Báo cáo định giá bất động sản tại CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DU LỊCH ĐỊA ỐC ĐẤT VIỆT - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) là một loại hình doanh nghiệp không
những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà còn
đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. Ở nước ta trước
đây, việc phát triển các DNV&N cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường
lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêp này
mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng.
Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNV&N là bước đi
hợp quy luật đối với nước ta. DNV&N là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi
nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền
đất nước. Các DNV&N ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải
quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng
trưởng kinh tế - giải quyết việc làm - hạn chế lạm pháp.
Nhưng để thúc đẩy phát triển DNV&N ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng
loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn
đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho các khó
khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy doanh nghiệp này phải
tìm vốn ở đâu trong điều kiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản thân
các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chưa có
chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một các hợp lý. Vì vậy phải giải quyết khó
khăn về vốn cho các DNV&N đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà
nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cũng phải quan tâm giải quyết.
Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát triển

bảo của Thầy Phan Hữu Nghị - Giảng viên Khoa Ngân Hàng-Tài Chính trường Đại
học Kinh tế quốc dân và cán bộ tín dụng phòng Tín dụng NHNo&PTNT Chi nhánh
Cầu Giấy. Em xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất.
Và do kinh nghiệm, kiến thức, thời gian còn hạn chế nên chắc chắn bài chuyên
đề sẽ có những hạn chế. Rất mong được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để bài
chuyên đề có cơ hội hoàn thiện hơn.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP
1.1 Các vấn đề chung về cho vay doanh nghiệp.
1.1.1 Khái niệm:
Theo Quyết định 1627/2001/QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng và Quyết định số 127/2005/QĐ_NHNN ban hành ngày 03/02/2005 về
việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với
khách hàng ban hành theo quyết định 1627/2001/QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì : Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ
chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời
hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là
khoảng thoài gian được tính từ khi khách hàng nhận vốn vay cho đến khi trả hết cả
gốc và lãi đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và
khách hàng
1.1.2 Các quy định pháp lý chung về cho vay doanh nghiệp.
1.1.2.1 Nguyên tắc cho vay.
Cho vay là hoạt động sinh lời chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng đem lại rủi
ro cao. Do vậy, để ngân hàng tồn tại và phát triển ổn định, vững chắc thì hoạt động
cho vay phải an toàn hiệu quả. Nói chung, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải

-Tổng dư nợ cho vay đối với 1 khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của
ngân hàng, trừ những trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn ủy
thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của 1
khách hàng vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng hoặc khách hàng có nhu cầu huy
động vốn từ nhiều nguồn thì ngân hàng có thể cho vay hợp vốn theo quy định của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
-Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới
hạn cho vay theo quy định nêu trên khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép đối với
từng trường hợp cụ thể.
-Việc xác định vốn tự có của các ngân hàng để làm căn cứ tính toán giới hạn
cho vay được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, ngân hàng không được cho vay không có đảm bảo, cho vay với các
điều kiên ưu đãi về lãi suất, về mức cho vay đối với các đối tượng sau:
-Tổ chức Kiểm toán, Kiểm toán viên có trách nhiêm kiểm toán tại tổ chức tín
dụng cho vay; Thanh tra viên thực hiện nhiệm vụ thanh tra tại tổ chức tín dụng cho
vay; Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng cho vay.
-Các cổ đông lớn của tổ chức tín dụng.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
-Doanh nghiệp là một trong các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 77 của
Luật Các Tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó.
Ngoài những giới hạn và hạn chế tín dụng nêu trên, ngân hàng còn không
được cho vay với những trường hợp sau đây:
-Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc),
Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng.
-Cán bộ nhân viên chính của tổ chức tín dụng đó thực hiện nhiệm vụ thẩm
định, quyết định cho vay.
-Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,
Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín

với một hồ sơ vay vốn của khách hàng.
Bước 4: Giải ngân.
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín
dụng đã ký kết ở trong hợp đồng.
Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động của tiền tệ với sự vận động
hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của
khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận
lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Bước 5: Giám sát tín dụng:
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của
khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng…để đảm
bảo khả năng thu nợ.
Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.1.2.5: Lãi suất cho vay.
Ngân hàng có các mức lãi suất cho vay khác nhau tùy theo kỳ hạn ( ngắn,
trung và dài hạn), tùy theo loại tiền thậm chí tùy theo loại khách hàng ( khách hàng
quen, khách hàng vay lớn có thể tính lãi suất thấp hơn). Ngân hàng khi tính đến lãi
suất tín dụng phải tính đến rủi ro, lãi suất hòa vốn, lãi suất cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh khung lãi suất quy định trước, ngân hàng còn cung cấp các lãi suất thỏa
thuận đối với từng khách hàng cụ thể. Lãi suất có thể biến đổi trong suốt kì hạn cho
vay hoặc biến đổi tùy theo thay đổi của lãi suất tham khảo hoặc chỉ số làm cơ sở điều
chỉnh lãi suất. hoặc kết hợp cố định có điều chỉnh sau một khoảng thời gian xác định.
Lãi suất tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng thông qua và cần được phổ biến
tới mọi cán bộ tín dụng, bao gồm lãi suất cơ bản và lãi suất bình quân đối với các kì
hạn, các ngành và lĩnh vực chủ yếu. Chính sách này cần khuyến khích tính linh hoạt,
đa dạng hóa trong việc đặt giá trên cơ sở đảm bảo khả năng sinh lời cũng như cạnh
tranh của ngân hàng.
1.1.2.6: Các phương thức cho vay.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
6

làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức khác.
Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ
hạn trong thời hạn cho vay.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa
thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng
phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Cho vay ủy thác :Ngân hàng cho vay theo ủy thác của Chính phủ, của tổ chức,
cá nhân ở trong và ngoài nước theo hợp đồng nhận ủy thác cho vay đã ký kết với cơ
quan đại diện của Chính phủ hoặc tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước, các
khoản vay như: Vay ODA, nguồn vốn của các Chính phủ Anh, Pháp, Đức,
Nhật….các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển
Châu Á (ADB), OECD,
Các phương thức cho vay khác: Các phương thức cho vay khác mà pháp luật
không cấm, phù hợp với các quy định tại Quy chế cho vay và điều kiện hoạt động
kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay.
1.2 Khái quát chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và vai trò của hoạt động cho vay
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1 Khái niệm và các đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
1.2.1.1 Khái niệm:
Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được biết đến trên thế giới từ những năm
đầu của thế kỷ XX. Khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ được các nước trên thế giới
quan tâm đến vào những năm 50 của thế kỷ XX. Thực tế trên thế giới, các nước có
quan điểm khác nhau về doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự
khác nhau này là tiêu thức dùng để phân loại quy mô doanh nghiệp khác nhau. Tuy
nhiên trong hàng loạt các tiêu thức phân loại đó có hai tiêu thức được sử dụng ở phần

< 250
< 500
Tổng vốn hoặc giá trị tài sản
< 0.6 tỷ Rupi
<499 triệu SGD
<20 triệu bath
< 0.6 triệu USD
< 0.25 triệu USD
< 10 triệu yên
< 30 triệu yên
< 27 triệu EUR
< 7 triệu USD
< 20 triệu USD
Tại Việt Nam, tiêu chí xác định DNV&N được thể hiện trong nghị định
56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009. Theo Nghị định này DNV&N được định nghĩa
như sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo
quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng
nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân
đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là
tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Quy môKhu vực
Doanh
nghiệp siêu
nhỏ

trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến 50
người
từ trên 10 tỷ
đồng đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến
100 người
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có đăng kí
kinh doanh và thỏa mãn các điều kiện trên đều được coi là DNV&N.
1.2.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
a, Tính chất hoạt động kinh doanh
Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường tập trung nhiều ở khu vực chế biến và dịch

Đối với Việt Nam vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng quan trọng:
Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp.Các DNV&N
do có vốn ít quy mô nhỏ nên kỹ thuật sản xuất chủ yếu là nửa cơ giới nên lao động
sức người chiếm tỷ trọng khá lớn trong các doanh nghiệp này. Mặt khác các DNV&N
hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau, ngành nghề khác nhau nên có khả năng thu hút
nhiều lao động từ đó tạo công ăn việc làm cho xã hội, giải quyết được vấn đề việc
làm cho xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cụ thể các số liệu ở tổng cục thống kê cho
thấy DNV&N tuyển dụng gần 1.3 triệu lao động hàng năm chiếm 49% lực lượng lao
động trong nước.
Đóng góp quan trọng vào GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Mặc dù quy mô
nhỏ nhưng nhờ có sự phân bố rộng khắp mọi nơi, mọi ngành nghề lĩnh vực nên
DNV&N có những đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế.
Đáp ứng tích cực vào nhu cầu chi tiêu xã hội ngày càng phong phú. Doanh
nghiệp vừa và nhỏ do có quy mô sản xuất nhỏ, có khả năng điều chỉnh hoạt động nên
có thể đáp ứng yêu của người tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện.
Góp phần phục hồi các ngành nghề truyền thống, đồng thời góp phần vào quá
trình đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hóa các ngành nghề truyền thống đang đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt giữa chế
tạo sản phẩm thủ công với sản xuất dây chuyền hàng loạt. Loại hình DNV&N rất
thích hợp cho sản xuất thủ công. Nhờ có các DNV&N, các ngành nghề truyền thống
không những không bị mai một mà còn phát triển, góp phần quảng bá văn hóa truyền
thống đất nước. Bên cạnh đó công nghệ tiên tiến cũng sẽ dần tiếp cận vào các ngành
nghề này. Đó là điều cần phải xảy ra trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nâng cao tính năng động và hiệu quả của nền kinh tế. Các công ty và tập
đoàn lớn không có được tính năng động của các đơn vị kinh tế nhỏ hơn chúng là vì
quy mô của chúng quá lớn. Các đơn vị kinh tế càng to lớn thì càng thiếu tính linh
hoạt, thiếu khả năng phản ứng nhanh, nói cách khác là sức ì càng lớn. Một nền kinh

doanh của doanh nghiệp nói chung và của DNV&N nói riêng.
Hoạt động cho vay hỗ trợ DNV&N tái sản xuất mở rộng theo chiều rộng và
chiều sâu: Trong nền kinh tế thị trường, nếu chị dựa vào lợi nhuận giữ lại để tái sản
xuất kinh doanh và mở rộng sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu thì doannh nghiệp
vừa và nhỏ sẽ mất rất nhiều thời gian để có thể tích lũy đủ số vốn cần thiết đầu tư mở
rộng sản xuất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thông qua ngân hàng
để có thể có lượng vốn cần thiết bằng hình thức đi vay vốn. Từ đó doanh nghiệp vừa
và nhỏ có thể thực hiện phương án sản xuất của mình mà không cần phải chờ tích lũy
đủ vốn, qua đó chớp được thời cơ. Như vậy, hoạt động cho vay có vai trò quan trọng
trong việc mở rộng sản suất theo chiều rộng và chiều sâu của DNV&N.
Giúp DNV&N có thể tự do di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác. Việc
ngân hàng cho vay vốn đối với các DNV&N thuộc các ngành sản xuất khác nhau đã
giúp nền kinh tế phân phối vốn vào các ngành phù hợp với yêu cầu sử dụng vốn của
nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Mặt khác, hoạt động cho vay còn
góp phần vào việc bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận giữa các doanh nghiệp thuộc các
ngành nghề khác nhau trong nền kinh tế một cách hợp lý.
Góp phần nâng cao cạnh tranh giữa các DNV&N. Trong nền kinh tế thị trường
với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
muốn đứng vững thì cần phải nỗ lực phát triển không ngừng. Tuy nhiên, do vốn ít,
trình độ quản lý yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu đã gây không ít khó khăn cho
các DNV&N trong quá trình cạnh tranh và mở rộng phát triển. Để có được lượng vốn
phục vụ cho sự phát triển của doanh nghiệp, mặc dù vốn tự có có hạn mà tích lỹ vốn
thấp, các DNV&N buộc phải tìm đến vốn từ ngân hàng. Hoạt động cho vay của ngân
hàng sẽ mang lại nhiều lợi ích đến cho DNV&N với mức lãi suất thích hợp. Từ đó,
hoạt động cho vay của ngân hàng đã giúp cho doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất,
chiếm lĩnh thị phần, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNV&N. Mỗi doanh nghiệp đều
đưa ra một cơ cấu vốn phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình, từ đó việc sử
dụng vốn mới đạt hiệu quả cao, đem lại lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp. Để đạt

NHNN ban hành ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “ V/
v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xủ lý rủi ro tín
dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” và quyết định số 18/2007/QĐ-
NHNN ngày 25/4/2007 “ V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày
22/4/2005” thì dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng được chia thành 5 nhóm cụ
thể:
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Nợ nhóm 1 ( đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đầy đủ khả
năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn.
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày mà tổ chức tín dụng đánh giá là có
khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu đầy đủ gốc và lãi đúng
hạn còn lại.
- Đối với khoản nợ quá hạn, khách hàng phải trả đầy đủ khoản nợ gốc và
lãi bị quá hạn ( kể cả lãi áp dụng với gốc bị quá hạn) và nợ gốc, lãi của các kỳ hạn
trả nợ tiếp theo trong thời gian tối thiểu 6 tháng đối với khoản nợ trung và dài
hạn, ba tháng đối với khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và
lãi bị quá hạn.
- Đối với khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, khách hàng trả nợ đầy đủ
gốc và lãi theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại trong thời gian tối thiểu 6 tháng đối
với khoản nợ trung và dài hạn, ba tháng đối với khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày
bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn được cơ cấu lại.
• Nợ nhóm 2 ( nợ cần chú ý ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày.
- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu ( đối với khách hàng là tổ
chức, doanh ngiệp thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả

mức lợi nhuận nào đó cho ngân hàng. Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá chất
lượng cho vay đối với ngân hàng:
a) Các chỉ tiêu về an toàn tín dụng và mức độ rủi ro
- Tỷ lệ nợ quá hạn.
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = _________________
Tổng dư nợ
Nợ quá hạn là phần còn lại mà đến hạn hoặc có thêm thời gian gia hạn vẫn
chưa đủ thu hồi được.
- Hệ số thu nợ
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ = ____________________
Doanh số cho vay
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng. Nó phản
ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về
được bao nhiêu đồng vốn. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.
- TL này càng cao càng
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong kỳ: Cùng với tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ thu hồi nợ quá
hạn cho ta biết mức độ quản lý nội bộ đối với nợ quá hạn. Nếu tỷ lệ thu hồi nợ quá
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hạn nhỏ thì thực tế Ngân hàng có thể đang đứng trước một rủi ro mất một lượng vốn
lớn cho vay. Tỷ lệ này có thể xác định bằng công thức:
Doanh số thu nợ quá hạn trong kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn = _______________________________________
Dư nợ quá hạn đầu kỳ+Dư nợ quá hạn trong kỳ
Một tỷ lệ nợ quá hạn được coi là chấp nhận được là dưới 3%
b) Các chỉ tiêu về sử dụng vốn
- Lượng dư nợ tích lũy đến thời điểm hết kỳ và cơ cấu dư nợ (ngắn, trung và

- Lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế của ngân hàng. Chỉ tiêu này cho
ta thấy, luận nhuận càng cao thì ngân hàng kinh doanh phát triển.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng
Để có thể nâng cao được chất lượng cho vay ngân hàng đối với DNV&N ta
phải hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay để từ đó phát huy những
ảnh hưởng tích cực cũng như hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực. Mặt khác cả ngân hàng
và doanh nghiệp phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của Nhà nước trong
hoạt động tín dụng. Có như thế thì cả ngân hàngvà doanh nghiệp mới để ra các biện
pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để đạt được mục tiêu hoạt động của mình một cách
tốt nhất. Sau đây chúng ta lần lượt nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
cho vay.
1.4.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
- Chính sách tín dụng
Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Chính sách tín
dụng đảm bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng quỹ đạo liên quan đến việc mở rộng
hay thu hẹp định hướng tín dụng theo ngành nghề, nó có ý nghĩa quyết định sự thành
công hay thất bại của Ngân hàng. Chính sách tín dụng phải phù hợp với đường lối
phát triển kinh tế của đảng và nhà nước, đồng thời kết quả hài hòa giữa quyền lợi của
người gửi tiền, của ngân hàng và người sử dụng vốn vay. Muốn vậy, chính sách tín
dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
- Công tác tổ chức Ngân hàng
Ngân hàng có một cơ cấu tổ chức hợp lý khoa học sẽ đảm bảo được sự phối
hợp nhịp nhàng giữa các phong ban, giữa các nhân viên làm cho hiệu quả hoạt động
của ngân hàng tăng lên. Điều này này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng
mà tác động đến mọi hoạt động của ngân hàng làm cho việc đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng sẽ được thực hiện kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lý có
hiệu qủa và an toàn các khoản tín dụng.
- Chất lượng nhân sự.
Con người là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh
nói chung, còn nói đến hoạt động ngân hàng thì nó lại càng quan trọng. Vì cán bộ

nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng. Đặc biệt, với sự phát triển như vũ bão về
công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng xử lý
thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời trên cơ sở đó ra những quyết
định cho vay đúng đắn.
1.4.2. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp
-Năng lực của doanh nghiệp:
Không một doanh nghiệp nào đi vay lại không muốn món vay đem lại hiệu
quả. Nhưng nhiều khi do năng lực có hạn chế, họ không thực hiện được mục đích của
mình và làm ảnh hưởng đến khoản cho vay mà họ đã nhận từ ngân hàng.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Vốn khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Đây là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và khả
năng trả nợ sau này của doanh nghiệp.
- Trình độ quản lý của các nhà doanh nghiệp:
Do trình độ của nhiều nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế về học vấn, kiếm thức
cũng như kinh nghiệm thực tế nên nhiều khi họ không dự đoán được những biến
động của thị trường, yếu kém Marketing sản phẩm... Do sự bảo thủ của nhiều nhà
quản lý không dám đổi mới khiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không có
hiệu quả, dẫn đến tình trạng không thu hôi hết được vốn và làm ảnh hưởng đến hiệu
quả của doanh nghiệp từ đó ảnh hưỏng đến chất lượng của khoản tín dụng đã sử
dụng.
- Đạo đức của người đi vay:
Ngân hàng chỉ quyết định cho vay sau khi đã phân tích kỹ các yếu tố có liên
quan đến khả năng của người vay trong việc hoàn trả nợ và cách thức sử dụng vốn
vay. Nhưng thông tin này có thể bị thay đổi sau khi doanh nghiệp nhận được tiền vay.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay không hợp lý dẫn đến không đạt
đựơc hiệu quả sản xuất kinh doanh. Còn có nhiều ngừơi có ý tham nhũng và kết quả
là hiệu quả sử dụng vốn vay Ngân hàng kém thậm chí không thu hồi được. Vì vậy,

tác dụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì lại
ngược lại. Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó
để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế. Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà
nước phải đúng đắn thì mới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần
để đạt được chất lượng và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng.
- Các yếu tố thiên tai gây lên.
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khi mang tín thời vụ.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có thành phần kinh tế Nhà
nước, trong đó doanh nghiệp trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp lại chiếm một
tỷ lệ không nhỏ thì yếu tố này rất quan trọng. Khi thiên tai xẩy ra như: lũ lụt, hạn hán,
mưa bão, hỏa hoạn,... làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
bị đổ bể, dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm
cho chất lượng của các khoản cho vay bị giảm sút.
Tóm lại, qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay ta
thấy tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện pháp lý mà các nhân tố này ảnh
hưởng khác nhau đến chất lượng cho vay. Vấn đề là phải nắm vững những nhân tố
ảnh hưởng và vận dụng sáng tạo trong từng điều kiện cụ thể thì sẽ nâng cao được
chất lượng cho vay của ngân hàng.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHNO&PTNT CHI
NHÁNH CẦU GIẤY.
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.1 Giới thiệu khái quát chung về chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy.
NHNo&PTNT Việt Nam thành lập ngày 26/3/1988, hoạt động theo Luật các
Tổ chức Tín dụng Việt Nam, đến nay ngân hàng hiện là Ngân hàng thương mại hàng
đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn cũng như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Việt

Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy được thành lập từ năm 1997, tách ra từ
chi nhánh NHNo&PTNT huyện Từ Liêm Hà Nội và chuyển thành chi nhánh cấp 2
trực thuộc NHNo&PTNT Hà Nội. Ngay từ đầu mới thành lập, mặc dù còn gặp nhiều
khó khăn do thiếu nhân lực và cơ sở vật chất nhưng ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên
của chi nhánh đã hết sức nỗ lực để đạt được những kết quả tốt nhất và đã có những
đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung của NHNo&PTNT. Năm 2004, chi
nhánh chuyển sang trụ sở mới tại 99 Trần Đăng Ninh với trang thiết bị đầy đủ hơn đã
tạo điều kiện mở rộng hơn hoạt động của chi nhánh, tạo đà cho những bước phát
triển sau này.
Ngày 12/1/2006, Ngân hàng nhà nước Việt Nam ra quyết định số 35 nâng cấp
NHNo&PTNT Chi nhánh Cầu Giấy từ chi nhánh cấp 2 lên thành chi nhánh cấp 1,
trực thuộc NHNo&PTNT Việt Nam. Trên tinh thần đó, ngày 13/1/2006, chủ tịch hội
đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam đã ra quyết định số 28, chính thức thành lập
chi nhánh cấp 1 NHNo&PTNT Chi nhánh Cầu Giấy. Chi nhánh đã tổ chức lễ khai
trương và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/3/2006. Tại thời điểm bắt đầu hoạt
động chi nhánh chỉ có 31 nhân viên và 4 phòng giao dịch trực thuộc. Đến nay chi
nhánh đã có hơn 100 nhân viên và 10 phòng giao dịch trực thuộc. Cơ cấu tổ chức của
Chi nhánh NHNo&PTNT Cầu Giấy được thể hiện qua sơ đồ sau:
SV: Vũ Thị Tâm Lớp: Tài chính Doanh nghiệp 48C
23
GIÁM ĐỐC
3 PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng
kế toán
ngân
quỹ
Phòng
tín
dụng
Phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status