TIỂU LUẬN: HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU - Pdf 11

TÊN TIỂU LUẬN:
HIỆU QUẢ TỪ CÁC GÓI CHÍNH SÁCH
CỦA VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC
VƯỢT QUA KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU

Nhóm SV thực hiện: G3-TCNH08A
Giảng viên hướng dẫn: Hồ Thị Khánh Linh CAO LÃNH – 10/2009
ĐI HC ĐNG THÁP
KHOA KINH T
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
L
L


phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều gói chính sách nhằm đưa kinh tế của đất nước
thoát khỏi cơn bão khủng hoảng, trở lại với mức tăng trưởng khá như kế hoạch tầm
vĩ mô đã đề ra. Điều chỉnh về tài chính là việc làm cần thiết để tránh đặt toàn bộ
gánh nặng lên bình ổn tỉ giá. Tuy nhiên, nếu phụ thuộc quá nhiều vào chính sách
thắt chặt tiền tệ sẽ chỉ khiến cho thị trường tài sản suy yếu và gây rủi ro cho các
ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần đã cho vay quá nhiều để đầu tư tài
chính và bất động sản. Trong thời điểm hiện nay, chênh lệch do lạm phát giữa Việt
Nam và các đối tác thương mại đã khiến cho tiền đồng tăng giá. Việc để mất khả
năng cạnh tranh của đồng tiền quốc gia là một động thái không hề mong đợi trong
thời điểm mức thâm hụt thương mại lên cao như vậy.
Vậy những nỗ lực và động thái của Chính phủ và các nhà hoạch định chính
sách trong việc cùng lúc giải quyết những vấn đề lớn của nền kinh tế ra sao? Và
chúng đã phát huy tác dụng như thế nào?
Trong khuôn khổ một bài tiểu luận kinh tế, chúng tôi xin được phép nêu ra
những vấn đề chung nhất, mang tính khái quát nhất xoay quanh 3 nội dung chính:
1. Khủng hoảng tài chính toàn cầu. Những tác động của nó đến nền kinh tế
Thế giới.
2. Khái quát tình hình kinh tế Việt Nam 2008-2009.
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
3. Các gói giải pháp của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát, kích cầu và
bình ổn kinh tế giai đoạn 2008 – 2009. (Phần này chỉ đề cập đến hiệu quả các chính
sách tiền tệ của Chính phủ).
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, nhóm đã được sự hướng dẫn, động viên
chân thành của cô Hồ Thị Khánh Linh - cao học kinh tế, giảng viên khoa Kinh tế,


N
N
G
GK
K
Í
ÍH
H
I
I


U
UV
V
I
I


T

UL
L
U
U


N
N- TCTK : Tổng cục Thống kê
- NHNN : Ngân hàng Nhà nước
- NHTM : Ngân hàng thương mại
- NCQLKTTƯ : Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương
- VIR : Vietnam Investment Review
- ADB : Asian Development Bank
- BMI : Business Monitor International Ltd.
- IMF : International Monetary Fund
- EIU : Economist Intelligence Unit
- WB : World Bank
- HA : Haver Analytics
- SIV : Structured Inverstment Vehicle
- FED : Federal Reserve System
- OECD : Organization for Economic Cooperation and Development

IK
K
H
H


N
N
G
GH
H
O
O


N
N
G
GT
T
À


U
UN
N
H
H


N
N
G
GT
T
Á
Á
C

Đ


N


N
NK
K
I
I
N
N
H
HT
T

ẾT
T
H
H

ẾG

cho vay dài hạn vào một lĩnh vực khá nhạy cảm là bất động sản, mặc dù để đảm
bảo khả năng thu hồi nợ họ đã bán các khoản cho vay này cho các tổ chức tài
chính và đã để lại cho nền kinh tế, thị trường tài chính rủi ro rất lớn. Đó là rủi ro
vỡ nợ khi giá của các tài sản dài hạn là bất động sản xuống thấp hơn giá trị của
các khoản nợ ngắn hạn và rủi ro thanh khoản do việc đi vay ngắn hạn nhưng lại
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
cho vay dài hạn. Rủi ro này sẽ tăng lên gấp bội trong điều kiện thiếu sự kiểm
soát và giám sát của Chính phủ.
II. DIỄN BIẾN CUỘC KHỦNG HOÁNG TÀI CHÍNH HOA KỲ
Tháng 8 năm 2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century
Financial Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình
trạng cổ phiếu của mình bị mất giá mạnh như Countrywide Financial
Corporation. Nhiều người gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút
tiền, gây ra hiện tượng đột biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm
khó khăn hơn. Nguy cơ khan hiếm tín dụng hình thành.
Từ Mỹ, rối loạn này lan sang các nước khác. Ở Anh quốc, ngân hàng
Northern Rock bị chao đảo vì người gửi tiền xếp hàng dàitrước trụ sở công ty
đòi rút tiền gửi của mình.
Trước tình hình đó, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System –
FED) đã tiến hành các biện pháp nhằm tăng mức độ thanh khoản của thị trường
tín dụng như thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua vào các loại công trái Mỹ,
trái phiếu cơ quan Chính phủ Mỹ. Tháng 9/2007, Cục dự trữ Liên bang tiến
hành giảm lãi suất cho vay liên ngân hàng (Fed fund rates) từ 5,25% xuống còn
4,75%. Trong khí đó, Ngân hàng Trung ương Châu Âu đã bơm 205 tỷ dollar Mỹ

một tổ chức tài chính vào
loại lớn nhất và lâu đời
nhất của Mỹ bị phá sản.
Tiếp sau Lehman là chuỗi
một loạt các công ty khác.
Tháng 9/2008, Thượng
viện Hoa Kỳ thông qua
Đạo luật Ổn định kinh tế
khẩn cấp 2008 cho phép
bộ trưởng Bộ Tài chính
Hoa Kỳ chi tới 700 tỷ
USD để cứu nền tài chính
của nước này bằng cách
mua lại các khoản nợ xấu
của ngân hàng, đặc biệt là các chứng khoán đảm bảo bằng bất động sản.
Tính đến thời điểm này, tổng số ngân hàng bị giải thể ở Mỹ từ đầu năm
2009 đã lên tới con số 98 và đang tiến gần tới mốc 100, tức là gấp 4 lần so với
con số 25 ngân hàng phải đóng cửa trong năm 2008. Tính bình quân, mỗi tháng
trong năm 2009 đã có hơn 10 ngân hàng tại Mỹ lâm nạn, phần lớn là các ngân
Diễn biến kinh tế Quốc tế năm 2008
2/1: Giá dầu thô lần đầu tiên vượt 100 USD mỗi thùng.
16/3: Bear Stears tuyên bố phá sản, báo hiệu chuỗi đổ vỡ của các định chế
tài chính vào những tháng tiếp theo.
11/7: Giá dầu chạm mức lịch sử 147,27 USD mỗi thùng.
7/9: Mỹ chi 200 tỷ USD tiếp quản Freddie Mac và Fannie Mae.
14/9: Bank of America mua lại Merrill Lynch.
15/9: Lehman Brothers tuyên bố phá sản.
16/9: Mỹ giải cứu AIG.
21/9: Goldman Sachs và Morgan Stanley thay đổi mô hình hoạt động.
28/9: Ngân hàng Bradford & Bingley (Anh) sụp đổ.

1. Đối với Hoa Kỳ:
Cuộc khủng hoảng này là nguyên nhân chính làm cho kinh tế Hoa Kỳ rơi
vào suy thoái từ tháng 12 năm 2007. Nhiều chuyên gia dự đoán đây sẽ là đợt suy
thoái nghiêm trọng nhất ở cường quốc kinh tế này kể từ sau Chiến tranh Thế
giới thứ hai. Bình quân mỗi tháng, từ tháng 1 tới tháng 9 năm 2009 có 84 nghìn
người lao động Hoa Kỳ bị mất việc làm.
Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và tiêu dùng của
các hộ gia đình lại càng làm cho các doanh nghiệp khó tiêu thụ được hàng hóa
của họ. Nhiều doanh nghiệp lớn bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó
bao gồm cả ba nhà sản xuất ô tô hàng đầu Hoa Kỳ là General Motors, Ford
Motors và Chrysler LLC. Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động
Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công. 12/12/2008, GM (General
Motors) đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng hoạt động
không hiệu quả ở khu vực Bắc Mỹ. Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn đến
mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đẩy kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có
thể bị giảm phát.
Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones lúc đóng cửa ngày 9 tháng 3
năm 2009 là 6.547,05 – mức thấp nhất kể từ tháng 4 năm 1997. Chỉ trong vòng
6 tuần lễ, chỉ số này sụt tới 20%.
Suy thoái kinh tế đã đẩy tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo của Mỹ lên
mức 13,2% trong năm 2008, từ mức 12,5% trong năm 2007. Đây là mức cao
nhất từ năm 1997 tới nay và có khả năng tiếp tục tăng cao hơn trong năm nay do
tỷ lệ thất nghiệp đang leo thang. Con số này đồng nghĩa với việc 39,8 triệu
người Mỹ sống với thu nhập dưới 22.025USD/năm cho một gia đình có 4 người
theo chuẩn nghèo của Mỹ. Nếu tính tới yếu tố lạm phát, thu nhập bình quân của
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

Theo bảng 1, ta nhận thấy hầu hết các quốc gia phát triển, có nền kinh tế
vững mạnh đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu. Cụ thể là Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Anh, Canada đều
được dự báo là sẽ tăng trưởng âm trong năm 2009, thậm chí là Đức tăng trưởng
âm tới 6,2%, Nhật Bản cũng không khá hơn với mức tăng trưởng – 6%.
Tình hình này sẽ còn tiếp diễn và gây tác động tiêu cực cho đến tận năm
2010 ở toàn thể các nước sử dụng đồng tiền chung Euro (khối EU). Nguyên
nhân của điều này là do các nước châu Âu vốn chịu quan hệ kinh tế mật thiết với
Hoa Kỳ nên khi khủng hoảng xảy ra, các nước này chịu tác động nghiêm trọng
cả về tài chính lẫn kinh tế. Nhiều tổ chức tài chính bị phá sản đến mức trở thành
khủng hoảng tài chính nội bộ ở một số nước như Iceland, Nga. Nói về Nga,
nước này được dự báo sẽ tăng trưởng âm 6.5% trong năm 2009 và đến 2010 mới
có thể khôi phục nền kinh tế. Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý đều
rơi vào suy thoái. Anh, Pháp, Tây Ban Nha cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Các nền kinh tế Mỹ Latin cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ
nên cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và
khi giá dầu giảm mạnh. Ecuador tiến đến bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ.
Đặc biệt, khối các nước công nghiệp mới Châu Á có mức tăng trưởng
bình quân dự kiến trong năm 2009 là – 5,2%, mức tăng trưởng thấp nhất kể từ
sau cơn khủng hoảng tài chính châu Á 1997.
Xét trên một khía cạnh khác ,sự bền vững của tài chính toàn cầu đang là
một mối lo chung của các nhà hoạch định chính sách. Rủi ro từ các thị trường mới
nổi đang gia tăng một cách nhanh chóng kể từ đầu tháng 10/2008. Rủi ro từ tín
dụng và kinh tế vĩ mô cũng ngày càng phình to ra. Gánh nặng tài chính đang lớn
dần lên là kết quả của những kế hoạch cứu vãn ngân hàng và các gói kích cầu của
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

(Trích Dự báo triển vọng kinh tế toàn cầu - Nguồn: IMF)
Bảng 3 cho thấy giá dầu và giá hàng hóa phi dầu đều giảm mạnh trong
năm 2009, giá dầu giảm 37,6%, các hàng hóa khác giảm 23,8%, đưa mức giá
của các hàng hóa này trở về thời điểm của 2 – 3 năm về trước. Giá tiêu dùng
trong năm nay, được dự báo tuy không tăng trưởng âm, nhưng mức giá chung
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
đều tăng chậm lại, đặc biệt là với các nước phát triển, chỉ dao động trong khoảng
xê dịch dưới 0,1%.
Tuy nhiên, theo những diễn biến mới nhất từ thị trường dầu thô Thế giới,
giá dầu trong tháng 9-10/2009 liên tiếp có những đợt tăng giá, tính đến thời
điểm ngày 22/10/2009, giá dầu đã vượt mức 81USD/thùng nhờ sự trượt giá
mạnh của đồng USD.
Áp lực lạm phát trở nên căng thẳng từ giữa năm 2007 kéo dài cho tới
khoảng cuối năm 2008. Các nền kinh tế mới nổi có giai đoạn lạm phát danh
nghĩa lên tới 9% (khoảng giữa năm 2008).

Hình 2: Biểu đồ tỉ lệ lạm phát toàn cầu
(Nguồn: BFM, HA & IMF)
Tuy nhiên kể từ đầu năm 2009, tình hình lạm phát gần như đã xoa dịu đi
mức độ suy yếu chung của nền kinh tế. Cụ thể là tỉ lệ lạm phát toàn cầu giữ ở
mức dưới 6% và có xu hướng giảm rõ rệt. Thậm chí các nền kinh tế phát triển
như Nhật Bản đang có chiều hướng giảm phát (tỉ lệ lạm phát dưới 0%) vì giá
dầu vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với một năm về trước, mặc dù hiện tại chúng
đang nhích giá từng ngày. Tỉ lệ lạm phát cơ bản nói chung giữ ở mức trung bình,

thách thức từ những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc.
2. Nhật Bản – Suy thoái đã rời khỏi đất nước mặt trời mọc
Kinh tế Nhật Bản tăng trưởng dương trở lại trong quý 2 sau 5 quý liền
liên tục co cụm. Sự hồi phục của lĩnh vực xuất khẩu và chi tiêu của người dân đã
giúp nước này thoát khỏi cuộc suy thoái tồi tệ nhất thời hậu chiến tranh.
Số liệu thống kê do Văn phòng Nội các Nhật Bản công bố ngày 17/8 cho
thấy, GDP quý 2 của Nhật đã tăng 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái, sau khi sụt
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
giảm tới 11,7% trong quý 1. Nếu so với quý 1, GDP quý 2 của Nhật tăng trưởng
0,9%. Đóng góp nhiều nhất vào tăng GDP quý 2 của Nhật là tăng trưởng xuất
khẩu của nước này. Thống kê cho thấy, xuất khẩu của Nhật trong quý 2 tăng
6,3% so với quý 1. Riêng xuất khẩu ròng đóng góp 1,6% vào mức tăng GDP
quý 2 của nước này so với quý 1.
Chi tiêu dùng cũng là một nhân tố quan trọng nữa giúp GDP của Nhật tăng
trưởng dương trở lại trong quý 2. Gói kích thích kinh tế trị giá 25.000 tỷ Yên
(tương đương 263 tỷ USD) của Thủ tướng Taro Aso đã thúc đẩy người dân tại
đất nước mặt trời mọc ít thắt lưng buộc bụng hơn, mạnh dạn chi tiêu trong sản
xuất và tiêu dùng. Do đó, chi tiêu dùng đã tăng 0,8% trong quý 2 và đóng góp
0,5% vào tăng trưởng GDP.
Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao. Tỷ lệ thất nghiệp tại Nhật
hiện tại là 5,4% và được dự báo có thể lên tới mức kỷ lục 5,8% vào năm sau,
nếu các doanh nghiệp còn duy trì hoạt động sản xuất ở mức thấp như hiện nay.
Thậm chí, nhiều chuyên gia còn dự báo, liệu Nhật Bản – sự thần kỳ của Châu Á
có trở thành một Thụy Sỹ thứ hai - một đất nước giàu có, nhưng không có tầm

sau tất cả các thành viên trong khối, hiện chưa phát đi tín hiệu tăng trưởng nào
cho cả năm nay.
OECD là một tổ chức đã từ lâu được xem là “sân chơi” dành riêng cho các
đại gia kinh tế. Đóng góp của OECD vào kinh tế toàn cầu là rất đáng kể, tiêu
biểu có thể kể đến Mỹ, Nhật Bản, Ý, Pháp, Đức, Anh, Tây Ban Nha – các cường
quốc kinh tế của Thế giới. Do vậy, những dự báo lạc quan của OECD về sự
phục hồi của nền kinh tế đã tác động tích cực đến tâm lý chung của những nhà
hoạch định chính sách và dân chúng.

Bảng 4: Tỉ lệ đóng góp vào OECD của các nước thành viên
(Nguồn: OECD Annual Report)
Đánh giá của OECD về tăng trưởng của các nền kinh tế thành viên lạc
quan hơn rất nhiều so với cách đây vài tháng. Trong báo cáo công bố hồi tháng
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
6, tổ chức này dự báo GDP của Mỹ vẫn âm 1,9% trong quý III, thậm chí còn tệ
hơn vào quý IV (giảm 2,4%). Trong lĩnh vực thương mại Quốc tế, OECD dự
báo mọi khó khăn nhất có thể đã qua và tín hiệu phục hồi đã le lói.
Bất chấp cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ và gay gắt,
những con số tăng trưởng lạc quan của các nền kinh tế mới nổi và các quốc gia
đang phát triển đã góp một phần đáng kể trong việc vực dậy nền kinh tế toàn
cầu. Trung Quốc – nền kinh tế mới nổi của Châu Á vẫn giữ tốc độ tăng trưởng
bình quân trên 7.5%, Ấn Độ 5,4%. Các nước đang phát triển của châu Á trung
bình sẽ tăng trưởng 5,5% trong năm 2009 và tiếp tục giữ đà tăng trưởng thần kỳ
này đến năm 2010, với dự báo mức tăng trưởng chung 7%.
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
CHƯƠNG II
ẢNH HƯỞNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
TỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

I. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ VIỆT NAM 2008
0

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU

Hình 6: Giá xăng dầu thị trường trong nước và Thế giới
(Nguồn: Tổng cục Thống kê – TCTK)
Trước tình hình lạm phát gia tăng từ quý III/2007, từ tháng 4-2008 Chính
phủ đã có bước ngoặt chuyển hướng chính sách từ thúc đẩy tăng trưởng sang
kiềm chế lạm phát. Từ tháng 10-2008, nền kinh tế lại phải gồng mình chống đỡ
tác động hết sức tiêu cực của cơn bão khủng hoảng và suy thoái toàn cầu. Một
lần nữa, Chính phủ lại chuyển hướng chính sách, tập trung chống suy giảm kinh
tế cùng tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Chính sách tiền
tệ được nới lỏng dần và từ tháng 12-2008, một gói kích thích kinh tế được chính
thức triển khai nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phát triển kết
cấu hạ tầng, kích thích tiêu dùng và giảm thiểu khó khăn xã hội.

2004 2005 2006 2007 2008
Tốc độ tăng trưởng (%)
GDP 7,79 8,44 8,23 8,46 6,18
Nông-lâm-thủy sản 4,36 4,02 3,69 3,76 4,07
Công nghiệp - xây dựng 10,22 10,69 10,38 10,22 6,11
Dịch vụ 7,26 8,48 8,29 8,85 7,18
Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm phần trăm
GDP 7,79 8,44 8,23 8,46 6,18
Nông - lâm - thủy sản 0,92 0,82 0,72 0,70 0,73
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

cập, cản trở khả năng hấp thụ vốn hiệu quả. Hơn nữa, việc thu hút FDI còn tiềm ẩn
khá nhiều rủi ro và thách thức. Quy hoạch và phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư
vẫn còn nhiều bất cập.
Thương mại Quốc tế năm 2008 có bước chuyển biến mới. Tổng kim ngạch
xuất khẩu hàng hóa đạt 62,7 tỉ USD, tăng 29,1%; tổng kim ngạch nhập khẩu hàng
hóa đạt 80,7 tỉ USD, tăng 28,6% so với năm 2007. Nước ta đã trở thành một nền
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
kinh tế có độ mở cao xét theo tỷ trọng xuất nhập khẩu trên GDP (160,7% GDP và
177,5% GDP nếu tính cả thương mại dịch vụ). Tuy nhiên, thương mại dịch vụ
chưa thật phát triển, năm 2008 chỉ bằng 10,5% thương mại hàng hóa, mức thấp
hơn nhiều tỷ lệ trên 20% của Thế giới. Cũng đã bắt đầu xuất hiện xu thế đa dạng
hóa mặt hàng để đối phó với rủi ro trên thị trường Thế giới. Tuy nhiên, cơ cấu
hàng hóa xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào các nhóm hàng khoáng sản và nông - lâm -
thủy sản thô, sơ chế; hàng công nghiệp chế biến chủ yếu vẫn là gia công lắp ráp.
Một đặc trưng của năm 2008 là tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô. Lạm phát
leo thang, thậm chí trong “Báo cáo bối cảnh kinh tế Thế giới và dự báo kinh tế
vĩ mô 2009”, Bộ Kế hoạch đầu tư còn dự báo lạm phát sẽ lên đến 30% trong
năm 2008; thâm hụt thương mại hàng hóa và thâm hụt cán cân vãng lai lớn (lần
lượt là 14,4 % GDP và 9,5% GDP), rủi ro hệ thống tài chính ngân hàng tăng.
Tình hình kinh tế vĩ mô đã trở nên ổn định hơn từ tháng 8-2008. Đặc biệt lạm
phát giảm nhanh trong quí IV/2008, dẫn đến lạm phát cả năm còn gần 20%, tuy
vẫn cao song đã thấp hơn nhiều mức tháng 8-2008.
Tốc độ tăng trưởng giảm đồng nghĩa với tình trạng doanh nghiệp phải thu
hẹp quy mô sản xuất, cắt giảm lao động. Vào tháng 7-2008, tổng số người thất

Việt Nam càng đòi hỏi chính sách phải có sự giải trình, rà soát thận trọng và
được minh chứng.
Trong điều kiện Việt Nam, việc kết hợp chặt chẽ các chính sách kinh tế vĩ
mô với các biện pháp vi mô cũng có thể rất cần thiết khi xử lý các vấn đề kinh tế
- tài chính “đột ngột” phát sinh theo chiều hướng xấu. Song cũng cần chuẩn bị
cả cách thức/lộ trình rút bỏ các biện pháp đó, nhất là các biện pháp có tính hành
chính, một cách chu đáo và được giải trình nghiêm túc.
Các chính sách kinh tế thường khó có tác động cùng chiều, nhất là trong
bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô, đối với các mục tiêu và các nhóm xã hội khác
nhau. Chính vì vậy, cần cả sự hỗ trợ đối với người nghèo, nhóm xã hội dễ bị tổn
thương và cả ý chí chính trị vượt qua các nhóm trục lợi/nhóm đặc quyền.
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính và suy thoái lan rộng toàn cầu,
những bài học đó vẫn là những gợi ý có giá trị cho việc lựa chọn mục tiêu chính
sách và cách thức thực thi chính sách một cách có hiệu lực và hiệu quả.
II. DỰ BÁO KINH TẾ VIỆT NAM 2009
Năm 2009 là năm thứ ba đánh dấu sự hội nhập khá toàn diện của kinh tế
Việt Nam với nền kinh tế Thế giới. Năm 2009, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện
các cam kết song phương, vùng và các cam kết trong khuôn khổ WTO với tư
cách là một thành viên chính thức. Năm 2009 cũng là năm thứ tư triển khai thực
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

GVHD: H
 Th Khánh
Linh

G3.FB08A.DTHU
hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 với gói chính sách
kích cầu trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn tiếp tục bị tác động bởi cuộc
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, năm 2009 kinh tế Thế giới được dự báo tiếp tục đà suy giảm

Cung tiền tệ (M2) +25,0 +15,0
Kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status