CHƯƠNG 1. YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ
CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
1. NHỮNG NGUYÊN LÝ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
1.1. Lý luận của chủ nghã Mác-Lênin về xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Trung thành với tư tưởng của Mác và Ăngghen về xây dựng Đảng phải đi đôi với
củng cố Đảng. Lênin đã bổ sung, phát triển làm phong phú, sâu sắc thêm về vấn đề
này cả trong thực tiễn và lý luận. Người cho rằng để làm tròn được vai trò đội tiên
phong, vai trò lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân
trong mọi điều kiện lịch sử, Đảng phải thường xuyên cũng cố, chấn chỉnh cả về
chính trị, tư tưởng, đạo đức.
Chấn chỉnh Đảng về mặt nhận thức lý luận theo Lênin điều quan trọng trước hết
phải là” thay đổi một cách căn bản” những tư duy ấu trĩ, giáo điều xơ cứng về chủ
nghĩa xã hôi của cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhất là đối với đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, đội ngũ quản lý kinh tế - xã hội.
Cùng với việc chấn chỉnh Đảng về lý luận, Lê nin rất coi trọng việc cũng cố Đảng
về mặt tư tưởng nhằm tăng cường sự đoàn kết thống nhất , nhất trí trong Đảng.
Người cho rằng sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng là vấn đề quan trọng bậc nhất
trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Phải cũng cố sự thồng nhất trong Đảng
cả về tư tưởng, ý chí và hành động mà “trước hết cần phải xây dựng sự thống nhất
vững chắc về mặt tư tưởng, lọa trừ những bát đồng ý kiến và mơ hồ về mặt tư
tưởng”. Người chỉ ra biện pháp hữu hiệu nhất , khâu then chốt nhất để tăng cường
sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là phải thường xuyên thực hiện và thực hiện
nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình.
Song song với việc cũng cố, chấn chỉnh Đảng về tư tưởng, lý luận; Lê nin đặc biệt
nhấn mạnh sự cần thiết chấn chỉnh Đảng về mặt tổ chức, trong đó vấn đề quan
trọng hàng đầu là phải gắn chặt việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên đi đôi
với việc làm trong sạch hàng ngũ Đảng và nhà nước, gắn chặt việc kiện toàn cũng
cố bộ máy của Đảng với việc kiện toàn, cũng cố bộ máy nhà nước và các tổ chức
khác trong bộ máy chuyen chính vô sản. Đối với vấn đề “ thanh Đảng”, người có
thái độ rất rõ ràng và kiên quyết. Người yêu cầu phải “đuổi ra khỏi Đảng những kẽ
gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu
cầu:”phải xem xét lại tất cả các công tác của Đảng”, “phải làm cho tinh thần nghị
quyết thám nhuần trong toan Đảng toan dân” nhằm làm cho đường lối, chủ trương
của Đảng ngày môt đúng đán, sát thực và được thực hiện nghiêm túc,hiệu quả. Khi
đề cập đén việc chỉnh đối Đảng về tư tưỡng người nói: “toàn Đảng phải tư tưởng
nhất trí, hành động nhất trí, đoàn kết nhất trí mới lam tròn nhiệm vụ cua Đảng”.
Người đặc biệt quan tâm củng cố nền tảng,tư tưởng của Đảng đó là chủ nghĩa Mac-
Leenin. Để làm được như vậy thì phải nắm vững chủ trương,đường lối, chính sách
cửa Đảng va Nhà nước, phải có đạo đức cách mạng trong sáng.
-Về tổ chức:trước hết người rất quan tâm đến giáo dục rèn luyện đọi ngủ Đảng
viên. Vì đội ngủ đảng viên là tế bào của đảng, là người trục tiếp đi đi đầutrong việc
thưc hiện đường lối chính sách của Đảng, nhà nước. Và để xứng đáng la người
đảng viên tốt, người đòi hỏi đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho dân tộc,cho tổ
quốc, đặt lợi ích cách mạng lên trên hết,kiên quyết thi hành nhunhxw nghị quyết
của Đảng…Cùng với việc quan tâm,giao dục rèn luyện đội ngủ đảng viên,Hồ Chí
Minh rất coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngủ quản lý, sử dụng đội ngủ cán bộ
trông xây dưng chỉnh đốn Đảng. Người chú trọng việc bồi dưỡng nâng cao trình độ
mọi mặt cho cán bộ mà trước hết là nâng cao trình độ lý luận cách mạng.
Trong chỉnh đốn Đảng về tổ chức, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới việc sửa đổi lề
lối làm việc, tác phong công tác, phong cách lãnh đạo của đội ngũ cán bộ, đảng
viên. Người chỉ ra phải khắc phục triệt dể các bệnh lười biếng, thiếu kỹ luật, hẹp
hòi, ba hoa, quan lieeu của người cán bộ…
Về cách thức tiến hành xay dựng, chỉnh đốn Đảng, người đòi hỏi phải chuẩn bị chu
đáo, xác dịnh rõ mục đích, yêu cầu, phương châm chỉ đạo đúng đắn. Phải chỉnh
đốn Đảng từ trên xuống dười, từ cáp ủy ra đảng viên. Phải tổ chức thực hiện tự phê
bình và phê bình nghiêm túc và là nề nếp hằng ngày của mỗi đảng viên.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng rất phong phú, sâu
sắc, thiết thực. Đó là những chỉ đãn quý báu mà người đã chắt lọc từ những tinh
hoa xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Mác và Lê nin, từ những kinh nghiệm thực
tiễn của thực tiễn về xây dựng Đảng của Đảng ta và Đảng anh em. Những chỉ dẫn
quý báu của người đã góp phần to lớn trong việc giáo dục, rèn luyện và xây dựng
dân với Đảng, nhà nước, kích động quàn chúng nhân dân gây bạo loạn chống
Đảng, chống chế độ. Ngoài ra đế quốc Mỹ rất coi trọng sự răn đe tiến công quân sự
kết hợp bao vay cấm vận về kinh tế nhằm đè bẹp ý thức độc lạp tự chủ của dân tộc.
Tuy nhiên, không phải ở đâu chủ nghĩa đé quốc cũng toàn thắng. Chúng đã thất bại
ở một số khu vực trên thế giới. Đó là những nơi Đảng cách mạng có bản lĩnh vững
vàng, có đường lối chính trị đúng đắn, quần chúng nhân dân đứng lên kiên quyết
bảo vệ chế độ, bảo vệ tổ quốc.
Cùng với đặc điểm trên, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ hiện đại trên thế giới trong những thập kỹ qua cũng là những nét nổi bật trong
tình hình thế giới. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại ra đời và phát
triển bắt đầu từ những năm 50,60 của thế kỷ XX. Đến những năm 80, 90 cuộc cách
mạng đó đã phát triển với một tốc độ cao chưa từng thấy. Sự phát triển cao đó đã
thúc đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất nói riêng và kinh tế nói chung
đồng thời tạo ra những biến đổi to lớn, sâu sắc trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội -
nhân văn, môi trường sinh thái . Đồng thời cũng làm gia tăng tính quốc tế hóa
trong đời sống chính trị kinh tế thế giới. sự phát triển của khoa học công nghẹ vừa
tạo ra thời cơ cho sự phát triển cho các quốc gia vữa tiềm ẩn những nguy cơ to lớn
của các dân tộc nhất là đối với các nước nghèo, kém phát triển.
Mặt khác, sự phát triern của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đặt ra
nhu cầu khách quan cấp thiết là phải mở cửa đối với nền kinh tế, phải tăng cường
liên kết quốc tế. Đóng cửa với thế giới bên ngoài là con đường dẫn đến trì truệ, dẫn
tới sự suy thoái. Nhưng hội nhập mà không có chủ trương, phương hướng đúng
đắn không có hình thức bước đi, cách làm phù hợp thì cũng sẽ không thành công.
Đó là những vấn đề đặt ra hết sức nghiêm túc đối với mọi quốc gia, mọi nhà lãnh
đạo, đặc biệt là với những nước bước đầu tham gia hội nhập như nước ta. Đối với
nước ta, mở cửa hội nhập quốc tế là một tất yếu khách quan. Điều đó vừa tạo ra
những thuận lợi vừa làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp khó khăn mới mẽ đối với
Đảng và nhân dân ta.
Dứng trước tình hình trên, không có sự lựa chọn nào hơn là Đảng phải xiết chặt đội
ngũ , xốc lại đội hình tự đổi mới, tự chỉnh đốn về mọi mặt. Phải xây dựng Đảng
Tất cả tình hình trên đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục kiên trì và đẩy mạnh công cuộc
đổi mới theo định hướng XHCN. Đảng ta phải tiếp tụcđổi mới tư duy, lề lối tác
phong, phong cách lãnh đạo, hiệu quả làm việc của bộ máy đảng, nhà nước và các
tổ chức chính trị xã hội quần chúng nhân dân. Đồng thời phải tiếp tục thực hiện
công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Có như vậy công cuộc đổi mới đất nước
mới thành công, cách mạng vượt qua những khó khăn thử thách để tiếp tục giành
được những thắng lợi mới.
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH
ĐỐN ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY.
1. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG
1.1.Mục tiêu xây dựng và chỉnh đốn Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đã khẳng định rõ mục tiêu
của xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Xây dựng Đảng thật sự ngang một tầm Đảng cầm
quyền, có trọng trách lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến
lược. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức là nhân tố quyết
định sự phát triển của cách mạng nước ta”. Đây là mục tiêu cơ bản xuyên suốt
trong toàn bộ hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng của cách mạng Việt Nam. Để
đạt được mục tiêu trên phải là mọt quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn
Đảng, toàn dân, mà trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên và các cấp ủy Đảng từ
trung ương đến địa phương. Và để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi Đảng không
ngừng bổ sung, phát triển hoàn thiện và cụ thể hóa công tác xây dựng Đảng cho
phù hợp với yêu cầu của Đảng, của cách mangj trong thời kỳ lịch sử. Với tinh thần
đó đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6-1991) đã chỉ ra mục tiêu đổi
mới, chỉnh đốn Đảng trong thời kỳ này là: “Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn để
có kiến thức năng lực và sức chiến đấu mới, khắc phục có hiệu quả các hiện tượng
tiêu cực yếu và kém, khôi phục và nâng cao uy tín cua Đảng trong nhân dân. Đảng
phải tự xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức thực sự là đội tiên
phong của giai cấp công nhân”.
Với việc làm đề ra mục tiêu như vậy, đại hội đặt ra cho công tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng nhiệm vụ vưà phải phấn dấu đáp ứng mục tiêu yêu cầu trước mắt, vừa
đó, Đảng đã xác định một hệ thống các yêu cầu, nguyên tắc phương hướng, và các
giải pháp thực hiện.
1.2. Yêu cầu cơ bản trong xây dựng, chính đốn Đảng
Đại hội VI đã nêu lên những yêu cầu cơ bản trong xây dựng Đảng. Đảng phải đối
mới nhiều mặt: đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới
đội ngũ cán bộ. Đảng phải chăm lo xây dựngmình vững mạnh về chính trị, tư
tượng, tổ chức. Các yêu cầu trên nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách trước mặt của
công cuộc đổi mới và đáp ưng nhiệm vụ lâu dài của Đảng, cách mạng. Những yêu
cầu đó được đại hội VII tiếp tục khẳng định, đến Hội Nghị Trung Ương lần thứ 3
(khóa VII) dược xác định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn. Các yêu cầu cơ bản đó là nâng
cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao trình độ kiến thức
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, khắc phụ có hiệu quả tệ tham nhũng.
Tăng cường dân chủ và kỹ luật, cũng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng,
trong nhân dân. Đây là yêu cầu vừa cơ bản, vừa cấp bách trong công tác xây dựng
và chỉnh đốn Đảng. bời vì tình hình trong nước và quốc tế có nhều diển biến phức
tạp. bên cạnh những yếu tố tích cực, thuận lợi luôn kẻm theo những yếu tố tiêu cực
hằng ngày, hằng giờ tác động đến sự nghiệp cách mạng nước ta. Mặt khác, trong
thời gian qua chúng ta cũng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém; giảo điều, máy
móc, nóng vội chủ quan trong các chính sách kinh tế- xã hội trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Một bộ phận đội ngũ cán bộ đảng viên thiếu vững vàng kinh
nghiệm trước những thử thách cách mạng nhất là trước sự sụp đổ của xã hội chủ
nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu. Tất cả yêu cầu trên đặt ra yêu cầu vừa cơ bản vừa
cấp bách đối việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng là phải cũng cố, nâng cao hơn nữa
lập trường giai cấp, bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng. Bồi dưỡng
nâng cao trình độ đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên để đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Đồng thời khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng
và các hiện tượng tiêu cực của xã hội, bảo đảm kỹ luật, kỹ cương, sự đàn kết thống
nhất trong Đảng , tạo nền tảng cho sự thống nhất trong toàn xã hội. Có như vậy
Đảng mới trong sạch vững mạnh về tổ chức, tư tưởng, chính trị.
Phải kiện toàn lại hệ thống tổ chức của Đảng và các tổ chức cơ sở Đảng,
Các yêu cầu nói trên tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy trong quá trình thực hiện
xay dựng, chỉnh đốn Đảng cần phải quán triệt thực hiện tất cả các yêu cầu trên.
Đồng thời phải căn cứ vào tình hình thực tế cụ thể để đươ ra yêu cầu mới phù hợp
với từng thời kỳ, từng lĩnh vực. Tránh rập khuôn, máy móc. Có như vậy, công tác
xây dựng, chỉnh đốn Đảng mới đạt hiệu quả cao.
1.3. Nguyên tắc xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Để tạo ra sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn
dân và đảm bảo cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng xã hội chủ nghĩa. Hội nghị
trung ương 6 (khóa VI) đã xác lập nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới. Đến hội
nghị trung ương 3 (khóa VII) đã xác lập những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi
mới chỉnh đốn Đảng. Đây là vấn đề cốt tử, xuyen suốt quá trình xây dựng, chỉnh
đốn Đảng của Đảng ta. Các nguyên tắc đó là:
Công tác xây dựng tiến hành trên nguyên tắc quán triệt vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì đường lối đổi mới theo dịnh
hướng XHCN. Đây là nguyên tắc qua trọng hàng đầu chỉ đạo xuyên suốt toàn boojj
quá trình xây dưng, chình đốn Đảng. Bởi vì, Đảng được tổ chức và hoạt động theo
những nguyên lý xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đại hội VII đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hành động của Đảng. Vì vậy,
quán triệt và vận dụng Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều
kiện cụ thể của nước ta thì Đảng ta mới vạch ra được đường lối,chiến lược, sách
lược đúng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, vạch ra được phương
hướng, giải pháp đúng trong xây dựng chỉnh đốn Đảng.
Đổi mới chỉnh đốn Đảng phải tiến hành trên nguyên tắc không ngừng tăng
cường vai trò lảnh đạo của Đảng. Đây là vấn đề cốt lỏi của Đảng ta, cũng là tiêu
điểm mà các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
phải được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế xã hội… các cấp, các
ngành. Đồng thời phải luôn cảnh giác, vạch trần, đập tan các âm mưu phá hoại của
kẻ thù đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của Đảng.
đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ vững sự đoàn
kết trong Đảng. Xây dựng đội ngũ Đảng viên theo quan điểm của giai cấp công
nhân. Củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân.
Cùng với giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đang phải
nâng cao năng lực chính trị , năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn của
Đảng. Đây là nội dung cơ bản cấp bách trong xây dựng chỉnh đốn Đảng về chính
trị. Thực tế cho thấy để đưa cách mạng tiến lên vững chắc phải không ngừng nâng
cao bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ và năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng. Bản
lĩnh chính trị của Đảng biểu hiện ơ sự kiên định vững vàng trước những khó khăn
ở tinh thần độc lập, tự chủ, sáng toajtrong việc hoạch định đường lối chủ trương
sách lược đối nội, đối ngoại. Năng lực trí tuệ của Đảng biểu hiện ở việc hoạch định
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đường lối đó phản ánh đúng lý luận
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đúng với thực tiễn Việt Nam đem lại kết quả
cao trong thực tiễn. Năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng biểu hiện ở tập hợp
hướng dẫn quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng. Tù khi
vận đông công cuộc đổi mới, Đảng từng bước trưởng thành về chính trị, năng lực
trí tuệ năng lực thực tiễn. Điều đó thể hiện rõ ở đương lối đổi mới đúng đắn sáng
tạo mang tính tự chủ rấy cao. Để nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, năng lực trí
tuệ, năng lực tổ chức thực tiễn của Đảng trong thời kỳ mới của cách mạng cần làm
tốt hơn nữa việc bồi dưỡng lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, lý luận
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Mimh, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại cho
cán bộ, đảng viên. Kịp thờ uốn nắn nhuwnhx nhận thức sai trái lệch lạc của đảng
viên, quần chúng. Giáo dục cán bộ đảng viên sâu sắc tình hình trong nước, thế
giới , xu hướng vận động và phát triển của tình hình đế chủ động về tư tưởng, tinh
thần, không bị bất ngờ về tình huống mới xẩy ra. Đồng thời nâng cao hơn nữa năng
lực hoạt động thực tiễn của cán bộ, đảng viên và vác cấp ủy Đảng.
2.2. Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng Đảng
Công tác tư tưởng luôn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng của Đảng. Công tác tư tưởng không những đóng vai trò trong việc nâng cao
trình độ nhận thức của cán bộ đảng viên và quần chúng tạo sự đoàn kết thống nhất
ngủ đảng viên trong sạch vững mạnh là yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa hết sức qua
trọng; đồng thời còn là một nội dung cơ bản của xây dựng và chỉnh đốn Đảng về tổ
chức.
Đại hội VII đã chỉ ra ba biện pháp cơ bản trong xây dựng, chionhr đốn đội ngũ
đảng viên. Đó là làm trong sạch và nâng cao chát lượng đội ngũ đảng viên, khai trừ
khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa biến chất về chính tị và đạo đức. Đặc biệt
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) đã chỉ rõ những tiêu chuẩn đảng viên trong
tinh hình mới: Đảng viên phải là người giác ngộ chính trị, trung thành với mục tiêu
lý tưởng XHCN, lấy lợi ích của Tổ quốc làm đầu,có đạo đức lối sống lành mạnh,
gắn bó với quần chúng, chấp hàng đúng Điều lệ Đảng và Pháp luật của nhà nước,
thường xuyên học tập nâng cao trình độ nhận thức và năng lực công tác, ý thức tổ
chức kỷ luật.
Trong nghị quyết trung ương 6 (Lần 2, Khóa VII) ki đề cập đến công tác xây dựng
đội ngũ đảng viên đã nhấn mạnh: Điều lệ Đảng phải nói và làm theo Nghị quyết,
thực hiện đúng cương lĩnh, Điều lệ Đảng và pháp luật nhà nước, kiên định những
vấn đề mang tính chất nguyên tắc. Đặc biệt ngày 12/5/1999, Bộ chính trị đã ra
quyết định “những điều đảng viên không được làm” nhằm giữ vững phẩm chất đạo
đức chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên. Những nghị quyết trên đã
góp phần tạo ra sự chuyển biến tích cực trong đội ngũ đảng viên.
2.3.2. Xây dựng tổ chức cơ sở Đảng.
Tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là nơi trực tiếp xây dựng đội ngũ đảng
viên, nơi thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước thành hiện thực. Đại
hội VI vạch rõ: “Việc chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, phát huy quyền
dân chủ của dân chúng, nâng cao chất lượng đảng viên… đều tùy thuộc vào sức
mạnh đều tùy thuộc vào sức mạnh chiến đấu của tổ chức Đảng”. nghị quyết trung
ương 3 (Khóa VII) đã chỉ ra nhiều nội dung, biện pháp quan trọng trong việc chỉnh
đốn tổ chcs Đảng. Trong đó Nghị quyết nhấn mạnh: Đặc biệt củng cố các tổ chức
cơ sở Đảng ở những địa bàn và lĩnh vực trọng yếu về kinh tế và chính trị. Bố trí lại
cán bộ chủ chốt ở những nơi cần thiết. Đến đaih hôi VIII, ngoài việc chỉ ra những
khuyết điểm, yếu kém củ một số tổ chức cơ sở Đảng, Đại hội còn chỉ ra nhiều nội
với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân hoạt động trong khuôn khổ của Hiến
pháp và Pháp luật… “ Đại hội VIII cũng tiếp tục khẳng định và hoàn thiện phương
thức lãnh đạo của Đảng. Nhờ vậy mà sự lãnh đạo của Đảng ngày càng sát thực,
hiệu quả. Đã khắc phục được những khó khăn thử thách.
Nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai doạn hiện nay:
- Nâng cao trình độ nghiên cứu lý luận tổng kết thực tiễn đảm bảo cho Đảng
có cơ sở khoa học để xây dựng đường lối chính trị đúng đắn.
- Cải tiến việc ra nghị quyết, quyết định sao cho chính xác, thiết thực, đảm
bảo tính khả thi.
- Làm tốt khâu cụ thể hóa, thể chế hóa nghị quyết của Đảng thành chính sách,
Pháp lệnh của nhà nước.
- Làm tốt việc thực hiện kiểm tra, thực hiện nghị quyết kịp thời uốn nắn
những sai sót lệch lạc, đồng thời bổ sung điều chỉnh chương trình chính sách
cho phù hợp.
- Xây dựng quy trình làm việc ra nghị quyết. Vận dụng các thành tự khoa học
mới vào các khâu tuyên truyền, phổ biến nghị quyết, quản lý cán bộ, tập hợp
báo cáo, bầu cử thu thập tài liệu, xử lý thông tin số liệu phục vụ công tác
lãnh đạo.
- Tổ chức thí điểm rút kinh nghiệm trong từng lĩnh vực, từng ngành để cải tiến
lề lối tác phong, phong cách lãnh đạo cho phù hợp.
2.3.5. Đổi mới công tác tổ chức vận động quần chúng, tăng cường
kiểm tra và giữ gìn kỷ luật trong Đảng