tốn công và lãng phí phân.