Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
Luận văn
Một số vấn đề cơ bản về lãi suất
tiền gửi ngân hàng thương mại
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
LỜI NÓI ĐẦU
Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp đa dạng và phức
tạp.Tính tổng hợp và phức tạp cuả lãi suất xuất phát từ khái niệm:”lãi suất không có
gì khác hơn là một giá cả -giá thuê vốn”.
Lãi suất là một khái niệm luôn phát triển ,nó luôn gắn với một nền kinh tế ở một
thời điểm lịch sử.Lãi suất có tác động rất lớn đến nền kinh tế của đất nước,và nó là
một công cụ trong phát triển kinh tế và đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của
chính sự phát triển ấy,tuỳ thuộc vào việc khôn ngoan hay yếu kém trong việc sử
dụng chúng.
Đối với nước ta,lãi suất luôn được coi là một trong những vấn đề rất được quan
tâm hiện nay. Đặc biệt trong thời gian gần đây vấn đề về lãi suất tiền gửi gân hàng
được quan tâm rất nhiều.
Tiền gửi ngân hàng là một trong những nguồn vốn cơ bản,quan trọng của ngân
hàng thương mại.Nguồn vốn này chính là nền tảng cho sự phát triển của ngân hàng ,
đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.Hiện
nay ,hầu hết ngân hàng đều phải đối mặt với sự cạnh tranh thu hút khách hàng về
mình trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi.
Lãi suất tiền gửi có tác động rất nhiều đến hiệu quả của hoạt động huy động tiền
gửi. Mặt khác lãi suất này có tính quyết định đối với việc mở rộng nguồn vốn
vốn,chất lượng của nguồn vốn.Chính vì vậy ngân hàng cần có một chính sách về lãi
suất tiền gửi phù hợp với một mặt để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng
chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn địng kinh tế.
Vậy ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất-đặc biệt là tín dụng ,tiết kiệm ,dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế.
2.Chức năng của ngân hàng
2.1.Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế :(1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu ,tức là chi
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ
sung vốn,và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư cho chi tiêu ,tức là thu nhập hiện tại
của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa ,dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết
kiệm.
Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng . Điều
tất yếu là tiền sẽ chuyể từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có
lợi.Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ lâu và tồn tại cho
đến ngày nay.
Tuy nhiên ,quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do sự không phù hợp về quy mô
,thời gian ,không gian…Điều này làm cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều
kiện nảy sinh trung gian tài chính.Do chuyên môn hóa ,trung gian tài chính có thể
làm giảm chi phí giao dịch .Như vậy trung gian tài chính đã làm tăng thu nhập cho
người tiết kiệm ,từ đó mà khuyến khích tiết kiệm , đồng thời giảm phí tổn tín dụng
cho người đầu tư(tăng thu nhập cho người đầu tư)từ đó mà khuyến khích đầu
tư.Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư,vì vậy mà giải
quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp.Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có
hiệu quả gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế ,phân tán rủi
ro và giảm chi phí giao dịch.
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng ,các khách hàng nhận thấy
nếu họ có được hàng hóa và các dịch vụ theo yêu cầu.Theo quan điểm hiện đại , đại
lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận .Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (MO)thứ
hai là các số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch của cá khách hàng tịa các ngân hàng
,thứ ba là tiền gửi trên các khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn…
Khi ngân hàng cho vay số dư trên tìa khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng
tăng lên,khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ .Do đó ,bằng việc cho vay
(hay tạo tín dụng)các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra
M1).
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền
gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra chịu
tác động trực tiếp của các nhân tố như tỷ lệ dự trữ bắt buộc ,tỷ lệ thanh toán bằng
tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh toán…
2.3.Trung gian thanh toán
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất ,hiện nay ở hầu hết các
quốc gia.Thay mặt khách hàng ,ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và
dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng ,thuận tiện và tiết kiệm chi phí,ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc , ủy
nhiệm chi,nhờ thu,các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử,kết nối các
quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần .Các ngân hàng còn thực hiện thanh
toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng Trung Ương hoặc thông qua các trung tâm
thanh toán .Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả cao khi quy mô
sử dụng công nghệ đó càng được nở rộng.Vì vậy ,công nghệ thanh toán hiện đại qua
ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi.Nhiều hình thức
thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ
giữa ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên thế giới.Các
trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh tóan qua
3.3.2.Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối
với các cá nhân và hộ gia đình bởi họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ
nợ tương đối cao.Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong
cho vay đã buộc ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng
tiềm năng .Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai ,tín dụng tiêu dùng đã trở thành một
trong những loại hình tín dụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế
phát triển.
3.3.3.tài trợ cho dự án
Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn,các ngân hàng ngày
càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây nhà máy mới đặc biệt là trong các
ngành công nghệ cao .Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao
song lãi lại lớn .Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất.
3.4.Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hịên việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách
hàng trong kho bảo quản .Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận (giấy
chứng nhận do ngân hàng phát hành).Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy
chứng nhận ,nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền –dùng để thanh toán các
khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành .Lợi ích cuả việc sử
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
dụng phương tiện thanh toán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích
khách hàng . Đó là hình thức đầu tiên giấy bạc ngân hàng .Ngày nay ,vật có gía được
tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả chi phí bảo quản.
3.5 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Khi doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng ,họ nhận thấy ngân hàng không chỉ
bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ.Thanh toán qua
ngân hàng sẽ mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt ,tức là người gửi tiền
không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết dấy chi trả cho khách (còn
gọi là séc ), khách hàng mang giấy ngân hàng sẽ nhận được tiền .Các tiện ích của
khách hàng.Trong những năm gần đây ,nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng ngày
càng đa dạng và phát triển mạnh.Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của
mình mua chịu hàng hoá và trang thiết vị ,phát hành chứng khoán ,vay vốn của tổ
chức tín dụng khác…
3.9.Cho thuê thiết bị trung và dài hạn(leasing )
Nhằm để bán được các thiết bị , đặc biệt là cá thiết bị có gía trị lớn ,nhiều
hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị .Cuối hợp đồng
thuê,khách hàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua )Rất nhiều ngân
hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị,máy móc
cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua ,trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho
khách hàng thuê.Hợp đồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải
trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê.Do vậy,cho thuê của ngân hàng cũng có
nhiều điểm giống như cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
3.10.Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính,các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia
về quản lý tài chính.Vì vậy ,nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã chờ ngân hàng quản
lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ ,uỷ thác phát hành ,uỷ thác đầu
tư…Thậm chí ,các ngân hàng đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc , quản
lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cách công bố tài sản,bảo quản các tài sản
có giá.Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính
3.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép
khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do khiến các ngân
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán ,cung cấp cho khách hàng cơ hội
mua cổ phiếu ,trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người
kinh doanh chứng khoán.Trong một vài trường hợp ,các ngân hàng tổ chức ra công
ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán.
3.12.Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
có những quan điểm giải thích khác nhau.Những quan điểm trước đây xem lãi suất
là công cụ phân phối thu nhập quốc dân,phân phối lãi suất thặng dư,là phương tiện
hạ giá thành sản phẩm…không còn thích hợp với nền kinh tế thị trường.
Ở tầm kinh tế vi mô ,lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh
nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như:chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm
, đầu tư số vốn tích luỹ được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác
Mặt khác , ở tầm kinh tế vĩ mô ,lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh
tê rất nhạy bén và hiệu quả :thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong
từng thời kì nhất định ,chính phủ có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu ,
đến tốc độ tăng trưởng ,sản lượng ,tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong
nước.Hơn thế nữa,trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở,chính sách lãi
suất còn được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn
đi vào hay đi ra đối với một nước ,tác động đến đầu tư phát triển kinh tế mà còn tác
động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước
đó đối với nước ngoài.
Cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường , đất nước ta đã có
những cải cách cơ bản trong các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng và cải
cách cơ bản trong các hoạt động của toàn bộ hệ thống ngân hàng và tài chính.Trong
những điều kiện như vậy ,việc học tập kinh nghiệm quản lý và điều hành chính sách
lãi suất của các nước phát triển là rất cần thiết. Điều này không chỉ có ý nghĩa quan
trọng đối với quá trình xây dựng và điều hành một chính sách lãi suất phù hợp với
quá trình hình thành và hoạt động một cách có hiệu quả của hệ thống thị trường tài
chính ở Việt Nam,góp phần rất quan trọng đối với quá trình hình thành và hoạt động
một cách có hiệu quả của hệ thống thị trường tài chính ở Việt Nam,góp phần giải
quyết những khó khăn về vốn , đảm bảo sự thắng lợi trong cho công cuộc công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
2.Phân loại lãi suất
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
2.1.Phân loại theo độ dài thời gian
I =Cta/100
C:là số vốn
t :là lãi suất năm cảu 100 đơn vị tiền tệ
I: là số tiền lãi
a :là thời hạn tính theo năm
+Lãi suất ghép:lãi suất này được hình thành bởi sự gép lãi đơn trong thời kỳ
vào vốn để tính lãi trong thời kỳ kế tiếp theo và có thể tiếp tục mãi.
Khi hoàn trả tiền vay ,người đi vay trả .
Công thức tính lãi theo lãi ghép:
C
n
=C
0
(1+i)
n
C
0
:Số vốn ban đầu
n :Số thời kì gửi vốn
i :Lãi suất của một đơn vị tiền tệ
2.4.Phân loại theo giá trị thực
Tiêu thức này giúp xem xét vấn đề khi vay hoặc cho vay với một lãi suất
nào đó ,chúng ta có cơ may thu được giá trị thực của đồng tiền nhiều hoặc ít hơn so
với biến động của mức lạm phát .Phân loại lãi suất theo tiêu thức này,chúng ta có hai
loại:lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực .
+Lãi suất danh nghĩa:Là lãi suất của tài sản trên đơn vị tiền tệ ,nó đơn
thuần chỉ ra số lượng đơn vị tiền thu được từ mỗi 100 đơn vị được đem ra đầu tư
trong khoảng thời gian nhất định nào đó,không tính đến ảnh hưởng của lạm phát
.Các lãi suất được công bố trên các phương tiện truyền thông đại chúng là lãi suất
Đây là phương thức cổ điển nhất vì nó xuất hiện từ thời Hy Lạp-La
Mã.Theo phương thức này ,các ngân hàng đưa ra các thang đo lãi suất đã lập sẵn để
thông báo cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn từ ngân hàng .Khách hàng chỉ có
thể chấp nhận mức vay ấy nếu muốn vay tiền .Phương thức này có ưu điểm sẽ giúp
cho ngân hàng ước tính khá chính xác được lợi nhuận từ những khoản cho vay và
chủ động tính lãi suất cần đưa ra để huy động tiền gửi và các tài sản nợ khác.Tuy
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
nhiên việc cố định lãi suất đã làm cho ngân hàng tự hạn chế về khả năng cho vay và
đầu tư,ngân hàng không thể cho vay dưới mức ấn định ,từ đó xáy ra tình trạng ngân
hàng nhiều khi thừa vốn mà không thể hoặc không giám đầu tư.Hơn nữa ,việc cố
định lãi suất sẽ không thể xảy ra việc thương lượng về chi phí vốn giữa người đi vay
và người muốn cho vay.Do đó ,kết quả là ngân hàng phẩi chạy theo khách hàng chứ
không phải người cần vay chạy theo ngân hàng để thương lượng.
+Phương thức thả nổi lãi suất
Khi hoạt động theo phương thức thả nổi lãi suất,ngân hàng quan tâm đến
lợi nhuận về ngắn hạn mà bỏ quên khách hàng .Ngược lại ,khi thả nổi lãi suất theo
thị trường và theo kết quả thương lượng của từng thương vụ ,ngân hàng quản lí tài
sản và lợi nhuận theo kết quả thương lượng giữa người mua và người bán.Với lãi
suất thả nổi ngân hàng quan tâm đến khách hàng và lợi nhuận theo từng mục đích lâu
dài.Khi đó ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng tìm đến và chắc chắn sẽ có nhiều cơ
hội tốt để lựa chọn đầu tư và như vậy không phải ngân hàng tìm đến khách hàng một
cách đơn phương mà cả khách hàng cũng tìm đến ngân hàng bởi lẽ cả hai đều thấy
có thể có nhiều lợi ích qua thương lượng.
3.Một số phân biệt về lãi suất
3.1.Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Trên thực tế ,những khoản thu nhập bằng tiền hay thu nhập danh nghĩa
thường không phản ánh đúng giá trị thực của chính khoản thu nhập đó.Tỷ lệ lạm phát
hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời gian nhất định luôn làm cho giá trị
thực trở nên nhỏ hơn giá trị danh nghĩa.Vì vậy,lãi suất thực luôn nhỏ hơn lãi suất
=(i
n
-i
i
)/(i
i
+1)
3.2.Lãi suất và tỷ suất lợi tức
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn cho vay.Trong khi
đó tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm của số thu nhập của người có vốn trên tổng số
vốn anh ta đã đưa vào sử dụng(đầu tư hay cho vay).Như vậy lãi suất không nhất thiết
bằng tỷ suất lợi tức.
3.3.Lãi suất cơ bản của ngân hàng
Ba lãi suất cơ bản của ngân hàng thường được quan tâm hơn cả bao gồm:lãi
suất tiền gửi, lãi suất cho vay và lãi suất liên ngân hàng.Lãi suất tiền gửi thông
thường là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửi tiền trên số tiền ở tài
khoản tiền gửi tiết kiệm.Tuy nhiên ở một số nước đang phát triển khác,tiền gửi
không thời hạn để phát hành séc cũng có thể được trả lãi suất tiền gửi nhằm mục đích
khuyến khích cho việc thanh toán không dùng tiền mặt.Lãi suất tiền gửi được xác
định qua công thức:
I
tg
=i
cb
+i
i
Trong đó ,i
tg
và i
cb
Tương tự như khi chúng ta nghiên cứu về cấu trúc rủi ro,cấu trúc thời hạn
cũng đựơc trình bày khác nhau phụ thuộc vào việc phân tích các dạng thức cho vay
khác nhau tạo ra các đường cong lãi suất khác nhau.Hơn nữa,cấu trúc về thời hạn của
lãi suất còn phụ thuộc vào các lý thuyết:lý thuyết về dự đoán về cấu trúc thời hạn,lý
thuyết về tiền thưởng rủi ro và lý thuyết về phân đoạn thị trường.Tuy vậy có thể thấy
rất rõ ràng từ những kết quả phân tích mang tính quy luật và những bằng chứng thực
nghiệm rằng một món vay có thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
5.Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất
Lãi suất trong nền kinh tế thị trường luôn biến động phụ thuộc rất nhiều vào
các nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều nhân tố khác.
5.1. Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay
Lãi suất là giá cả của cho vay vì vậy bất lì sự thay đổi nào của cung cầu
hoặc cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi mức lãi
suất trên thị trường,tuy mức độ biến động của lãi suất cũng ít nhiều phụ thuộc vào
các quy định của chính phủ và ngân hàng Trung ương ,song đa số các nước có nền
kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lý này để xác định lãi suất.Từ điều này cho
thấy chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thị trường vốn để thay đổi lãi suất
trong nền kinh tế cho phù hợp với các mục tiêu chiến lược trong từng thời kỳ:chẳng
hạn như tghay đổi cơ cấu vốn đầu tư,tập trung vốn đầu tư cho các dự án trọng
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
điểm.Mặt khác,muốn duy trì ổn định của lãi suất thì sự ổn của thị trường vốn phỉa
được đảm bảo vững chắc
5.2Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng
+Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó,lãi
suất sẽ có xu hướng tăng. Điều này có thể được giải thích bằng hai hướng tiếp
cận.Thứ nhất,xuất phát từ mối quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa \cho
thấy, để duy trì lãi suất thực không đổi ,tỷ lệ lam phát tăng đòi hỏi lãi suất fanh nghĩa
phải tăng lên tương ứng.Thứ 2,công chúng dự đoán lạm phát tăng ,sẽ dành phần tiết
kiệm của mình cho việc dự trữ hàng hoá hoặc những dạng thức tài sản phi tài chính
khác nhau không chỉ ở thời gian phương pháp tính và trả lãi ,khả năng tiêu thụ mà cả
về độ co giãn của giá cả theo lượng cầu của chúng .Chính vì vậy mà những thay đổi
trong cơ cấu chứng khoán,sưk xuất hiện chứng khoán mới ,cũng như sự phát triển
theo chiều rộng và chiều sâu cảu thị trường sơ cấp cũng sẽ tác động làm thay đổi lãi
suất trên thị trường tứ cấp…Thêm nữa ,tình hình kinh tế ,chinh strị cũn như những
biến động tài chính quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới
,các luồng vốn đầu tư ra ,vào đối với các nước…đều ít nhiều tác động đến sự thay
đổi lãi suất của tất cả các nước khác.
III Lãi suất tiền gửi ngân hàng
Hiện nay,hầu hết các ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh thu hút
khách hàng về mình trong việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi ,một loại
nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng.Một mặt ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ
lớn để có thể thu hút và duy trì sự ổn định trong lượng tiền gửi của khách hàng.Mặt
khác ,ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả lãi suất cao,bởi điều này sẽ làm giảm
mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng.
Ngân hàng thường phải lựa chọn giữa hai mục tiêu tăng trưởng và khả năng sinh
lời.Trả lãi suất cao hơn cho các khoản tiền gửi và các nguồn vốn giúp cho ngân hàng
tăng trưởng nhanh hơn,nhưng chiến lược cạnh tranh này khiến cho lợi nhuận của
ngân hàng suy giảm nghiêm trọng.Quy mô của tiền gửi chủ yếu dựa vào quy mô các
khoản cho vay và đầu tư.
Huy động vốn là hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng,bởi vì để có
tiền cho vay và kinh doanh các lĩnh vực khác,ngân hàng không chỉ dựa vào nguồn
vốn điều lệ của mình(vốn chủ sở hữu) mà còn phỉa huy động vốn trên thị trường
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
.Hiện nay các ngân hàng có những phương thức huy động chủ yếu bao gồm những
loại tiền gửi sau:
1.Lãi suất tiền gửi giao dịch(tiền gửi thanh toán):
1.1.Khái niệm:
Đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
dụng lãi suất thả nổi ,thì thường lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm cơ sở cho
việc xác định lãi suất.
2.2.Phân loại:
+Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp,các tổ chức xã hội
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp,các tổ chức xã hội sẽ được chi
trả sau một thời gian xác định.Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận tiện cho hoạt động
thanh toán song lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu tăng thu của người gửi
tiền,ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kì hạn.Người gửi không được sử dụng
các hình thức thanh toán đối với tiền gửi này.Nếu cần chi tiêu ,người gửi phải đến
ngân hàng để rút tiền ra.Tuy không thuận lợi cho tiêu dùng bằng hình thức tiền gửi
thanh toán song tiền gửi có kì hạn được hưởng lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kì
hạn.
+Tiền gửi tiết kiệm dân cư:
Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các
khoản tiền tiết kiệm)Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng ,họ đều có
thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời đối với các khoản
tiết kiệm , đặc biệt là nhu cầu bảo toàn .Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết
kiệm,các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và
tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động , đưa ra các hình thức huy
động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.Ngân hàng có thể mở cho mỗi người tiết
kiệm nhiều trương mục tiết kiệm cho mỗi kì hạn và mỗi lần gửi khác nhau.Sổ tiết
kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và dịch vụ song có thể thế chấp để vay
vốn nếu được ngân hàng cho phép.Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cũng rất đa dạng,nó
được chia theo thời gian,chia theo khối lượng Thời gian càng dài thì lãi suất càng
cao…
3.Các loại lãi suất khác
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
Bên cạnh các hình thức huy động trên ,ngân hàng còn phát hành các chứng
chỉ tiền gửi kì phiếu,trái phiếu ngân hầng để huy động vốn trên thị trường phù hợp
có sinh lời
Lãi suất cho vay hoà vốn là mức lãi suất cho vay tối thiểu do ngân hàng tính toán
để xác định rằng nếu ngân hàng chỉ cho vay khách hàng ở mức lãi suất này thì ngân
hàng chỉ đủ để trang trải các chi phí lãi (hoà vốn).Với phương pháp này có thể sẽ
giúp nhà quản trị ngân hàng có mục tiêu tỷ suất sinh lời trước thuế định hướng trước
để quyết định cho vay hay đầu tư mới đảm bảo bù đắp được chi phí huy động vốn và
có lãi.
Vì sao muốn tính toán lãi suất huy động vốn phải dựa vào cônh thức “cho vay hoà
vốn”?
Trong hệ thống NHTM ,quy mô của tiền gửi chủ yếu dựa vào khoản tín dụng mà
các ngân hàng đưa ra dưới hình thức cho vay và đầu tư.Nếu các ngân hàng không
tham gia vào hoạt động cho vay và đầu tư ,họ sẽ chỉ có các ký thác tương ứng với
lượng tiền mặt mà người ký quỹ gửi tại ngân hàng . Đa số tiền gửi hoàn toàn dẽ hoán
chuyển thành tiền mặt và tiền lãi sẽ chỉ phản ánh mức thu nhập từ các lệ phí do tiền
tệ nhận thấy có thể kiếm lợi được và do vậy ,họ cố gắng cho vay và đầu tư một cách
thận trọng đối với số vốn họ nhận được từ các cổ đông và những người ký thác nhằm
làm tăng mức lợi nhuận ,chính vì vậy mà ngân hàng khi tính toán lãi suất huy động
vốn phải dựa vào công thức cho vay hoà vốn.
Trong thực tế ,vốn huy động có nhiều loại lãi suất khác nhau với nhiều kỳ hạn
khác nhau.Do đó lãi suất của vốn huy động phải được tính trên tổng thể nguồn vốn
mà ngân hàng huy động được .Việc tính toán này mang tính chất thường xuyên định
kì nhằm đánh giá được một cách tổng quan chi phí đầu vào,từ đó ngân hàng có cơ sở
hoạch định chính sách đầu ra, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả.
Cụ thể có các phương pháp xác định lãi suất cho vay hoà vốn như sau:
+ Lãi suất cho vay hoà vốn :theo phương pháp chi phí bình quân .Phương pháp
này chú trọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động trong
quá khứ và xem xét cẩn thận mức lãi suất mà thị trường đã áp đặt ngân hàng phải
phải trả cho mỗi nguồn vốn đi vay .Tích số của lãi suất phỉa trả và tổng mức vốn đi
Đề án Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
Lê Huyền Ly - Ngân hàng45C
có ra sao khi lãi suất biến động mạnh. Để khắc phục những hạn chế của phương
pháp trên ,ngân hàng nên xác định chi phí huy động vốn theo phương pháp lãi suất
cho vay hoà
Lãi suất cho vay hoà vốn=(chi phí trả lãi+chi phí huy động khác)/tống tài sản có sinh lời
Lãi suất cho vay hoà vốn là mức lãi suất cho vay tối thiểu chỉ đủ để ngân
hàng bù đắp cho chi phí huy động vốn.Phương pháp lãi suất cho vay tối thiểu chỉ đủ
để ngân hàng bù đắp cho chi phí huy động vốn.Phương pháp này giúp nhà quản trị
ngân hàng có mục tiêu tỷ suất sinh lời trước thuế định hướng trước khi quyết định
cho vay hay đầu tư để đảm bảo được chi phí huy động vốn và có lãi.
Trong thực tế ,vốn huy động có nhiều loại lãi suất khác nhau vơí nhiều kì
hạn khác nhau.Do đó ,lãi suất của vốn huy động phải được tính trên tổng thể nguồn
vốn mà ngân hàng thương mại huy đông được.Việc tính lãi này phải mang tính
thường xuyên , định kì nhằm đánh giá được một cách tổng quan chi phí đầu vào,từ
đó ngân hàng mới có chính sách hoạch định lãi suất đầu ra, đảm bảo kinh doanh có
hiệu quả. 5.Phương thức định giá lãi suất tiền gửi ngân hàng
5.1.Lãi suất tiền gửi nhìn chung được định giá thấp hơn lãi suất cho vay.Lãi
suất tiền gửi được định giá dựa vào tỷ lệ chênh lệch bình quân, đã được tính toán
trong quá khứ giữa lãi suất bình quân đầu vào đảm bảo sao cho ngân hàng trang trẩi
được chi phí lãi,các chi phí phi lãi và có lợi nhuận.Tỷ lệ chênh lệch này được tính
toán dựa vào lãi suất tiền gửi trong quá khứ kết hợp với yếu tố cạnh tranh ,tỷ lệ phí
bảo hiểm tiền gửi ,tỷ lệ giự trữ bắt buộc và tỷ lệ chi phí quản lý vốn huy động.
5.2.Lãi suất tiền gửi có tính đến các yếu tố lạm phát ,yếu tố về thời gian gửi
tiền của khách hàng…
Thời gian gần đây ,các ngân hàng đã duy trì được mối tương quan giữa lãi
suất tiền gửi với tỷ lệ lạm phát phù hợp ,lãi suất tiền gửi được xây dựng dựa trên nền
tảng là đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền thể hiện qua lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ