Luận Văn
Công cuộc xây dựng
và chỉnh đốn đảng
trong thời kì mới
MỤC LỤC
SƠ LƯỢT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
3
1
Tính cấp thiết của đề tài
3
2
Mục tiêu, quan điểm về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong
thời kì mới
5
2.1
Mục tiêu
5
2.2
Quan điểm
5
3
Phạm vi nghiên cứu
6
3.1
Không gian nghiên cứu
TÁC XÂY ĐỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
11
1
Tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp và nghiêm trọng hơn
11
2
Tổ chức cơ sở đảng chưa được quan tâm chỉ đạo đúng mức
13
3
Tính dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm
14
4
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng còn chậm và lúng
túng
16
5
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn hạn chế, nhất là trong
công tác phê bình và tự phê bình
17
5.1 Hạn chế trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
17
5.2 Hạn chế trong công tác phê bình và tự phê bình
17
mạng
23
2.1
Tăng cường công tác tư tưởng
23
2.2
Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân
24
3
Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
25
4
Ðổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Ðảng và của hệ thống
chính trị
27
5
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ
29
5.1
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ
29
5.2
Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
SƠ LƯỢT VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Bước vào thời kì mới, nhất là trong bối cảnh thế giới như hiện nay, thì
Đảng ta cần có những thay đổi phù hợp với tình hình, để lãnh đạo toàn dân,
toàn Đảng giành được những thắng lợi mới trong thời kì mở cửa hội nhập
kinh tế thị trường.
Vì vậy, để xây dựng được một Đảng chính trị vững mạnh thì cần phải làm
tốt công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt
Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và là kim chỉ nam cho hành động. Đảng ta trải qua hơn 80 năm phấn
đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách,
với bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, dày dặn kinh nghiệm,
luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy
sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều
thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng.
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng,
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban bí thư các khóa đã ban hành
nhiều chủ trương, nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trên cơ sở đó,
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã đạt được nhiều kết quả tích cực;
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao;
phương thức lãnh đạo của Đảng từng bước được đổi mới; vai trò lãnh đạo
của Đảng được giữ vững, niềm tin của nhân dân với Đảng được củng cố;
đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến
bộ về nhiều mặt. Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao
phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được
nhân dân tin tưởng. Thành tựu hơn 25 năm đổi mới là thành quả của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán
gian qua, từ đó tìm ra những giải pháp và phương hướng để khắc phục,
xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong thời kì mới.
2. Mục tiêu, quan điểm về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong
thời kì mới.
2.1 Mục tiêu:
Xây dựng và chỉnh đốn Đảng Cộng Sản Việt Nam trở thành một đảng chính
trị vững mạnh, Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn
thể dân tộc Việt Nam. Củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng; xây dựng
Đảng, nhà nước trong sạch, vững mạnh; đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức
có đức, có tài, kỉ cương và liêm chính.
2.2 Quan điểm:
- Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, hoạch định đường lối, chủ
trương, chính sách; tổ chức thực hiện sáng tạo, có hiệu quả đường lối.
- Coi trọng công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn, xây dựng nền tảng tư tưởng, lý luận vững chắc cho sự nghiệp đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững mục tiêu lý tưởng, giữ vững
niềm tin, bảo đảm thống nhất giữa nhận thức và hành động.
- Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống, nâng cao tính tiên
phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực đội ngũ cán bộ, đảng viên, đề ra
và thực hiện các biện pháp có hiệu lực chống tư tưởng cơ hội, thực dụng,
chủ nghĩa cá nhân; ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí, quan liêu
và những biểu hiện tiêu cực khác.
- Thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Ðảng; xây
dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, mối quan
hệ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi tổ chức, bảo đảm bộ máy tinh gọn,
có hiệu lực, hiệu quả. Ðặc biệt chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; gắn xây dựng tổ chức cơ sở đảng
với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao chất lượng sinh hoạt
Ðảng.
- Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, tạo chuyển biến
lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (nay là Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam), nhà nước công nông, đưa dân tộc Việt Nam vào kỉ
nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược
mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), cuộc tổng tiến công và
nổi dậy mùa xuân năm 1975, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng
lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế, đưa đất nước tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Những thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã giành được trong hơn 80
năm qua đều gắn liền với quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển
của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong hơn 80
năm qua, với hơn 65 năm cầm quyền, trong đó có hơn 25 năm thực hiện
sự nghiệp đổi mới, Việt Nam từ một thuộc địa nửa phong kiến đã trở
thành một quốc gia độc lập, tự do phát triển theo con đường xã hội chủ
nghĩa, đất nước đã thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu, đang đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có quan hệ quốc tế rộng
rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
2. Bản chất, mục đích và nền tảng tư tưởng của Đảng.
Cương lĩnh chính trị và điều lệ Đảng của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác
định rõ mục đích và nên tảng tư tưởng của Đảng như sau:
- Đảng Cộng Sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng
thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân
tộc Việt Nam.
- Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thực hiện thành công chủ
nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
- Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững những quy luật
ra, tổ chức Đảng, còn được lập ra ở những nơi có đặc điểm riêng theo quy
định của trung ương.
Hiện nay, toàn Đảng có 67 đảng bộ trực thuộc Trung ương, gồm 58 đảng
bộ tỉnh, 5 đảng bộ thành phố, 4 đảng bộ trực thuộc Trung ương. Có gần
1300 đảng bộ cấp huyện và tương đương (gần 700 đảng bộ huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh và gần 600 đảng bộ cấp trên trực tiếp của tổ
chức cơ sở đảng).
Toàn Đảng có gần 57000 tổ chức cơ sở đảng, với hơn 23000 đảng bộ cơ sở
và hơn 33000 chi bộ cơ sở; gần 1700 đảng bộ bộ phận, hơn 254000 chi bộ
trực thuộc đảng ủy cơ sở với tổng số gần 3,8 triệu đảng viên, chiếm hơn
4% dân số của cả nước. Các tổ chức cơ sở đảng có 5 loại hình cơ bản là: tổ
chức cơ sở đảng xã, phường, thị trấn; tổ chức cơ sở đảng trong doanh
nghiệp; tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan hành chính; tổ chức cơ sở đảng
trong đơn vị xí nghiệp và tổ chức cơ sở đảng trong lực lượng vũ trang.
Trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhất là trong 10 năm gần
đây, số lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên trong các loại hình cơ sở
tăng nhanh và chất lượng không ngừng được nâng lên. Nhiều tổ chức cơ
sở đảng trong các loại hình đã phát huy vai trò lãnh đạo và là hạt nhân
chính trị ở cơ sở; có nhiều mô hình mới và điển hình tiên tiến, lãnh đạo
thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn, góp phần giữ vững
ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Số lượng đảng viên trong những năm gần đây tăng nhanh, bình quân mỗi
năm toàn Đảng kết nạp hơn 170000 đảng viên mới, trong đó số đảng viên
trẻ, là Đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh chiếm hơn 65%; số
đảng viên nữ, đảng viên là người dân tộc thiểu số ngày càng tăng, làm cho
tuổi bình quân của toàn Đảng giảm và cơ cấu đội ngũ đảng viên từng
bước chuyện dịch theo hướng tích cực.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, một số loại hình tổ chức cơ sở đảng
có những thay đổi: tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn tăng lên do
với nền dân chủ XHCN… Là những khe hở để những kẻ cơ hội luồng lách
leo cao, để trục lợi tham nhũng, người hiền tài bị loại khỏi hệ thống lãnh
đạo, dẫn đến chất lượng công tác tổ chức cán bộ ngày càng sút giảm, hiệu
lực và hiệu quả hoạt động thấp, làm sản sinh hiện tượng tiêu cực xã hội,
lãng phí và tham nhũng ngày càng tăng.
Ba là, chế độ tiền lương để kéo dài sự vi phạm giá trị sức lao động như
hiện nay cũng là tác nhân gây ra tham ô, hối lộ và tham nhũng. Tiền lương
hiện nay chỉ bằng xấp xỉ 50% giá trị sức lao động, vô hình trung có nghĩa
Nhà nước và chủ các doanh nghiệp còn nợ người lao động 50% giá trị sức
lao động, những người thuộc diện nghèo mà không được hưởng chính
sách xóa đói, giảm nghèo. Theo các chuyên gia ở các nước phát triển tổng
kết thì "Tiền lương là một trong sáu giải pháp phòng chống tham nhũng".
Chế độ tiền lương ở nước ta hiện nay đã tự đánh mất vai trò phòng, chống
tham nhũng, mà trở thành một trong những nhân tố dẫn đến hành vi
tham nhũng, bởi vì chế độ tiền lương hiện nay không đủ trang trải sinh
hoạt gia đình ở mức tối thiểu, buộc không ít người chấp nhận các hành vi
tiêu cực… trước sự bức bách của cuộc sống ("để tự cứu mình"), dần dần
dẫn đến tha hóa phẩm chất, đạo đức, bán rẻ lương tâm và sự cống hiến
của mình, rồi dấn thân vào tệ tham nhũng.
Nếu không có bước đổi mới các lĩnh vực nêu trên phù hợp với các tiêu chí
khoa học thì Luật Phòng, chống tham nhũng sẽ giảm thiểu hiệu lực, bởi vì
Luật không thể tự nó định chế các hành vi tiêu cực và tham nhũng, mà
phải thông qua vai trò điều hành của Nhà nước và vai trò của cán bộ công
quyền, nhất là người đứng đầu tổ chức. Mặt khác Quốc hội cơ cấu như
hiện nay không đủ điều kiện (trình độ và quỹ thời gian) để ban hành luật
pháp đạt chuẩn mực để điều hành nền kinh tế thị trường XHCN (nền kinh
tế thị trường TBCN hay CNXH đều cần Quốc hội chuyên trách và đại biểu
đạt trình độ chuẩn mực) để bảo đảm chất lượng và số lượng các đạo luật,
đáp ứng yêu cầu điều chỉnh phát huy mặt ưu điểm và khắc phục mặt
khuyết điểm của nền kinh tế thị trường nhằm phát triển nền kinh tế xã hội
đấu vào Đảng của một số người còn có biểu hiện lệch lạc, xem việc vào
Đảng là một hình thức để tiến thân.
3. Tính dân chủ trong đảng và trong xã hội còn bị vi phạm.
Trong tình hình hiện nay, nguyên tắc tập trung dân chủ đang đặt ra một số
vấn đề cần nhận thức đúng bản chất khoa học và cách mạng của mối quan hệ
biện chứng giữa tập trung và dân chủ. Làm thế nào để thực hiện tốt nhất
nguyên tắc này trong thực tiễn đổi mới và tiến hành công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước hiện nay?
Những người cơ hội, xét lại đã phản kích quyết liệt nguyên tắc tập trung dân
chủ - nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta. Họ cho rằng căn bệnh độc
đoán, gia trưởng, chuyên quyền là bạn đồng hành gắn liền với nguyên tắc tập
trung dân chủ. Một số người lớn tiếng đòi thực hiện đa nguyên chính trị, mở
rộng dân chủ vô giới hạn, hy vọng tạo ra trong Đảng nhiều phe phái đối lập
nhằm phá hoại sự đoàn kết của Đảng. Một số cán bộ ta do không vững vàng
về tư tưởng và hạn chế về nhận thức lý luận, mơ hồ về chính trị cũng dao
động, nghi ngờ bản chất khoa học của nguyên tắc tập trung dân chủ.
Đúng là hiện tượng mất dân chủ đang diễn ra ở một số tổ chức đảng và trong
nhiều tổ chức kinh tế, xã hội, có nơi mất dân chủ nghiêm trọng và kéo dài.
Một số người ở cương vị lãnh đạo chủ chốt có biểu hiện xa dân, quan liêu,
độc đoán, gia trưởng, thiếu tôn trọng và phát huy quyền dân chủ của đảng
viên, của nhân dân. Trong quản lý kinh tế, đã có lúc do nhận thức chưa đầy
đủ về vấn đề này nên chúng ta quá nhấn mạnh mặt tập trung, thống nhất mà
chưa chú ý đến thực hiện dân chủ, thực chất là chưa thấy hết mối quan hệ
hữu cơ giữa tập trung và dân chủ.
Thực tế đó đã hạn chế sự năng động, sáng tạo của quần chúng ở cơ sở, làm
triệt tiêu động lực phát triển, làm cho kinh tế - xã hội nước ta trì trệ kéo dài.
Song, không thể cho rằng những căn bệnh đó thuộc bản chất, là cái tất yếu
nảy sinh từ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó chỉ là kết quả tất
nhiên của việc chưa nhận thức đúng bản chất khoa học và chưa vận dụng
sáng tạo lý luận về nguyên tắc tập trung dân chủ vào hoàn cảnh cụ thể của
4. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng còn chậm và
lúng túng.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo còn chậm và lúng túng được thể hiện
ở ba vấn đề cụ thể sau đây:
Một là, vẫn còn tình trạng các cấp ủy bao biện, làm thay hoặc buông lỏng
lãnh đạo đối với hoạt động của hệ thống chính trị trên một số lĩnh vực.
Chậm ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo
nhà nước, Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể; về mối quan hệ công tác
giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Hai là, còn thiếu những quy định cụ thể đảm bảo thực hiện đúng đắn
nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hành dân chủ trong đảng và trong xã
hội. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, công tác
cán bộ đổi mới còn chậm; chất lượng công tác tư tưởng, truyên truyền còn
nhiều hạn chế. Chậm cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa cho từng chức danh cụ thể ở các cấp, các ngành.
Chất lượng công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển,
bổ nhiệm cán bộ còn hạn chế; chính sách đãi ngộ cán bộ cong bất cập.
Chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng,
trọng dụng người có đức, có tài, thay thế kịp thời những yếu kém về phẩm
chất và năng lực.
Ba là, chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc; trình
trạng họp hành nhiều, nói chưa đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, né tránh,
đùn đẩy trách nhiệm, thiếu gương mẫu còn diễn ra ở nhiều nơi.
5. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn hạn chế, nhất là
trong công tác phê bình và tự phê bình
5.1 Hạn chế trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng còn nhiều hạn chế, thiếu sót; tính
định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả chưa cao; thiếu
chủ động và sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu "diễn biến hòa bình",
chống tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch, bác bỏ các quan
những vị trí, chức vụ phù hợp với trình độ và năng lực công tác. Nhiều cấp
ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật trong
Ðảng. Công tác giám sát trong Ðảng và giám sát của nhân dân đối với các
hoạt động của Ðảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm,
chưa đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Ðảng trong tình hình mới. Đối
với một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng
viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự
phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng,
chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí,
tùy tiện, vô nguyên tắc… thì chúng ta chưa thật sự có những biện pháp xử
lý mạnh và nghiêm minh để làm gương cho kẻ khác. Công tác kiểm tra,
giám sát, giữ gìn kỉ cương, kỉ luật ở nhiều nơi, nhiều cấp chưa được thực
hiện thường xuyên, ráo tiết, nghiêm túc. Nếu tình trạng này vẫn còn tồn
tại và kéo dài sẽ làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
7. Công tác cán bộ và bảo vệ chính trị nội bộ còn nhiều hạn chế
7.1 Công tác cán bộ
Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục,
nhất là việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, thực hành dân chủ và chế độ trách nhiệm trong công tác.
Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Chưa kiên quyết và thiếu những quy chế có
hiệu lực để sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thời những cán
bộ yếu kém về phẩm chất và năng lực, để công việc trì trệ; hầu như chỉ khi
cán bộ bị kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật mới thay thế được. Chưa có
chính sách đủ hiệu lực khơi dậy tài năng và thu hút nhân tài vào các lĩnh
vực quan trọng. Chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán
bộ ở các địa phương, ngành.
Công tác đào tào, bồi dưỡng cán bộ còn nhiều hạn chế, chưa có sự quan
tâm cà chỉ đạo đúng mức đối với họ. Nhiều cơ quan, tổ chức khi đáng giá
Về chủ quan, chậm đổi mới tư duy về công tác xây dựng Ðảng trong điều
kiện mới. Nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc, có mặt chưa rõ, chưa thống
nhất một số vấn đề quan trọng ở tầm quan điểm, chủ trương; chưa cụ thể
hóa và tổ chức thực hiện kịp thời, đồng bộ một số quan điểm lớn, đúng
đắn về xây dựng Ðảng đã đề ra trong Cương lĩnh và các nghị quyết của
Ðảng. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng còn chậm, chưa đồng
bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh
tế.