BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ - 2009” TÊN CÔNG TRÌNH:
“NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ ĐỀ XUẤT
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NGHIỆP VỤ IR ( QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ) CHO
CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH”.
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ
MỤC LỤC
Trang
Danh mục từ viết tắt
1.3.3. Nhiệm vụ của IR 10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TTCK TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 12
2.1. Phân tích tổng quan TTCK TPHCM trong giai đoạn cuối 2006 - đầu 2009 12
2.1.1. Phân tích thực trạng tâm lý của NĐT trong lĩnh vực Chứng Khoán giai đoạn cuối 2006
đầu 2009 dựa trên thuyết tâm lý học hành vi tài chính 14
2.1.1.1. Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư 14
2.1.1.1.1. Tâm lý trông chờ sự may rủi 14
2.1.1.1.2. Thiếu tự tin và chánh kiến trong đầu tư 16
2.1.1.2. Hành vi không hợp lý mang tính tập thể 19
2.1.1.2.1. TTCK và giá cổ phiếu bị chi phối chủ yếu bởi tâm lý đám đông 19
2.1.1.2.2. Hành vi đám đông của NĐT tại thành phố Hồ Chí Minh coa khuynh hướng hành động
theo một số người chủ chốt của thị trường.
20
2.1.1.3. Giới hạn trong chênh lệch giá giao dịch 26
2.1.2. Tính chuyên nghiệp của nhà môi giới đầu tư chứng khoánTP. HCM đang tăng 32
2. Thực trạng công bố thông tin trên thị trường chứng khoán tại TP.HCM 33
2.1. Thực trạng của thông tư hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng
khoán 33
2.2. Thực trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán TP.HCM 33
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VỀ TRUYỀN THÔNG TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN- QUAN HỆ VỚI NHÀ ĐẦU TƯ IR (INVESTOR RELATION) 41
3.1. Mục đích đề xuất giải pháp: 41
3.2. Căn cứ đề xuất giải pháp 41
3.3. Đề xuất quy trình IR mới tại các công ty Chứng Khoán 42
3.4. Giải pháp cụ thể cho quy trình IR tại các cơng ty chứng khoán TP.HCM hiện nay45
3.4.1. Củng cố, xây dựng đội ngũ nhân viên IR chuyên nghiệp 46
3.4.2. Xây dựng hệ thống truyền thông hiệu quả 46
3.4.2.1. Các yêu cầu cơ bản về nội dung Website của một công ty Chứng Khoán 47
3.4.2.2. Tổ chức họp báo, hội nghị giữa doanh nghiệp, NĐT, và chuyên gia phân tích
48
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm
hiểu tác động của yếu tố tâm lý hoạt động đầu tư chứng khoán tại TP.HCM từ đó đề xuất
giải pháp nâng cao nghiệp vụ quan hệ với nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán trên địa bàn
TP.HCM.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: 100 Nhà đầu tư tại các sàn giao dịch chứng khoán
Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn TP.HCM
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tại bàn: theo phương pháp truyền thống bằng cách sử dụng rất nhiều thơng tin thứ
cấp:
i
Các tài liệu bản biểu và số liệu được các cơng ty cung cấp
Sách báo, tạp chí và các phương tiện truyền thơng đại chúng cĩ liên quan
Các trang web trong và ngồi nước
Phương pháp điều tra thực nghiệm: gồm 2 phần:
Nghiên cứu định tính: nhĩm nghiên cứu đã nỗ lực đi tìm thơng tin , ý kiến từ việc tham khảo ý
kiến chuyên gia: những nhà tư vấn và mơ giới chứng khoấn những nhà đầu tư chứng khốn, tổ
chức những buổi focus groups để lấy t
hơng tin.
Nghiên cứu định lượng:: bên cạnh việc nghiên cứu từ những dữ liệu thứ cấp, nhĩm nghiên cứu đã
rất cố gắng trong việc khảo sắt thức tế nhà đầu tư, thực hiện khảo sát trực tiếp 100 bảng câu hỏi
(Chi tiết nội dung câu hỏi phụ lục 5)
thơng qua những tư liệu cĩ được từ các chuyên gia cũng như thơng tin từ các buổi focus group.
Đối tượng nghiên cứu: 100 nhà đầu tư tại các sàn
giao dịch TP.HCM (Danh sách 100 nhà đầu tư
xem phụ lục 6)
Tiến trình nghiên cứu cơng phu theo bốn giai đoạn sau:
Thiết kế bảng câu hỏi
iii
Danh mục từ viết tắt
1. IR: Investor Relation- Quan hệ với nhà đầu tư
2. TTCK :Thị trường chứng khĩan
3. NĐT : Nhà đầu tư
4. DN: Doanh nghiệp
5. TP.HCM: Thành Phố Hồ Chí Minh
6. UBCKNN : Uỷ ban chứng khoán Nhà Nước
7. PR: Public Relation- Quan hệ công chúng
chẽ với h
iện tượng khác trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, … Cùng với các hiện
tượng khác tâm lý giúp con người có động lực để hành động, định hướng, điều chỉnh mọi hoạt
động của mình làm cho các hoạt động đó thích nghi với thế giới, tiến tới cải tạo thế giới, hoàn
thiện thế giới và hoàn thiện cá nhân mình.
1
( Xem thêm phần phụ lục 1)
1.1.2. Tâm lý “đám đông”
1.1.2.1. Khái niệm tâm lý đám đông
Tâm lý đám đông là hiện tượng tinh thần chung của nhiều cá nhân, phát sinh do sự tương
tác tâm lý giữa các thành viên trong đám đông hay cộng đồng; hoặc bởi tâm lý nào đó nổi trội,
có sức ảnh hưởng. Tức là cá tính có ý thức (ý thức cá nhân) biến mất vá có sự xoay chuyển tình
cảm, suy nghĩ của các cá nhân về cùng một hướng. (Gustave Le Bon (1841 - 1931))
Hiệu ứng đàn bầy là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà con người bị ảnh hưởng bởi những
người xung quanh trong việc lựa chọn những hành vi, xu hướng, và cách thức ra quyết định.
Theo Gustave Le Bon: Tâm lí đám đông (Psychologie des foules), trong những điều kiện
nhất định và chỉ ở đó mà thôi, một tập hợp những con người sẽ có những đặc tính hoàn toàn khác
biệt với những đặc tính của riêng từng con người trong đó. Cá tính có ý thức bị biến mất, tình
cảm và suy nghĩ của mọi cá nhân đều hướng về một phía. Một tâm hồn chung được hình thành,
nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn là một thể loại xác định, điều này không phải lúc
nào cũng đòi hỏi sự có mặt đồng thời của nhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất.
1.1.2.2. Đặc điểm của đám đông
Quy luật về sự đồng nhất tâm hồn đám đông
Cho dù những thành viên riêng biệt tạo nên đám đông khác nhau kiểu gì, cho dù lối sống,
việc làm, tính cách, học thức của họ giống nhau hoặc khác nhau ra sao, chỉ cần qua sự trở thành
đám đông, tất cả họ sẽ cùng có một kiểu tâm hồn tập thể, điều này làm cho họ cảm nhận, suy
nghĩ, hành động theo kiểu hoàn toàn khác hẳn khi họ chỉ là những cá thể riêng biệt cảm n
hận,
suy nghĩ và hành động.
Đám đông được điều khiển bởi sự vô thức
3
Đám đông thường tuân theo những bản năng thấp, bản năng này dựa trên sự tự
bảo vệ lợi ích của mỗi cá nhân, tuy nhiên cũng có lúc nó tỏ ra có những hành động cực kỳ cao
thượng.
( Xem chi tiết đặc tính đám đông tại phụ lục 3)
1.2. Ứng dụng tâm lý học vào tài chính
1.2.1. Lý thuyết tài chính hành vi
Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp tâm lý học vào tài chính. Kể từ khi
nhà tâm lý học người Pháp Gabriel Tarde bắt đầu nghiên cứu về ứng dụng tâm lý học vào khoa
học kinh tế từ những năm 1880, thì phải mất gần 100 năm sau, vào thập kỷ 1980, thì ứng dụng
tâm lý trong tài chính mới có bước phát triển đáng kể (mặc dù trước đó, vào những năm 1930,
1940, những nghiên cứu của George Kanota cũng đặt nền tảng cho tài chính hành vi với thuật
ngữ quan trọng “kỳ vọng”, nhưng những kết quả của ông khá hạn chế). Với những tác phẩm nền
tảng của Amos Tversky và Daniel Kahneman (1979), Richard H.Thaler (1985) và đặc biệt là
Robert Shiller với quyển sách nổi tiếng “Irrational Exuberance” (2000), dự báo chính xác sự sụp
đổ của thị trường cổ phiếu toàn cầu không lâu sau đó, đã tạo bước ngoặt lớn cho những nhà
nghiên cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiên cứu mới.
Lý thuyết tài chính hành vi (behaviroal finance) với nền tảng cơ bản là “thị trường không
luôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết “thị trường hiệu quả”, cơ sở của
các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt bốn, năm thập kỷ gần đây. Lý thuyết thị trường hiệu quả
dựa trên niềm tin rằng luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái hiệu quả, đó là
cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Một khi tồn tại hiện tượng định giá sai trên thị trường, nghĩa là
giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, v.v…) trên thị trường tài chính
không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những nhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại
cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và “những nhà đầu tư hợp lý” khi tận dụng những cơ hội này
(mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quá cao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh
thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng.
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng c
ó
thể xảy ra, nghĩa là sẽ có những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’ không thể chiến thắng
Tính toán bất hợp lý (mental accounting): Xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng
ra phải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng và tối đa hóa lợi ích
từng tài khoản. Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý, mà thật ra
là sai lầm.
(Phân tích và ví dụ cụ thể về hành vi không hợp lý được thể hiện chi tiết trong phụ lục 4).
1.2.2.2. Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng giao dịch của nhà
đầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tư lớn thì
ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình).
Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tư
cùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và có thể
bắt đầu kéo dài.
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ
biến đối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng thường gọi là “hiệu ứng bầy
đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng.
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem
hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy
ai làm sao thì làm vậy.
1.2.2.3. Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh
doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá
trên thị trường về cân bằng. Nhưng nếu tồn tại định giá sai, m
à lại không thể thực hiện kinh
doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không
thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có hai dạng
định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một
6
dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một
mình. Trong trường hợp này IR đóng vai trò là người nghiên cứu thông tin về nhà đầu tư cho
doanh nghiệp.
Mục tiêu của nhà đầu tư khi tham gia trên TTCK: Tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích của họ gắn
liền với giá trị cổ phiếu của công ty niêm yết, cho nên họ cần thiết có được thông tin đầy đủ,
chính xác, kịp thời về các công ty niêm yết. Trong trường hợp này IR đóng vai trò là người minh
bạch thông tin của doanh nghiệp đến nhà đầu tư, duy trì mối quan hệ lâu dài và bền vững giữa
doanh nghiệp niêm yết với nhà đầu tư.
1.3.2.2. Vai trò truyền thông của IR
Truyền thông (communication)
Là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất
có hai tác nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ các quy tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông
tin được truyền từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết
người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để một
người hiểu những người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các thanh
âm và biểu
tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ. (www.saga.com.vn)
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.
Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra
lời khuyên, mệnh lệnh, hoặc câu hỏi.
Hình thức truyền thông như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình…
Mục tiêu truyền thông: Mục tiêu mà truyền thông có thể hướng đến là cá nhân khác hay
tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức gửi đi thông tin.
DOANH NGHIỆP
NHÀ ĐẦU TƯ
IR QUAN
HỆ HAI
CHIỀU
8
Vai trò của truyền thông trên thị trường chứng khoán
IR chính là hoạt động truyền thông tài chính giúp nhà đầu tư nắm bắt được đầy đủ và
trung thực nhất giá trị doanh nghiệp. Công cụ của IR không thể thiếu các báo cáo thường niên,
báo cáo tài chính quản trị công ty, các báo cáo phân tích hình tài chính, đầu tư, thị trường và
một website thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình kinh doanh, hoạt động của doanh
nghiệp đến với nhà đầu tư.
1.3.3. Nhiệm vụ của IR
Với vai trò quan trọng của mình IR đặt ra nhiệm vụ chiến lựoc là chuẩn bị các thông tin
về các đối tượng tài chính và các vấn đề tài chính có liên quan đến nhà đầu tư và chuyển tải
chúng chính xác, trung thực, kịp thời, đúng lúc đến nhà đầu tư thông qua các câu chuyện giao
tiếp.
Như vậy nhiệm vụ chính của công tác IR là Truyền thông tài chính, cung cấp và truyền
thông tin trên thị trường tái chính, chứng khoán. Ba nhiệm vụ chính của IR trong truyền thông,
công bố thông tin tài chính:
Thứ nhất: Khắc phục sự bất cân xứng cung cầu thông tin: Như thông tin không đủ,
thông tin không rõ ràng, thông tin tới sai đối tượng…
Thứ hai: Chăm sóc thông tin đến nhà đầu tư: Kỳ vọng của nhà đầu tư là minh bạch tuyệt
đối. Cốt lõi trong hiệu quả truyền thông IR là:
(1) Thông tin trọng yếu
(2) Tình tiết trung thực: Cam
kết thông báo sự thật cho các nhà đầu tư hiện tại và tương lai – cho
dù là vấn đề “xấu” hay “tốt”.
(3) Diễn giải khách quan
(4) Tính hợp lý cực đại của không gian - thời gian (trong quan hệ với các phương tiện có thể sử
dụng: đúng lúc, đúng chỗ…)
(5) Khả năng tuân thủ cung cấp thông tin của ban quản trị
1 0
Thứ ba:Tiếp nhận và xử lý thông tin phản hồi tới doanh nghiệp hoặc công ty niếm yết
Phản hồi được IR ghi nhận, trước khi chuyển tới ban lãnh đạo và các bộ phận chức năng,
sẽ qua các bước xử lý và sàng lọc. IR không đơn giản chuyển toàn bộ yêu cầu từ công chúng đầu
tư tới nguồn cung cấp thơng tin- cách làm có thể tạo nên sức ép với hoạt động quản trị doanh
cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổ phiếu đó. Bạn
nghĩ nó sẽ giảm, người mua nghĩ nó sẽ lên. Hoặc bạn hoặc người mua sẽ đúng nhưng chắc chắn
chỉ thông qua sự tương tác của những thái độ khác nhau như vậy thì thị trường mới nhộn nhịp
đông kẻ mua- nhiều người bán. Sự sôi động của TTCK Việt Nam trong năm 2006-2007, cũng
như sự ảm đạm của TTCK 2009 vừa qua đã phản ánh phần nào triết lý ấy.
Rất nhiều lý do được đưa ra để giải thích cho sự phát triển quá nóng của TTCK Việt
Nam. Nhà đầu tư trong nước đổ lỗi cho nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngòai đổ lỗi cho
sự "điên cuồng” của nhà đầu tư trong nước. Tuy nhiên quy chung lại phần lớn đồng tình cho rằng
nguyên nhân chính là do tâm lý đầu tư bầy đàn, đầu tư theo phong trào của các nhà đầu tư trong
nước- thiếu kiến thức cũng như không có kỳ vọng riêng, do đó chơi chứng khoán trong thời gian
năm 2007 đã được báo chí nói tới như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền nhanh hơn
bất cứ dịch bệnh nào, trên khắp cả nước.
Không có gì phải chối cãi khi cho rằng hiệu ứng chứng khoán năm 2007 đã thực sự tác
động tới tất cả mọi người. Chứng khoán “nóng” tới mức hệ thống máy chủ của thị trường chứng
khoán bị “treo”, kéo theo sàn chứng khoán của Trung tâm
giao dịch chứng khoán TP.HCM phải
ngừng phiên giao dịch sáng 2/2/2007. Đây là lần thứ hai Trung tâm giao dịch chứng khoán
TP.HCM phải ngừng giao dịch vì các “lỗi kỹ thuật”.
Nhưng câu chuyện TTCK thay đổi hoàn toàn trong năm 2008 – đầu năm 2009 khi chỉ số
VN-Index liên tiếp giảm, liên tục tạo nên những đáy mới.
Đúng là thật khó tiên liệu diễn biến trên TTCK Việt Nam. Mọi lý thuyết, mọi mô hình
của thị trường hiệu quả dường như vô nghĩa. Mặc dù nhà đầu tư được cảnh báo chứng khoán đã
1 2
vượt quá giá trị thật hơn 30% (2007) (Theo VNExpress) nhưng họ vẫn mua bán, thị trường vẫn
không ngừng sôi động. Thậm chí cung không đủ cầu. Hay khi nhìn nhận thị trường ảm đạm
(2008-2009) thì họ lại kéo nhau tháo lui mà không cần xem xét nguyên nhân.
Dễ thấy thị trường chứng khoánViệt Nam không vận hành theo bất cứ một quy luật nào.
Lý thuyết thị trường hiệu quả hoàn toàn thất bại. Có lẽ đã đến lúc dùng đến các lý thuyết cơ bản
dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK.
Bình thường một nhóm các nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, vậy mà
1922), đại suy thoái thế giới 1929, khủng hoảng 1987, khủng hoảng Châu Á 1997, khủng hoảng
dotcom…
2.1.1. Phân tích thực trạng tâm lý của NĐT trong lĩnh vực Chứng Khoán giai đoạn cuối
2006 đầu 2009 dựa trên thuyết tâm lý học hành vi tài chính
Thuyết hành vi tài chính cho rằng nếu ba yếu tố: Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư,
hành vi không hợp lý mang tính hệ thống, giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá cùng tồn
tại, thì việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mức nghiêm
trọng) và kéo dài, gây bất ổn lớn cho thị trường tài chính.
2.1.1.1. Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư
2.1.1.1.1. Tâm lý trông chờ sự may rủi
Dễ dàng đưa ra các quyết định đầu tư dựa vào cảm tính, dựa vào một tin đồn, một lời
khuyên, một lời phát biểu mà không tự mình nghiên cứu để đưa ra các kết luận của chính mình
về việc mua hay bán cổ phiếu nào, giá bao nhiêu, khi nào và tại sao.
Tâm lý đó khiến cho nhà đầu tư không tự nhìn vào chính mình để đánh giá mình, các
quyết định của mình, và để tự chịu trách nhiệm. Và rất dễ dẫn đến việc trông chờ vào người
khác, để hỗ trợ, giúp đỡ. Và nếu việc dựa vào người khác đó không đem lại kết quả như mong
muốn thì họ quay ra trách và đổ lỗi. Kết quả khảo sát 100 NĐT tại các sàn giao dịch TP. HCM cho thấy:
Cases
Col Response
%
Ngành, lónh vực kinh doanh cổ phiếu 46 46.0%
Lòch sử gía cổ phiếu, khối lượng giao dòch 31 31.0%
BCTC, tình hình SXKD từ 3-5 năm của công ty phát
hành
Chỉ có 13% NĐT lựa chọn tìm hiểu thơng qua đội ngũ quản trị cơng ty, NĐT thường
khơng có thói quen đi q sâu vào tình hình cụ thể của cơng ty, đây rõ ràng cũng là nhược điểm
lớn, vì một khi nắm giữ cổ phiếu của một cơng ty nào đó, NĐT đã trở thành người góp vốn.
Chính những tâm lý này khiến cho nhà đầu tư tự mình tước bỏ của mình một điều rất
quan trọng-quyền biểu quyết bằng chính kiến và đồng tiền của mình-Biểu quyết về các cổ phiếu
và cơng ty: Cổ phiếu nào là tốt, là khơng tốt, cơng ty nào hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả,
ban lãnh đạo nào là giỏi hay khơng giỏi và qua đó gửi những thơng điệp cho các cơng ty tốt làm
1 5
tốt hơn, các cơng ty chưa tốt thì cải thiện tình hình và loại đi những cơng ty khơng tốt, khơng
hiệu quả.
2.1.1.1.2. Thiếu tự tin và chánh kiến trong đầu tư
Kết quả khảo sát 100 NĐT tại các sàn giao dịch chứng khốn TP.HCM cho thấy (bảng 2
phụ lục 8):
+ Có 22 NĐT sẵn sàn chấp nhận rủi ro trong q trình đầu tư
+ 40 NĐT thích sự phân tích thơng tin đầy đủ, tránh rủi ro và dàn trãi
Đây cũng chính là hai trong những nhóm ngun tắc đầu tư đòi hỏi ở NĐT biết đầu tư
chứng khốn có kế hoạch. Tuy nhiên từ hai nhóm nhà đầu tư trên, kết hợp chúng với yếu tố rủi
ro (khi giá cổ phiếu đang nắm giữ rớt mạnh) thì kết quả có mâu thuẫn, thể hiện như sau:
Phát biểu phù hợp với nhu cầu đầu tư
Sẵn sàn chấp
nhận rủi ro
Phân tích đầy đủ
tránh rủi ro và
dàn trãi
Count Col % Count Col %
Phớt lờ vì chỉ là thông tin chưa chính
thức
2 9.0909 2 5.1282
Bán ngay một phần hoặc toàn bộ cổ
Một cuộc
đầu tư dài
hạn đòi
hỏi nhiều
công sức
Ngắn hạn
yều tố
may rủi
rất quan
trọng
Một phần
công việc
kinh doanh,
mà NĐT là
chủ công
việc đó
Là cuộc
chơi, yếu
tố may rủi
rất quan
trọng
Khác Cases
Cases Cases Cases Cases Case
Phớt lờ vì chỉ là thông tin chưa
chính thức
3 1 2 2 8
Bán ngay một phần hoặc toàn
bộ cổ phiếu vì sợ mất giá
33