đánh giá hiệu quả sử dụng chế phẩm đa enzyme trong thức ăn cho gà thịt - Pdf 30



B
B

ỘG
G
I
I
Á
Á
O
OD
D


C
CV
V
À
À



B
B

ỘN
N
Ô
Ô
N

N
N
NH
H


C
CV
V
I
I


N
NN
N
Ô
Ô
N
N
G

A
M
M



PHẠM THỊ KIM ANH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM ĐA ENZYME
TRONG THỨC ĂN CHO GÀ THỊT LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ TUYẾT LÊ
TS. TRẦN QUỐC VIỆT




Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Pageii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp tại Học viện
Nông nghiệp Việt Nam ngoài sự cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự
giúp đỡ quý báu của của nhiều cá nhân và tập thể.
Lời đầu tiên tôi xin được cảm ơn Ban giám đốc Học viện Nông nghiệp
Việt Nam, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thủy sản, cùng toàn thể
các thầy cô giáo đã trang bị cho tôi những ki
ến thức chuyên sâu về chuyên môn
nghề nghiệp và tư cách đạo đức làm nền tảng cho tôi trong cuộc sống và công
việc sau này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Thị Tuyết Lê và TS.
Trần Quốc Việt đã dành nhiều thời gian, tâm huyết tận tình hướng dẫn tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

2.1.1. Sơ lược lịch sử sử dụng enzyme thức ăn 3
2.1.2. Cơ chế tác động của các enzyme thức ăn 5
2.1.3. Hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe hệ thống tiêu hóa của vật nuôi 7
2.1.4. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng enzyme thức ăn ở
Vi
ệt Nam 9
2.1.5. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng enzyme thức ăn trên
thế giới 11
2.2. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA GIA CẦM 14
2.2.1. Khả năng sinh trưởng 14
2.2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 16
2.2.3. Cơ sở khoa học về hiệu quả sử dụng thứ
c ăn trong chăn nuôi gia cầm 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 25
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
3.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pageiv

3.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.3.1. Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 1 26
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cho nội dung 2 31
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu 32
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1. XÁC ĐỊNH LIỀU LƯỢNG BỔ SUNG CHẾ PHẨM ĐA
ENZYME (RTD – ENZYME POWDER
TM
) TRONG CÔNG

5. KL: Khối lượng
6. KPCS: Khẩu phần cơ sở
7. NLTĐ: Năng lượng trao đổi
8. Nxb: Nhà xuất bản
9. LTATN: Lượng thức ăn thu nhận
10. TĂ: Thức ăn
11. TĂHH: Thức ă
n hỗn hợp
12. TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
13. TL: Tỉ lệ
14. TN: Thí nghiệm
15. TTTA: Tiêu tốn thức ăn
16. PN: Chỉ số kinh tế
17. SS: Sơ sinh
18. VCK: Vật chất khô 
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevi

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT Tên bảng Trang



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Pagevii

DANH MỤC CÁC HÌNH

STT Tên hình Trang

Hình 4.1. Khối lượng của gà thí nghiệm 40
Hình 4.2. Sinh trưởng tuyệt đối của gà qua các ngày tuổi 37
Hình 4.3. Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 43
Hình 4.4. Khối lượng của gà thí nghiệm 50
Hình 4.5. Sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 52
Hình 4.6. Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của gà thí nghiệm 58
\


khẩu phần tối ưu với giá thấp nhất ngày càng trở nên khó khăn và việc đ
a
dạng hóa khẩu phần, sử dụng các nguyên liệu khác để giảm giá thành là vấn
đề được quan tâm hàng đầu ở các nước châu Á (Wang và ctv,2005).
Hiện chúng ta đang có xu hướng sử dụng các nguyên liệu như lúa mỳ,



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page2

đại mạch, cám gạo, khô dầu dừa… xây dựng thức ăn cho gà thịt để giảm áp
lực về giá nhưng phương pháp này lại làm tăng hàm lượng gluxit không phải
tinh bột (NPS) trong khẩu phần, làm giảm tỉ lệ tiêu hóa và khả năng hấp thu
các chất dinh dưỡng, giảm năng suất sinh trưởng của gà (Choct và Annison,
1992). Hiện nay các chất bổ sung dùng trong thức ăn chăn nuôi rất phong
phú, ngoài các chất bổ sung truyền thống như kháng sinh, dược li
ệu, các hóa
chất đã được sử dụng phổ biến từ lâu thì các chất bổ sung như enzyme thức
ăn, probiotic, prebiotic, các axit hữu cơ được sử dụng rất rộng rãi. Trong đó
enzyme thức ăn được đánh giá là có tiềm năng, được sử dụng rộng rãi nhất và
đang là lĩnh vực thu hút sự quan tâm không chỉ các nhà khoa học mà đặc biệt
là các nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại.
Chính vì nhữ
ng lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh
giá hiệu quả sử dụng chế phẩm đa enzyme trong thức ăn cho gà thịt”.
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA
− Mục đích của đề tài
+ Đánh giá được hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm đa enzyme (α-
amylase, protease, cellulase, β-glucanase và xylanase) trong khẩu
phần ăn của giống gà lông mầu nuôi thịt giống lai (Trống Ri x mái

điều khiển và phối hợp những hệ thống phản ứng hoá sinh ấy. Nhờ enzyme
mà các quá trình hoá học trong cơ thể sống xảy ra r
ất nhạy và rất nhanh trong
những điều kiện sinh lý bình thường.
Từ năm 1926, khi bản chất protein của enzyme được khám phá, các
nghiên cứu về enzyme đã đạt được những thành tựu đáng kể. Cho tới nay,
trên 3000 enzyme đã được mô tả một cách chi tiết, trong đó nhiều enzyme đã
được phân lập. Người ta đã khám phá ra cấu trúc bậc nhất, các bậc cấu trúc
không gian và mô tả khá chi tiết cơ chế tác động của nhiều enzyme.
Hiện nay, “Enzyme học” đã hình thành và trở thành ngành khoa học mũi
nhọn của sinh học phân tử. Công nghệ enzyme đã trở thành nền tảng và là một
bộ phận của công nghệ gen nói riêng và của công nghệ sinh học nói chung.
Từ thời cổ đại, enzyme đã được con người sử dụng trong chế biến thực
phẩm (pho mát từ sữa và kẹo malt từ đại mạch). Đến nay đã có trên 3000 loại
enzyme đã được phát hi
ện. Tuy nhiên, công nghệ enzyme hiện đại chỉ thực sự



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page4

được bắt đầu từ năm 1874 khi lần đầu tiên dịch vị trong dạ dày của bê được
chiết xuất và sử dụng trong sản xuất phomat (công nghệ này vẫn được ứng
dụng cho đến ngày nay) (Sheppy, 2001). Trước những năm 1980, việc sản
xuất enzyme trên thế giới chủ yếu phục vụ cho mục đích công nghiệp (tẩy rửa
công nghiệp: 27%; công nghiệp chế biến: 8%; công nghiệp sợi và dệt: 6%;
s
ản xuất tinh bột: 12% và các mục đích khác: 47%).
Trong thập kỷ 80, tổng giá trị các sản phẩm enzyme công nghiệp bán ra
trên toàn thế giới ước tính khoảng 400 triệu USD. Năm 1995, khoảng trên 1

tái tổ hợp, nhiều chủng vi sinh vật chuyển gen, mang những gen đặc hiệu có
thể sản xuất các enzyme tiêu hóa (cellulase, beta-glucanase, xylanase và
phytase vv) với hiệu suất cao đã được tạo ra và lư
u giữ như nguồn giống vi
sinh vật phục vụ cho công nghệ sản xuất enzyme (Harry và ctv, 1993).
Cho đến nay, việc lên men vi sinh vật phục vụ cho mục đích sản xuất
enzyme thường được thực hiện bằng phương pháp lên men lỏng (động và
tĩnh), lên men bán lỏng và lên men xốp. Việc lựa chọn phương pháp nào hoàn
toàn tùy thuộc vào loài vi sinh vật được sử dụng (Robinson và ctv, 2001).
Quy trình công nghệ sản xuất enzyme ngày càng trở nên hoàn thiện với sự trợ
giúp của các trang thiết bị và kỹ thuật hiện đại. Chính vì vậy, sản lượng các
sản phẩm enzyme thương mại không ngừng tăng lên nhưng số nhà sản xuất
enzyme trên thế giới không nhiều. Hiện nay trên toàn thế giới chỉ có khoảng
gần 20 nhà sản xuất enzyme chính (Tony và ctv, 1996).
2.1.2. Cơ chế tác động của các enzyme thức ăn
Trong khẩu phần thức ăn cho lợn và gia cầm, các loại hạt cốc (ngô, lúa
nướ
c, lúa mỳ, đại mạch…vv) và các loại khô dầu (khô dầu đậu tương, khô
dầu lạc, khô dầu hạt cải, khô dầu dừa…vv) là những nguyên liệu chiếm tỷ lệ
lớn. Thành phần chủ yếu của các loại hạt cốc là tinh bột, ngoài tinh bột, trong
thành phần của chúng còn có tỷ lệ đáng kể các chất kháng dinh dưỡng (lectin,
phytate và các polysaccharide không phải tinh bột (NSP) (Acamovic, 2001).
Một số loại NSP không hòa tan (insoluble NSP) dễ dàng kết hợp với các chấ
t
dinh dưỡng, cản trở sự tác động của các enzyme nội sinh, chúng có thể kết
hợp với nước (với khối lượng gấp vài lần phân tử lượng của chúng) làm cho
khả năng giữ nước của thức ăn tăng lên, do đó, làm tăng tiêu thụ nước ở động




Tuy nhiên, để việc sử dụ
ng các enzyme thức ăn có hiệu quả, cần lưu ý
đến tính tương thích giữa các enzyme ngoại sinh với các enzyme nội sinh để
tránh gây nên hiệu ứng “phản hồi âm” (ức chế cơ thể vật nuôi tạo ra những



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page7

enzyme tương tự) và sự tương thích giữa các enzyme ngoại sinh với các thành
phần của khẩu phần. Để làm được điều đó cần phải lựa chọn đối tượng vật
nuôi phù hợp (loài, tuổi, trạng thái sinh lý và tính năng sản xuất) và phải có
những khảo sát kỹ lưỡng đặc điểm của các nguyên liệu thức ăn thường được
sử dụng ở mỗi vùng để xây d
ựng các khẩu phần ăn có những thành phần có
tính tương thích cao với các enzyme được sử dụng. Trên cơ sở phân tích các
thành phần xơ, các loại thức ăn nguồn gốc thực vật dùng trong chăn nuôi lợn
và gia cầm được phân làm bốn nhóm: Nhóm I gồm đại mạch và yến mạch
(những nguyên liệu chứa tỷ lệ cao các beta-glucan), nhóm II gồm mạch đen
và lúa mỳ (chứa nhiều pentosan), nhóm III gồm cao lương và ngô (có hàm
lượng beta-glucan và pentosan thấp) và nhóm IV là các loạ
i thức ăn giàu
protein có nguồn gốc thực vật chứa pectin và galacto-saccharide (Marquardt
và ctv, 1996). Mối quan hệ tương tác giữa các enzyme ngoại sinh với các
thành phần khẩu phần, với vật nuôi mà cụ thể là với các enzyme nội sinh là
rất phức tạp và cho đến nay vẫn chưa được hiểu biết một cách đầy đủ.
2.1.3. Hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe hệ thống tiêu hóa của vật nuôi
Hiện nay, trong dinh dưỡng gia súc hiện
đại, sức khỏe của hệ tiêu hóa
đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm. Một khẩu phần ăn lý tưởng sẽ

và 10
9
-10
12
cfu/ml
chất chứa tương ứng) (Jans, 2005).
Sức khỏe của hệ thống tiêu hóa ở vật nuôi phụ thuộc vào 3 yếu tố
chính: trạng thái sinh lý của vật chủ, khẩu phần thức ăn và hệ VSV. Các yếu
tố này chịu tác động của môi trường, của các stress và tác động qua lại lẫn
nhau. Trong các nhân tố trên, hệ VSV đường tiêu hóa đóng vai trò trung tâm,
chỉ một biến động bất lợi của một trong hai yếu t
ố còn lại cũng ảnh hưởng
xấu tới hệ VSV (Conway, 1994). Sự cộng sinh của các loài VSV trong đường
tiêu hóa của vật nuôi (chủ yếu là trong ruột) tạo nên một hệ sinh thái mở và
mối cân bằng của quần thể VSV được xác lập chỉ một thời gian rất ngắn sau
khi sinh (Jans, 2005).
Có nhiều quan điểm khác nhau về mối tương quan cân bằng của hệ
VSV ruột. Theo Jans (2005) để đánh giá trạng thái cân bằng , các VSV ruộ
t
được chia thành 3 nhóm: (1) nhóm chủ yếu (main flora) gồm các loài vi
khuẩn kị khí (Clostridia; Lactobacilli; Bifidobacteria; Bacteroides;
Eubacteria); (2) nhóm vệ tinh (Satellite flora) gồm chủ yếu là Enterococci và
E. coli, và (3) nhóm còn lại (Residual flora) gồm các VSV có hại như
Proteus; Staphylococci và Pseudomonas. Một quần thể VSV được coi là cân
bằng khi tỷ lệ của các nhóm dao động trong khoảng 90:1,0 và 0,001% tương
ứng. Trạng thái mà các nhóm này hình thành một tỷ lệ 90:1,0:0,001 được coi
là trạng thái “eubiosis” (tiếng Hy Lạp có nghĩa là sự chung sống có lợi giữa
các vi khuẩn với nhau và vật chủ).
Ở trạng thái “ eubiosis”, vật chủ cung cấp
các điều kiện sống lý tưởng như nhiệt độ ổn định, pH trung tính, dinh dưỡng

những năm 1990 của thế kỷ trước. Tuy nhiên, những nghiên cứu này phần lớn
tập trung vào việc phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật có khả năng
sản sinh enzyme cao hoặc nghiên cứu chiết xuất, xác định đặc tính, hoạt lực
của một số loại enzyme phục vụ cho các mục đích dân sinh. Các nghiên cứu
về sử dụng enzyme trong chăn nuôi vẫ
n còn hạn chế. Có thể kể đến một số
nghiên cứu cơ bản về enzyme như sau:



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page10

Dương Văn Hợp và ctv (1993) đã phân lập, tuyển chọn được 1 chủng
nấm sợi (DH12) từ 24 chủng nấm ở các nguồn tinh bột khác nhau và 1 chủng
của Nhật Bản (Aspergilus niger TH319K) có hoạt tính glucoamylase cao (đạt
70 đơn vị/g chế phẩm enzyme thô).
Nguyễn Lân Dũng và ctv (1993) từ cơ chất chứa tinh bột đã phân lập
được 22 chủng có khả năng đồng hoá tinh bột sống và đã chọn chủng T1 có
hoạ
t tính gluco-amylase cao nhất. Nguyễn Thị Hồng Hà và ctv (2003) đã công
bố công trình nghiên cứu hoạt tính amylase của hai chủng Bacillus H5-1 và
H5-4 dùng trong sản xuất phân hữu cơ. Phạm Hồ Trương và ctv (1993) đã
nghiên cứu đặc điểm phân giải ligno-xellulo và lignin của hai chủng nấm
Acreminium sp. và Sporotrichum. pulverulentum từ bảo tàng giống vi sinh vật
của Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga.
Phạm Hồ Trương và ctv (1993) đã sử dụng hỗn hợp các chủng nấm
Acreminium sp và Sporotrichum. pulverulentum
để lên men rắn, khảo sát khả
năng phân giải lignin của chúng trong rơm lúa mỳ. Phạm Văn Ty và ctv (1993)
đã nghiên cứu khả năng phân giải xellulose của xạ khuẩn phục vụ cho xử lý rác

Các nghiên cứu về enzyme ở nước ta được chú trọng nhiều trong
khoảng 15 năm trở lại đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ tập trung phân
lập, tuyển chọn các chủng vi sinh vật có hoạt tính enzyme cao, phục vụ cho
xử lý rác thải, sản xuấ
t phân bón. Có rất ít công trình nghiên cứu sản xuất các
enzyme tiêu hóa phục vụ chăn nuôi. Gần đây có một công trình nghiên cứu
đáng chú ý của Đỗ Thị Ngọc Huyền và ctv (2006) về sản xuất phytase từ
chủng Bacillus subtilis trên các nguồn phụ phẩm nông nghiệp khác nhau. Tuy
nhiên, những nghiên cứu trên chưa có nhiều ứng dụng trong thực tiễn.
2.1.5. Tình hình nghiên cứu sản xuất và sử dụng enzyme thức ăn trên thế giới
Nghiên cứu trên thế giới về
các enzyme sử dụng bổ sung thức ăn chăn
nuôi đã tiến được bước dài. Những enzyme sử dụng bổ sung thức ăn chăn
nuôi đã được nhiều công ty hàng đầu trên thế giới sản xuất từ hai chục năm
nay, đã được ứng dụng thường quy ở những nước công nghiệp phát triển như
Mỹ, Tây/Đông Âu, Nhật bản và Trung Quốc. Tuy nhiên những nghiên cứu về
các enzyme bổ
sung thức ăn chăn nuôi vẫn được tiếp tục theo một hướng
chính sau đây:
1. Cải thiện chất lượng và hiệu quả của các enzyme hiện có trên thị



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page12

trường theo hướng quan tâm tới giá thành, độ bền nhiệt, chống chịu thủy phân và
nâng cao hoạt tính trong các bộ phận đích của bộ máy tiêu hóa ruột – dạ dày.
2. Mở rộng sử dụng enzyme thức ăn cho gia cầm, thú nuôi bản địa bao
gồm các loại gia cầm khác gà, lợn, cá và thú ngoại như cá sấu, rùa, baba, ếch.
3. Mở rộng các loại enzyme khác như lipase, protease, amylase cũng


có một tác dụng hỗn hợp trong thức ăn chăn nuôi gà giò khi đồng thời cho bổ
sung các enzyme với nhau. Họ kết luận sử dụng phytase và XAP (xylanase,
amylase, phytase) đồng thời trong thức ăn cho gà giò sẽ có hiệu quả kinh tế và
có thể thu lợi nhuận khi chăn nuôi gia cầm.
Sieo và ctv (2005) đã đánh giá mức độ ảnh hưởng của các chủng
Lactobacillus tái tổ hợp sinh tổng hợp β-glucanase lên các tính chất của hệ tiêu
hóa và sự di chuyể
n thức ăn ở gà giò. Sự bổ sung các chủng Lactobacillus biến
nập vào thức ăn chăn nuôi đã cải thiện được các tính chất của hệ tiêu hóa đồng
thời nâng cao tốc độ di chuyển thức ăn trong ruột của gà giò.
Slominski và ctv (2006) đã sử dụng công nghệ enzyme để cải thiện tình
trạng sử dụng năng lượng từ các hạt có dầu cho gia cầm. Họ đã đánh giá các
công thứ
c bổ sung enzyme riêng lẻ khác nhau và tổ hợp từ các enzyme
cellulase, xylanase, glucanase, pectinase, mannanase. Kết quả nghiên cứu này
cho thấy rằng bổ sung enzyme carbohydrase đa hoạt tính có thể được sử dụng
làm công thức để cải thiện tình trạng sử dụng năng lượng từ hạt lanh nhiều
dầu, do đó nâng cao được giá trị dinh dưỡng cho gia cầm. Trong một nghiên
cứu tương tự trước đó (Meng và ctv, 2006) nhưng đối với hạt cải dầu, h
ọ kết
luận mặc dù tác dụng enzyme lên tiêu hóa mỡ ở hệ tiêu hóa ruột mề ở mức độ
rất đáng kể, các chỉ số khác cũng cho thấy cải thiện đáng kể chỉ khi tỷ lệ thể
vùi enzyme cao được sử dụng. Số liệu này củng cố sự cần thiết bổ sung
enzyme carbohydrase cho thức ăn gia cầm có hạt cải có nhiều dầu.
Olukosi et al. (2007) đã nghiên cứu
ảnh hưởng liên quan tới thời gian
chăn nuôi của dịch chiết xylanase, amylase, và protease hoặc phytase đơn lẻ
hoặc kết hợp với nhau trong chăn nuôi gà giò. Nghiên cứu này chỉ ra rằng sự
kết hợp XAP (xylanase, amylase và protease) và phytase đã cải thiện tình

2.2.1. Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là
sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của bộ phận và toàn bộ cơ
thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính
là sự tích l
ũy dần các chất mà chủ yếu là protein. Tốc độ và sự tổng hợp
protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng
của cơ thể.
Chamber (1990) đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận
như thịt, xương, da. Những bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page15

trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng. Sự tăng trưởng thực sự khi các
tế bào mô cơ có tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo. Vì vậy béo
mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo
mỡ chủ yếu là tích luỹ nước, không có sự phát triển của thân, mô, cơ.
Sự tăng trưởng của sinh vật b
ắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến
lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai
(trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ). Như vậy, cơ sở
chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát
triển, trong đó sự phát triển là chính. Theo Phùng Đức Tiến (1996) trong quá
trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia t
ế bào, tăng thể tích
tế bào để tạo nên sự sống.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của gia cầm. Nó mang
tính di truyền và liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất. Đặc điểm này

tinh và trải qua nhiều giai đoạn phức tạp mới đến trưởng thành.
2.2.2. Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi. Theo
Chambers (1990) đường cong sinh trưởng của gà thịt gồm pha sinh trưởng có
tốc độ nhanh diễn ra từ sau khi nở, đến khi con vật đạt tốc độ sinh trưởng cao
nhất và pha sinh tr
ưởng có tốc độ chậm kéo dài từ giai đoạn kế tiếp, đến khi
con vật tiếp cận với giá trị trưởng thành.
Các tác giả Phùng Đức Tiến (1996); Trần Long (1994); Nguyễn Đăng
Vang (1983); khi nghiên cứu đường cong sinh trưởng của gà thịt Hybro HV85
và các tổ hợp lai gà broiler hướng thịt Ross-208 và HV85, Ngỗng Rheinland
cũng cho kết quả tương tự.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà vớ
i những
mức độ khác nhau như di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông và các điều kiện
môi trường, chăm sóc, nuôi dưỡng
* Ảnh hưởng của dòng giống tới khả năng sinh trưởng
Các dòng trong một giống, các giống khác nhau có khả năng sinh
trưởng khác nhau. Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn
các giống gà chuyên trứng và kiêm dụng.
Nguyễn Mạnh Hùng và ctv (1994) cho biết: sự khác nhau về khối
lượng giữ
a các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng
trứng khoảng 500 - 700g.



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp  Page17

Trần Long (1994) đã nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần

định, trong cùng một giống, cùng tính biệt thì gà có tốc độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status