Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại
Thương, Phòng đào tạo trường Đại học Ngoại Thương cùng với các thầy cô
Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho
chúng em hoàn thành khoá luận tốt nghiệp. Trong suốt quá trình hoàn thành
bài khoá luận tốt nghiệp, chúng em đã được tạo mọi điều kiện trong việc tiếp
cận các nguồn thông tin và tài liệu bổ ich cho đề tài của mình.
Em cũng xin bày tỏ sự biết ơn chân thành và sâu sắc đến Thạc sỹ Vũ
Thành Toàn-giáo viên trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành
bài khoá luận này. Dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của thầy, em đã
có được những định hướng đúng đắn về đề tài, từ đó đưa ra cách thức triển
khai và tìm kiếm tài liệu cho đề tài. Em xin cảm ơn thầy đã hướng dẫn và góp
ý cho em rất nhiều về nội dung cũng như cách thức trình bày một khoá luận
tốt nghiệp.
Cuối cùng, em xin được chân thành cảm ơn các cơ quan, viện nghiên
cứu kinh tế, thư viện Quốc gia đã tạo điều kiện tốt cho em trong quá trình thu
thập tài liệu cho đề tài khoá luận tốt nghiệp này.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
MỤC LỤC
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
ADA Agreement on Anti-Dumping
Practices
Hiệp định chống bán phá giá
SPS Sanitary and phytosanitary Hiệp định về áp dụng các biện pháp
kiểm dịch động thực vật
TRIMS Agreement on Trade Related
Investment Measures
Hiệp định các biện pháp đầu tư liên
quan đến thương mại
TRIPS Agreement on Trade Related
Aspects of Intellectual
Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có
lien quan đến thương mại
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
Property Rights
TRQ Tariff Rate Quota Hạn ngạch thuế quan
VER Voluntary Export Restraint Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
LỜI NÓI ĐẦU
Tự do hoá thương mại, giảm dần và tiến tới xoá bỏ các rào cản bảo hộ
mậu dịch đang là xu hướng chung ở nhiều nước nhằm tạo ra các điều kiện để
hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Tuy nhiên, không một quốc gia
nào dù là cường quốc kinh tế như Hoa Kỳ, lại mở cửa toàn bộ nền kinh tế.
Mỗi quốc gia dựa theo những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể mà ít
nhiều đều có nhu cầu bảo hộ một số ngành sản xuất trong nước trong quá
28/2009/QĐ-BTC và số 39/2009/TT-BTC.
Như vậy, có thể nhận thấy bảo hộ thương mại không chỉ là mối quan tâm
của bất kỳ quốc gia nào nói riêng mà là của hầu hết các quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Từ khi gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới
WTO, tiến hành mở cửa nền kinh tế và hoà vào xu thế tự do hoá thương mại,
Việt Nam vẫn luôn duy trì một số biện pháp bảo hộ mậu dịch cho một số sản
phẩm và ngành hàng nội địa. Vậy thực trạng sử dụng các biện pháp bảo hộ
thương mại ở Việt Nam trong thời gian qua ra sao? Giải pháp nào nhằm sử
dụng có hiệu quả nhất các biện pháp đó? đòi hỏi phải có nhiều công trình
nghiên cứu làm sáng tỏ bởi đây được coi là một vấn đề có tính thời sự cả về lý
luận và thực tiễn. Thêm nữa, việc nghiên cứu và đúc kết kinh nghiệm cũng
như đưa ra các giải pháp hữu ích cho việc sử dụng các biện pháp bảo hộ
thương mại tại Việt Nam là hết sức cần thiết và thiết thực cho Việt Nam trong
thời gian tới. Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu để từ đó đề ra
những phương hướng sử dụng có hiệu quả các biện pháp bảo hộ thương mại
tại Việt Nam trong bối cảnh quốc tế hoá nền kinh tế hiện nay nên em đã quyết
định chọn đề tài “ Bảo hộ thương mại trong bối cảnh Việt Nam là thành viên
của WTO-thực trạng và giải pháp”.
1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là nhằm cung cấp những nội dung
2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
cơ bản về bảo hộ thương mại cũng như thực trạng áp dụng các biện pháp bảo
hộ thương mại ở Việt Nam kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới, tiến hành hội nhập kinh tế quốc tế và tự
do hoá thương mại.
Khoá luận cũng nhằm cung cấp những giải pháp đối với Việt Nam trong
việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả các biện pháp bảo hộ thương mại trong
thời gian tới.
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
BẢO HỘ THƯƠNG MẠI
I. KHÁI NIỆM, QUÁ TRÌNH RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CHÍNH SÁCH BẢO HỘ THƯƠNG MẠI
1. Khái niệm về bảo hộ thương mại
Bảo hộ thương mại (hay còn gọi là bảo hộ mậu dịch) là chính sách ngoại
thương của các nước nhằm một mặt sử dụng các biện pháp để bảo vệ thị
trường nội địa trước sự cạnh tranh dữ dội của hàng ngoại nhập, mặt khác giúp
Nhà nước nâng đỡ các nhà kinh doanh trong nước bành trướng ra thị trường
nước ngoài (giáo trình quan hệ kinh tế quốc tế - GS.TS Võ Thanh Thu).
Nhà nước sử dụng những biện pháp thuế và phi thuế: thuế quan, hệ
thống thuế nội địa, giấy phép xuất nhập khẩu, hạn ngạch, các biện pháp kĩ
thuật…để hạn chế hàng hoá nhập khẩu.
Nhà nước cũng nâng đỡ các nhà xuất khẩu nội địa bằng cách giảm hoặc
miễn thuế xuất khẩu, thuế doanh thu, thuế lợi tức, trợ cấp xuất khẩu…..để họ
dễ dàng bành trướng ra thị trường nước ngoài.
Các nước sử dụng chính sách bảo hộ thương mại như là một công cụ bảo
vệ hữu hiệu nhằm:
•Giảm bớt sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu
•Bảo hộ các nhà sản xuất kinh doanh trong nước, giúp họ tăng cường
sức mạnh trên thị trường nội địa
•Giúp nhà xuất khẩu tăng sức cạnh tranh để thâm nhập thị trường nước ngoài
•Giúp điều tiết cán cân thanh toán quốc tế, sử dụng hợp lý nguồn ngoại
tệ thanh toán của mỗi nước
5
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
biện pháp khác nhau để giúp đỡ các tổ chức lũng đoạn vừa chiếm lĩnh được
thị trường nội địa vừa chủ động tấn công xâm nhập các thị trường nước ngoài,
chính sách “siêu bảo hộ” là bước phát triển của chính sách bảo hộ mậu dịch,
biến chính sách ngoại thương kiểu này từ mang tính chất cực đoan “ngăn
chặn” sang vừa “ngăn chặn” vừa “tấn công” và “bành trướng”. Cho nên có
thể gọi chính sách “tân bảo hộ” hay “siêu bảo hộ” là chủ nghĩa bảo hộ mang
tính chất “xâm lược”. Chính sách này xuất hiện từ cuối thế kỷ 19, bắt đầu từ
nước Đức, sau đó lan rộng ra các nước khác. Ngày nay chính sách siêu bảo hộ
vẫn được duy trì dưới nhiều hình thức mới và tinh vi.
2. Quá trình ra đời và phát triển của chính sách bảo hộ thương mại
Về mặt lịch sử, chính sách bảo hộ thương mại ra đời từ rất sớm, từ thời
kỳ tích luỹ nguyên thuỷ của chủ nghĩa tư bản - thời kỳ chuẩn bị của phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (bao gồm suốt từ thế kỷ XVI-XVII đến khoảng
những năm 60-70 của thế kỷ XVIII), khi thị trường thế giới bắt đầu hình
thành. Thị trường thế giới tuy chưa phát triển đầy đủ, nhưng nó đã thúc đẩy
nhanh tốc độ tích luỹ tư bản và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Hàng hoá lưu thông trên thị trường thời kỳ này lúc đầu phần lớn của
người sản xuất nhỏ và sau đó là của các xí nghiệp nông nghiệp TBCN và do
các công xưởng thủ công sản xuất ra. Tư bản thương nghiệp-được coi là
những người môi giới trung gian - chiếm địa vị chủ yếu.
Nhà nước của giai cấp tư bản đang lên dựa vào lý thuyết trọng thương
làm chỗ dựa cho chính sách thương mại của mình. Tư tưởng chính của học
thuyết trọng thương chính là mỗi nước muốn đạt được sự thịnh vượng trong
phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ mà muốn gia tăng khối
lượng tiền tệ thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại thương, nhưng
thuyết trọng thương cũng nhấn mạnh trong hoạt động ngoại thương phải thực
hiện chính sách xuất siêu và bảo hộ sản xuất (tăng cường xuất khẩu, hạn chế
7
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
cạnh tranh là tuy sự kiểm soát của chính phủ giảm dần nhưng chính sách bảo
hộ vẫn còn, chỉ có điều những chính sách bảo hộ thời kỳ này có tính chất ôn
hoà hơn, hướng vào nâng đỡ các ngành công nghiệp non trẻ để chúng có sức
cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sự chuyển biến mạnh mẽ của CNTB tự
do cạnh tranh sang CNTB độc quyền ở các nước tư bản phát triển đã làm nảy
sinh nhiều hiện tượng kinh tế, xã hội mới, cùng những mâu thuẫn khó khăn
vốn có của CNTB. Các cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra (đặc biệt là cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933) đã chứng tỏ các lý thuyết “bàn tay
vô hình”, “tự điều tiết” của thị trường mà trường phái cổ điển và tân cổ điển
nêu ra không còn hiệu nghiệm trước việc khắc phục những hậu quả của tự do
cạnh tranh.
Độc quyền ra đời có nghĩa là chấm dứt thời kỳ tự do cạnh tranh. Tổ chức
độc quyền nắm quyền thống trị thị trường, liên minh quốc tế những nhà tư
nhằm phân chia thị trường thế giới. Bản thân sự tồn tại hiện tượng này cũng
có nghĩa là mậu dịch tự do bị phá hoại.
Chính sách thuế quan siêu bảo hộ được coi là đặc trưng của chính sách
thương mại của các nước tư bản phát triển. Nó là công cụ tối quan trọng để tư
bản tài chính nắm độc quyền thị trường nội địa và mở rộng thị trường ngoài
nước.
Cùng với bước quá độ sang giai đoạn độc quyền, nhất là vào khoảng
những năm 1890-1910, hầu hết các nước tư bản phát triển nhất (trừ Anh và
Hà Lan) đều áp dụng thuế suất bảo hộ rất cao, đánh thuế nhập khẩu rất cao
đối với nhiều loại hàng. Sau đó tất cả các nước tư bản đều đã không ngừng
nâng cao mức thuế và mở rộng diện những mặt hàng phải nộp thuế. Thời kỳ
khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, nước Anh cũng thi hành chính sách
thuế quan bảo hộ. Mức thuế quan của Mỹ lúc bấy giờ là cao nhất. Theo thống
kê, thuế nhập khẩu (chiếm tỷ lệ % giá cả hàng hoá) đánh vào hàng công nghệ
9
10
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
của mình.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI, khi mà tự do
hoá thương mại đang là trào lưu mạnh mẽ thì chế độ bảo hộ mậu dịch gắt gao
đối với các sản phẩm nông nghiệp (lương thực, thực phẩm) vẫn tồn tại ở Mỹ,
Nhật Bản, các nước EU. Các quốc gia đang phát triển vẫn còn rất thận trọng
trước những đòi hỏi tự do hoá sâu hơn, đầy đủ và mạnh mẽ hơn nữa thị
trường cho các hàng hoá, dịch vụ và đầu tư của các nhà đầu tư và doanh
nghiệp của các nước tư bản phát triển nhằm khai thác lợi nhuận từ lợi thế
cạnh tranh của họ trên thị trường toàn cầu. Do vậy việc áp dụng các biện pháp
bảo hộ ở các quốc gia này vẫn được coi là cần thiết.
II. CÁC BIỆN PHÁP BẢO HỘ THƯƠNG MẠI THEO QUY ĐỊNH
CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO
1. Biện pháp về thuế quan
1.1 Khái niệm, vai trò và phân loại thuế quan
Thuế quan là khoản thu do nhà nước đặt ra đối với hàng xuất khẩu và
nhập khẩu khi hàng hoá đó làm thủ tục thông quan tại cửa khẩu hải quan hoặc
đánh vào các khoản chuyển khoản để thanh toán hàng xuất nhập khẩu.
Trong bài khoá luận này, người viết muốn nhấn mạnh vào thuế nhập
khẩu nói riêng với ý nghĩa là một trong những công cụ bảo hộ thương mại.
Hiện nay, thuế quan là công cụ bảo hộ được sử dụng rộng rãi trên thế
giới. Tổ chức WTO coi thuế quan là một biện pháp hợp lệ và cho phép các
nước thành viên duy trì do tính minh bạch và dễ dự đoán trong thương mại
quốc tế. Tuy nhiên, thông qua các vòng đàm phán, WTO luôn hướng tới mục
tiêu cắt giảm thuế quan và tăng mức độ ràng buộc thuế (các nước thành viên
không được phép tăng thuế lên mức trần đã cam kết trong biểu).
Thuế quan có một số vai trò như sau:
- Thuế nhập khẩu có vai trò điều tiết nhập khẩu: điều tiết lượng hàng hoá
định “giá giao dịch” sau đây:
12
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
Thứ nhất, các thành viên WTO phải cam kết sử dụng “giá giao dịch” làm
cơ sở tính thuế hải quan (giá thể hiện trên hoá đơn hoặc hợp đồng nhưng giá
đó phải đúng là giá giao dịch thực tế)
Thứ hai, nếu không xác định được “giá giao dịch” là trung thực, thì hải
quan của nước nhập khẩu có quyền căn cứ vào “giá giao dịch” của món hàng
giống hệt như món hàng trên và được xuất khẩu trong cùng một thời gian và
địa điểm xuất xứ của hàng hoá.
Thứ ba, nếu “giá trị giao dich” không thể xác định theo cách thứ nhất và
thứ hai kể trên thì hải quan có thể sử dụng giá trị giao dịch của mặt hàng
tương tự.
Thứ tư, hải quan nước nhập khẩu thuộc thành viên WTO có thể tự xác
định “giá giao dịch” trên cơ sở lấy giá bán của mặt hàng y hệt hoặc tương tự
đang tiêu thụ trên thị trường nhập khẩu trừ đi các khoản hoa hồng, chi phí vận
chuyển và phí bảo hiểm tại quốc gia nhập khẩu.
Thứ năm, các thành viên WTO có thể thẩm định “giá giao dịch” trên cơ
sở xác định giá thành bao gồm các chi phí chế tạo và các chi phí khác có liên
quan đến nhập khẩu hàng hoá, tuy nhiên giá tính theo cách này phải được đối
chiếu so sánh với giá giao dịch được xác định theo các cách kể trên.
- Thuế tính theo số lượng: là thuế được tính ổn định dựa theo khối lượng
hoặc trọng lượng hàng hoá nhập khẩu (số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc
vào giá cả hàng hoá nhập khẩu do đó tránh được hiện tượng gian lận liên quan
đến kê khai giá trị hàng hoá)
- Thuế hỗn hợp: thuế tính theo cả hai cách trên
1.2 Cam kết thuế quan trong WTO
Thuế quan được coi là biện pháp bảo hộ thương mại cổ điển nhất và
thông thường được áp dụng đầu tiên để tăng thu ngân sách cho chính phủ.
2. Các biện pháp bảo hộ phi thuế quan
Ngoài biện pháp thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù được quy
14
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
định cụ thể trong hệ thống chính sách luật pháp hay phát sinh từ thực tiễn
quản lý hoạt động thương mại, có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu thì đều
được coi là các biện pháp phi thuế quan (NTM). Mỗi biện pháp phi thuế quan
NTM có một hoặc nhiều thuộc tính như áp dụng biên giới hay nội địa, được
duy trì một cách chủ động hay bị động, phù hợp hoặc không phù hợp với
thông lệ quốc tế, nhằm bảo hộ hay không bảo hộ…
2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng
Các biện pháp hạn chế định lượng được coi là những biện pháp có tính
chất bảo hộ mạnh mẽ hơn các biện pháp thuế quan và trực tiếp bóp méo
thương mại quốc tế. Do vậy, WTO không cho phép các nước thành viên áp
dụng các biện pháp này và coi đây là một nguyên tắc cơ bản dành cho các
quốc gia đã và đang muốn gia nhập WTO. Tuy nhiên, cũng có một số ngoại lệ
đối với nguyên tắc này, cho phép các nước thành viên được áp dụng theo
những điều kiện nghiêm ngặt nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ sức khoẻ
con người, bảo vệ động thực vật, môi trường…Sau đây là một số những biện
pháp hạn chế định lượng được áp dụng phổ biến nhất:
2.1.1 Cấm nhập khẩu (Prohibitions)
Cấm nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn nhất đối
với thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp cấm
nhập khẩu như: cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm
sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu…Nói chung WTO không
cho phép các nước thành viên sử dụng biện pháp này trừ một số trường hợp
được quy định tại điều XX và XXI -GATT 1994 là cần thiết để đảm bảo an
ninh quốc gia, đạo đức xã hội; bảo vệ con người, động vật và thực vật; bảo vệ
các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm (Điều XX của Hiệp định GATT 1994
Giấy phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục hành chính được
sử dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu - đòi hỏi đệ trình đơn hay
các tài liệu khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành
chính thích hợp - và là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu. Tuy
16
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
nhiên, thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép không được bóp méo
thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó. Các qui tắc đối với
thủ tục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập (neutral) và được
quản lý theo một cách thức công bằng và hợp lý. Mặt khác, cần phải công
khai các thông tin liên quan tới thủ tục nộp đơn, tiêu chuẩn của nhà nhập
khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh sách các sản phẩm đòi hỏi giấy phép trong thời
hạn 21 ngày trước khi chúng có hiệu lực. Người nộp đơn chỉ cần tiếp cận tới
một cơ quan hành chính. Trường hợp đặc biệt không được quá ba cơ quan.
Nhà nhập khẩu hàng cần giấy phép có thể tiếp cận ngoại tệ cần thiết trên cùng
một cơ sở với hàng nhập khẩu không cần giấy phép.
Giấy phép nhập khẩu được chia làm hai loại :
- Giấy phép nhập khẩu tự động : được cấp trong khoảng thời gian tối đa
là 10 ngày sau khi nhận được đơn xin cấp giấy phép nhập khẩu, không hạn
chế khối lượng nhập khẩu trong phạm vi điều chỉnh, không đặt ra hạn chế với
nhà nhập khẩu.
- Giấy phép nhập khẩu không tự động : thường được dùng để quản lý các
hạn chế số lượng, phải được cấp trong khoảng thời gian tối đa là 30 ngày kể
từ khi nhận được đơn xin cấp giấy phép theo nguyên tắc ''đến trước - cấp
trước'', và 60 ngày nếu tất cả các đơn xin cấp giấy phép được xem xét cùng
một lúc.
Trước đây, cấp phép nhập khẩu là một biện pháp được sử dụng rất rộng
rãi nhằm hạn chế nhập khẩu. Hiện nay, các quy định về cấp phép nhập khẩu
của một nước thành viên phải tuân thủ Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép
- giá bán trong nước của hàng hoá tương tự được sản xuất tại nước mà
hàng hoá cần xác định trị giá hải quan được nhập khẩu
- một hệ thống cho phép chấp nhận giá cao hơn trong hai loại giá sử
dụng để xác định trị giá tính thuế quan của hàng hoá
- giá bán của hàng hoá tại thị trường nước xuất khẩu
- định giá trên có sở giả định hay tuỳ tiện
18
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thanh Huyền
Lớp: A13 - K44D-KT&KDQT
WTO có Hiệp định về xác định trị giá tính thuế hải quan (CVA). Mục
tiêu của CVA là tất cả các nước thành viên của WTO cần áp dụng các quy
định một cách đồng bộ, rõ ràng và công bằng trong lĩnh vực trị giá hải quan.
Các nước đang phát triển được hưởng lợi từ CVA vì hiệp định này tạo ra sự
minh bạch hơn, khả năng dự báo cao hơn và khách quan hơn trong tính toán
trị giá hải quan. Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển như Việt Nam gặp
phải các vướng mắc khi thực hiện CVA vì đòi hỏi phải có nhiều nguồn lực,
đòi hỏi phải có các thể chế có hiệu quả, các cơ quan hải quan hiện đại và có
năng lực, phải có các chương trình giáo dục và đào tạo cho những công chức
nắm giữ các vị trí chủ chốt, cần áp dụng công nghệ mới.
2.2.2 Giá bán tối đa (Maximum selling price)
Giá bán tối đa trong nước đối với một hàng hoá nào đó có thể hạn chế
nhập khẩu, đặc biệt là đối với những nhà xuất khẩu không có khả năng cạnh
tranh cao. Các thành viên thừa nhận là các biện pháp quản lý giá tối đa dù cho
có phù hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử quốc gia (NT) cũng có thể
có tác động xấu tới lợi ích của các thành viên đang cung cấp hàng nhập khẩu.
Do đó các thành viên đang áp dụng các biện pháp quản lý giá tối đa cần phải
tính đến lợi ích của các thành viên xuất khẩu nhằm tránh mở rộng các tác
động xấu đó.
2.2.3 Phí thay đổi (Variable import levies)
Những loại phí thay đổi cản trở đáng kể thương mại do tính không minh