Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm vi sinh vật trong đệm lót nền chuồng để nuôi gà lương phượng bố mẹ giai đoạn sinh sản Lương Văn Hiến. - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƢƠNG VĂN HIẾN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM
VI SINH VẬT TRONG ĐỆM LÓT NỀN CHUỒNG
ĐỂ NUÔI GÀ LƢƠNG PHƢỢNG BỐ MẸ
GIAI ĐOẠN SINH SẢN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS.TS. TRẦN THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2014Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là công trình
nghiên cứu của tôi. Số liệu và kết quả hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công
bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Môi trường không khí chuồng nuôi 3
1.1.1. Thành phần không khí chuồng nuôi 3
1.1.2. Tiểu khí hậu chuồng nuôi 8
1.1.3. Tiêu chuẩn vệ sinh đối với tiểu khí hậu chuồng nuôi gà 11
1.1.4. Các yếu tố khác 14
1.2. Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải động vật 15
1.2.1. Tiêu hủy phân và mùi hôi 15
1.2.2. Duy trì sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong chuồng nuôi 18
1.2.3. Tiêu diệt vi khuẩn có hại và gây bệnh trong chuồng nuôi 19
1.3. Đệm lót chuồng trong chăn nuôi gà 22
1.3.1. Chất đệm lót 22
1.3.2. Giới thiệu về đệm lót lên men vi sinh vật trong chăn nuôi gà 24
1.4. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước 27

3.3.6. Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi gà đẻ bố mẹ có sử dụng đệm lót vi
sinh vật 63
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, ĐỀ NGHỊ 67
1. Kết luận 67
2. Tồn tại và đề nghị 68
2.1. Tồn tại 68
2.2. Đề nghị 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC 79 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn đánh giá nồng độ một số khí độc trong không khí và
chuồng nuôi 12
Bảng 2.2. Yêu cầu vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi 12
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu lớp đệm lót 41
Bảng 3.2. Kết quả xác định một số chỉ tiêu về nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi 44
Bảng 3.3. Kết quả xác định một số chỉ tiêu về khí độc chuồng nuôi 46
Bảng 3.5. Tỷ lệ trứng giống và năng suất trứng giống của gà thí nghiệm 53
Bảng 3.6. Tỷ lệ trứng có phôi của đàn gà thí nghiệm 55
Bảng 3.7. Tỷ lệ ấp nở/trứng ấp của đàn gà thí nghiệm 56
Bảng 3.8. Tỷ lệ gà con loại I/trứng ấp 56
Bảng 3.9. Tổng hợp kết quả tỷ lệ ấp nở của đàn gà thí nghiệm 58
Bảng 3.10. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 59
Bảng 3.11. Kết quả theo dõi tình hình nhiễm bệnh và nguyên nhân chết 61

1. TN: Thí nghiệm
2. ĐC: Đối chứng
3. TTTA : Tiêu tốn thức ăn
4. HQSDTA: Hiệu quả sử dụng thức ăn
5. VSV: Vi sinh vật
6. TB: Trung bình
7. LP: Lương Phượng
8. CS: Cộng sự
9. QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
10. TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
11. NXB : Nhà xuất bản
12. TT: Tuần tuổi
13. Kph: Không phát hiện thấy
14. BNN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
15. GHCP: Giới hạn cho phép
16. KKCN: Không khí chuồng nuôi
17. ppm: Parts per million (phần triệu)
18. ppb: Parts per billion (phần tỷ)
19. h: Giờ
20. CFU: Colony Forming Unit (đơn vị khuẩn lạc)
21. NS: Năng suất
22. TLNS: Tỷ lệ nuôi sống
23. đ: Đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 1
MỞ ĐẦU

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
Một số biện pháp xử lý ô nhiễm đã và đang sử dụng như thu gom chất thải,
dọn chuồng hàng ngày, sử dụng biogas, ủ phân, làm thức ăn cho cá đã phần nào
giải quyết được vấn đề quản lý phân và chất thải chăn nuôi. Tuy nhiên vấn đề ô
nhiễm mùi và các khí thải độc hại thì vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Vì vậy, việc đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường trang trại chăn nuôi
gia cầm là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu phát triển chăn nuôi bền vững và bảo vệ
môi trường.
Hiện nay để có thể xử lý phân, chất thải chăn nuôi một cách triệt để, tạo môi
trường trong sạch mà tiêu tốn ít tiền và nhân công, không phải thực hiện vệ sinh
hàng ngày thì một trong những giải pháp hiệu quả là sử dụng chế phẩm vi sinh vật
để xử lý chất đệm lót nền chuồng nuôi, nhằm làm giảm mùi hôi, phân huỷ phân,
chất thải ngay tại chỗ. Đây là một trong những công nghệ chăn nuôi sinh thái, đã và
đang được áp dụng ở nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan… Tuy
nhiên, trước khi khuyến cáo áp dụng rộng rãi phương pháp này, việc kiểm chứng
những lợi ích về mặt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của phương pháp chăn
nuôi này trong điều kiện Việt Nam nói chung đặc biệt là chăn nuôi gia cầm của
huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang là hết sức cần thiết. Chính vì vậy, tôi lựa chọn và
thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm vi sinh vật trong đệm lót
nền chuồng để nuôi gà Lương Phượng bố mẹ giai đoạn sinh sản”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng đệm lót lên men vi sinh vật trong
chăn nuôi gà đẻ bố mẹ và vệ sinh môi trường chăn nuôi.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được ảnh hưởng tốt của việc xử lý vi sinh vật đệm lót tới các chỉ
tiêu chất lượng đệm lót và các thông số tiểu khí hậu chuồng nuôi.

2
, thở ra CO
2
và H
2
O. Sự
“thiếu oxy” ít khi xảy ra trong chuồng nuôi gia cầm bởi vì gia cầm có thể hít đủ
lượng oxy cần thiết ngay cả khi nồng độ oxy trong không khí thấp hơn đáng kể so
với bình thường. Những gì được gọi là “thiếu oxy” trong thực tế chỉ xảy ra khi có
sự kết hợp của nồng độ CO
2
cao, nhiệt độ và độ ẩm cao (Hulzebosch, 2004) [42].
Sự thiếu hụt oxy ảnh hưởng xấu đến sự điều tiết nhiệt và các quá trình trao đổi chất
gia cầm nếu nhiệt độ thấp. Nếu nhiệt độ cao mà thiếu oxy thì gây nguy hiểm cho hệ
tim mạch vì nó làm giảm khả năng điều tiết nhiệt của cơ thể.
Khí CO
2
được sinh ra trong quá trình thở và các quá trình phân hủy của vi
sinh vật. Trong không khí thở ra của gà chứa gần 4 % CO
2
. Các chuồng nuôi có mật
độ đông, thông khí kém, không khí bị bão hòa, khí CO
2
có thể vượt quá tiêu chuẩn
cho phép (Hoàng Thu Hằng, 1997) [11]. Nồng độ khí CO
2
trong chuồng nuôi
thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của hệ thống thông gió hay mức độ
thông thoáng trong chuồng.


cao chứng tỏ chuồng nuôi không thoáng khí, quản lý
không tốt.
Ngoài thành phần khí thông thường, trong chuồng nuôi gia cầm còn tồn tại
một số khí độc hại như: H
2
S, NH
3
, CH
4
và bụi.
a. Hydro sulphua (H
2
S)
Theo trang Vidkipedia: Hydro sulfua, hydrogen sulfid hay hiđro suynfua
(công thức hóa học: H
2
S) được định nghĩa là hợp chất khí ở điều kiện nhiệt độ
thường có mùi trứng thối, độc.
Ở nồng độ rất thấp, khoảng 30ppb, H
2
S có thể được phát hiện bởi 80 % số
người tham gia thực nghiệm (Schiffman và cs, 2002) [49]. Các khí thải H
2
S sinh ra
được giữ lại trong chất lỏng của nơi lưu giữ phân. H
2
S là một khí độc có mùi rất
khó chịu, với nồng độ thấp nó cũng gây độc, ở nộng độ cao H
2
S gây viêm phổi cấp

S ít hay nhiều
đều giống nhau đó là thông qua đường hô hấp.
Nồng độ H
2
S cao hay thấp phụ thuộc vào việc quét dọn chuồng trại có sạch
sẽ, thường xuyên hay không, chuồng có khô ráo, thoáng khí hay không. Chuồng trại
càng ẩm ướt thì nồng độ H
2
S càng tăng. Do vậy, việc tạo ra môi trường đảm bảo vệ
sinh thú y đối với các cơ sở chăn nuôi, giảm thiểu khí H
2
S là một việc làm rất quan
trọng. Chỉ tiêu vệ sinh cho phép về hàm lượng khí H
2
S trong chuồng nuôi là
0,015mg/l (Đỗ Ngọc Hoè, 1995) [12].
b. Ammoniac (NH
3
)
Ammoniac là một hợp chất hữu cơ có công thức phân tử NH
3
. Ở điều kiện
tiêu chuẩn, nó là một chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước (Vikipedia,
tiếng việt). Khí NH
3
là loại khí thải do sự phân giải của phân gia súc, gia cầm trong
chuồng nuôi. Khí NH
3
không màu, có mùi hắc và là một trong những khí độc gây ô
nhiễm môi trường chủ yếu trong chuồng gà. NH

đường hô hấp. Lượng NH
3
≥ 100 ppm có thể gây loét niêm mạc, gây mù mắt với
các dấu hiệu của sự tăng tích nước mắt, thở nông và những tổn thương ở mũi. Các
nghiên cứu của Büscher và cs (1994) [34] cũng chỉ ra rằng: Hàm lượng NH
3
trong
không khí chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm lớp đệm lót,
mức độ vệ sinh chuồng trại, mật độ nuôi, khẩu phần ăn…
Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào độ pH, nếu độ pH trên 7 sự giải phóng
nhanh, dưới 7 giải phóng chậm (độ pH phân gà, lợn,… khoảng 8,5) (Choi và
Moore, 2008) [37]. Nồng độ NH
3
thường xuyên được phát hiện trong các trại chăn
nuôi thường ≤ 100 ppm. Ảnh hưởng có hại của NH
3
trong các chuồng nuôi thường
gây stress mãn tính, chúng cũng là nguyên nhân trong các tiến trình của dịch bệnh
(Carlile, 1984 [36]; Nagaraja 1984 [47]). Như vậy nếu người chăn nuôi để gia cầm
tiếp xúc với NH
3
với nồng độ cao hơn 15ppm trong một thời gian dài thì sẽ làm
tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp.
c. Methane (CH
4
)
Với công thức hóa học là CH
4
, là một hydrocacbon nằm trong dãy đồng đẳng
ankan. Methane là hydrocacbon đơn giản nhất. Ở điều kiện tiêu chuẩn, Methane là

thống sưởi, hệ thống giàn mát, hệ thống cống rãnh, quá trình sản xuất và kỹ thuật vệ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7
sinh môi trường. Vì vậy, cần phải có những biện pháp làm giảm nồng độ các khí
độc trong chuồng nuôi như khí CO
2
, NH
3
, H
2
S,… là tối cần thiết và cấp bách trong
điều kiện Việt Nam hiện nay (Nguyễn Thị Mai và cs, 1994) [15].
d. Bụi và các vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi
Bụi và vi sinh vật là thành phần không thể không bàn đến trong không khí
chuồng nuôi. Bụi bản chất là những hạt vật chất nhỏ bé bay lơ lửng trong không
khí. Trong chuồng nuôi các đối tượng như phân khô, chất đệm chuồng, đất nền, da,
lông con vật là… nguyên nhân phát sinh nên bụi và các vi sinh vật khác.
Các tác nhân như: nhiệt độ, độ ẩm, nguyên liệu được con người dùng làm
đệm lót, qua thời gian sử dụng lớp đệm lót và sự hoạt động của gà là đã tạo thành
bụi trong chuồng (Takai và cs, 1998) [51] lượng bụi tạo ra nhiều hay ít phụ thuộc
vào các tác nhân trên.
Về mặt cơ học, bụi có thể bay vào mắt gà làm mờ mắt có thể kích ứng gây
đau mắt, bụi bám vào bề mặt phế nang gây cản trở hô hấp, về mặt hóa học bụi làm
tổn thương lớp màng nhầy đường hô hấp của gà, bụi còn là vật dẫn cho nhiều vi
sinh vật gây bệnh tồn tại dưới các dạng hạt sương vi khuẩn lắng đọng trên các hạt
bụi và bị khô lại đây gọi là bụi vi khuẩn. Theo Hoàng Thu Hằng (1997) [11], các
hạt bụi có kích thước 1µm sẽ kết tủa 100 lần. Những hạt ≤ 1µm có khối lượng

nhất gọi đó là khoảng tối thích. Trong chăn nuôi gà công nghiệp cũng vậy, yếu tố
nhiệt độ trong chuồng nuôi cực kỳ quan trọng. Mỗi giống và lứa tuổi gà nuôi khác
nhau đều yêu cầu một khoảng nhiệt độ thích hợp khác nhau (gọi là vùng nhiệt trung
tính). Tại vùng nhiệt độ này con gà nuôi có thể ổn định thân nhiệt theo mức sinh lý
bình thường. Bên ngoài vùng nhiệt trung tính được gọi là vùng nhiệt khủng hoảng.
Khi nhiệt độ môi trường nuôi giảm thấp, gà phải sử dụng năng lượng lấy từ thức ăn
(tăng cường đốt cháy chất dinh dưỡng) để duy trì thân nhiệt, do vậy sẽ kích thích
tiêu thụ thức ăn nhiều hơn. Ngược lại khi nhiệt độ môi trường tăng cao hơn mức
giới hạn, khả năng tự giảm bớt nhiệt của cơ thể bị hạn chế. Gà sử dụng thức ăn ít
hơn, một phần phải tiêu tốn năng lượng để chống nóng (tăng nhịp hô hấp, uống
nước nhiều, thải phân lỏng,…) năng lượng tích lũy giảm kéo theo giảm năng suất và
sản lượng chăn nuôi, nếu vượt quá ngưỡng có thể gây Stress nhiệt dẫn đến chết.
Nhiệt độ không khí trong chuồng nuôi phụ thuộc rất nhiều vào: lứa tuổi, khối
lượng cơ thể, phương thức nuôi, thức ăn, độ ẩm, mức độ thoáng khí… (Hulzebosch,
2004) [42]. Nhiệt độ gây chết phụ thuộc vào các giống gà, giới tính, thời gian trong
năm và sự thuần hóa trước đó, thay đổi từ 45 - 47
0
C. Theo Huzelbosch (2004) [42]
khuyến cáo, nhiệt độ thích hợp cho gà đẻ là 20
0
C. Ở mỗi mức nhiệt độ thấp hơn 1
0
C
thì mỗi con gà sẽ cần thêm 1,5g thức ăn mỗi ngày. Mức nhiệt độ sản xuất cho gà đẻ
là 20 - 24
0
C. Khi nhiệt độ cao hơn 24
0
C thì chất lượng vỏ trứng và trọng lượng
trứng giảm. Đối với gà thịt mức nhiệt độ thích hợp phụ thuộc vào lứa tuổi.

Hình 2.1. Sự phân bố của gà ở các điều kiện khác nhau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 10

b. Độ ẩm của không khí chuồng nuôi
Độ ẩm của không khí chính là hàm lượng hơi nước có trong không khí, hàm
lượng này phụ thuộc vào nhiệt độ vì thông thường nhiệt độ càng cao sự bay hơi
nước càng mạnh dẫn tới độ ẩm cao và ngược lại. Trong chuồng nuôi, không khí
thường bão hòa hơi nước do gà thải ra ngoài trong khí thở cùng với lượng nước bốc
hơi từ phân, từ bề mặt của trang thiết bị cung cấp nước, từ nước rơi vãi và hơi ẩm từ
ngoài vào. Khi nhiệt độ chuồng nuôi xuống thấp gà ăn nhiều hơn, uống nước nhiều
hơn và thải nước theo phân nhiều dẫn tới độ ẩm chuồng nuôi tăng lên từ thực tiễn
trên trong chăn nuôi gà công nghiệp, để duy trì độ ẩm chuồng nuôi một cách chủ
động, biện pháp tích cực nhất để đẩy lượng hơi nước thừa ra bên ngoài là trang bị
hệ thống quạt hút gió.
Độ ẩm không khí quá cao sẽ làm cho lớp đệm lót luôn ở trạng thái ẩm ướt,
trứng gà đẻ trong nền chuồng nuôi sẽ bị bẩn. Khi độ ẩm cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho vi sinh vật trong chuồng nuôi phát triển và số lượng của chúng có thể lên tới một
giới hạn nguy hiểm, nhất là trong điều kiện khí hậu lạnh làm cho lớp đệm chuồng ẩm
ướt, bẩn dễ phát sinh các bệnh lây lan, nhất là bệnh ký sinh trùng. Một trong những
bệnh liên quan đến độ ẩm cao ở gà thịt là cầu trùng (coccidiosis). Ngược lại độ ẩm
thấp cũng có hại cho gà vì bụi sinh ra nhiều làm hỏng màng nhầy niêm mạc, không
khí làm khô da, gây bệnh ngứa và là một trong những nguyên nhân gây mổ nhau và
ăn lông. Khi hàm lượng bụi trong chuồng nuôi cao sẽ làm tăng số lượng vi sinh vật
trong khí và làm tăng nguy cơ mắc bệnh đường hô hấp của gà.
Vậy độ ẩm bao nhiêu thì phù hợp nhất cho gà?
Theo Hulzebosch (2004) [42], sau khi thực hiện các thí nghiệm về độ ẩm

đó kế phát các bệnh đường hô hấp. Tuy nhiên, về mùa hè, nếu tốc lưu thông không
khí trong chuồng nuôi quá thấp sẽ làm giảm nồng độ oxy và tăng sự tích tụ các khí
độc trong chuồng nuôi.
Trong các chuồng nuôi tập trung với mật độ gà lớn thì cường độ không khí
và sự chuyển động của nó không thể xem nhẹ và chúng là một nhân tố ảnh hưởng
đến sức khỏe gà.
1.1.3. Tiêu chuẩn vệ sinh đối với tiểu khí hậu chuồng nuôi gà
Nhu cầu về các sản phẩm của ngành chăn nuôi gia cầm ngày càng tăng, đã
thúc đẩy mạnh mẽ chăn nuôi gia cầm tập trung theo hướng phát triển công nghiệp.
Phương thức chăn nuôi thâm canh trong chuồng nuôi chiếm ưu thế đáp ứng tốc độ
ngành chăn nuôi.
Trong điều kiện chăn nuôi thâm canh, tiểu khí hậu chuồng nuôi trở thành yếu
tố quyết định trong việc tạo lập những điều kiện môi trường thuận lợi nhất: nhiệt độ,
độ ẩm, trao đổi khí, chiếu sáng để phù hợp với đặc điểm sinh lý của gà đẻ. Bởi
vậy, việc tạo ra những điều kiện tiểu khí hậu phù hợp nhất trong chuồng nuôi được
coi là cơ sở của sức đẻ trứng cao, sức khoẻ của gà.
Hàm lượng các khí độc (CO
2
, NH
3
, H
2
S) như phần trên đã nêu được sản sinh
ra trong quá trình bài tiết phân và nước tiểu. Nó là sản phẩm của quá trình phân giải
các chất hữu cơ có trong phân, nước tiểu, chất đệm lót chuồng. Với hàm lượng vượt
quá giới hạn cho phép sẽ gây ảnh hưởng bất lợi cho gia súc, gia cầm và người chăn
nuôi, có thể dẫn tới trúng độc ở hàm lượng cao trong không khí chuồng nuôi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Tiêu chuẩn không khí
chuồng nuôi
TCVN 5938-1995
TCN 679 - 2006
NH
3

mg/m
3
0,0002
0,0075
CO
2

%
0,3 - 0,4
2,5 - 3
Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 01 - 15: 2010/BNNPTNT) được
ban hành theo Thông tư số 04/2010/TTBNNPTNT ngày 15/1/2010 về các điều kiện
đảm bảo trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học, yêu cầu điều kiện vệ sinh thú y
không khí chuồng nuôi phải đạt các chỉ tiêu quy định ở phụ lục của quy chuẩn
(bảng 2.2).
Bảng 2.2. Yêu cầu vệ sinh thú y không khí chuồng nuôi
TT
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Giới hạn tối đa
Phƣơng pháp thử
1
Vi khuẩn hiếu

- Tiêu chuẩn về nồng độ tối đa cho phép của các chất khí trong chuồng nuôi
gà (bảng 2.3).
Bảng 2.3. Nồng độ một số chất khí trong chuồng nuôi gà theo tiêu chuẩn của
cộng đồng chung châu Âu (EU) (Hulzebosch, 2004) [42]
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Giới hạn tối đa
Ghi chú
CO
vol %
0

CO
2

vol %
<0,25
<2500ppm
NH
3

ppm
<25
<0,0025vol %
H
2
S
ppm
0


Bảng 2.4. Nồng độ tối đa của một số chất khí trong chuồng nuôi gà (Barnwell
R. và Wilson M. 2005) [31]

Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Giới hạn tối đa
Ghi chú
O
2

vol %
>19,6

CO
2

vol %
<0,3
<3000ppm
CO
ppm
<10

NH
3

ppm
<10
<0,0010vol %
Độ ẩm tương đối

pháp tháo gỡ, đảm bảo chăn nuôi an toàn, hiệu quả.
1.1.4. Các yếu tố khác
a. Sự chiếu sáng
Gà rất nhạy cảm với ánh sáng và sự chiếu những tia sáng có thể nhìn thấy
ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của chúng. Các thí nghiệm đã chứng tỏ được
sức đẻ trứng tăng lên không phải do kéo dài thời gian mà là do tác động của bản
thân ánh sáng. Morris đã đưa ra giả thiết về ảnh hưởng của ánh sáng đối với gà: tác
động của ánh sáng đến sự đẻ trứng liên quan tới sự rụng trứng và sự chín của các
bao noãn, đặc điểm của tác động này bao gồm 2 mặt: Một mặt nó quyết định thời
gian đẻ trứng, mặt khác nó quyết định mức độ của khả năng đẻ trứng. Về cường độ
ánh sáng: Niklas và cộng sự cho biết giới hạn chiếu sáng từ 5,4 - 409 lux thì khả
năng đẻ trứng của gà như nhau. Ostrander và cộng sự cho rằng cường độ chiếu sáng
10,8 lux đủ để gà mái đẻ cao nhất.
Màu sắc của ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sức sản xuất của gà. Karlson và
cộng sự đã nghiên cứu và có nhận xét rằng: tác động kích thích mạnh mẽ nhất là
ánh sáng trắng lạnh, đỏ và xanh lam. Thời gian chiếu sáng từ 13 - 14 giờ/ngày được
coi là giới hạn đảm bảo cho gà đẻ được nhiều trứng nhất với phương pháp tăng dần
thời gian chiếu sáng trong thời gian gà đẻ phần lớn đạt kết quả tốt.
b. Mật độ gà nuôi
Khả năng sản xuất của gà phụ thuộc vào mật độ nuôi tức là số lượng gà
mái/1 m
2
với lớp đệm chuồng phải có hệ thống thông khí tốt.
Tiêu chuẩn mật độ theo các phương pháp nuôi (đầu con/ 1 m
2
)
Nuôi chăn thả (thông khí tự nhiên): 3 - 4 con/ 1 m
2

Nuôi trên lớp đệm chuồng (thông khí nhân tạo): 3 - 4 con/ 1 m

dễ sinh bụi và hút ẩm, sử dụng lâu dễ sinh nấm mốc và ký sinh trùng phát triển, gà
thường mổ ăn mùn cưa nên dễ ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.
Ở Việt Nam hiện nay vỏ trấu đựơc sử dụng rộng rãi phổ biến làm chất đệm
lót chuồng trong chăn nuôi gà công nghiệp vì sẵn và rẻ tiền, dễ vận chuyển.
1.2. Vai trò của vi sinh vật trong xử lý chất thải động vật
1.2.1. Tiêu hủy phân và mùi hôi
Theo định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, trong tự nhiên và kỹ thuật
năng lượng không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa
từ dạng này sang dạng khác. Trong sinh vật cũng vậy, vật nuôi ăn thức ăn, thải ra một
lượng phân và nước tiểu, tự nhiên lại có một số loại vi sinh vật có khả năng phân giải
và đồng hóa các chất thải động vật như phân, nước tiểu. Quá trình phân giải này tạo
thành các thành phần trao đổi chất có tác dụng khử mùi trong chuồng trại như axit hữu
cơ (trung hòa và cố định NH
3
), rượu (trung hòa mùi lạ và diệt virus…), các enzyme,
các chất loại kháng sinh… Đặc biệt, vi sinh vật đồng hóa phân, nước tiểu để tạo thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 16
protein của chính bản thân chúng, nguồn protein vi sinh vật này có thể được động vật
hay vật nuôi sử dụng. Quá trình phân giải diễn ra theo một số cơ chế sau:
a. Sự lên men vi sinh vật phân huỷ phân gà
Các vi sinh vật có ích sẽ bám quanh phân, sẽ tiết ra các enzyme ngoại bào
thực hiện quá trình phân giải bằng sự oxi hóa và lên men. Quá trình lên men phân
giải phân trong chuồng nuôi là lên men hiếu khí, với sự tham gia của oxi đã thực
hiện các thành phần hydratcacbon và các hợp chất có chứa cacbon bị oxi hóa tạo ra
năng lượng thông qua quá trình oxi hóa photphoril hóa. Năng lượng trong các mạch
cacbon được giải phóng hoàn toàn và giải phóng ra CO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status