BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………………
TIỂU LUẬN
Thực trạng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
Than Uyên – Lai Châu
Lời nói đầu
Bên cạnh những việc đã làm được trong công tác tiếp dân, giải quyết
KNTC thì trong công tác này ở địa bàn huyện Than Uyên vẫn còn bộc lộ
những bất cập, hạn chế đó là: Việc tổ chức tiếp dân ở một số phòng ban
chuyên môn, cơ sở xã thị trấn còn chạy theo hình thức chưa tuân thủ các quy
trình tiếp công dân, giải quyết KNTC một số nơi chưa đúng pháp luật hoặc
giải quyết qua loa đại khái, kéo dài thời hạn giải quyết và né tránh, đùn đẩy
giải quyết đơn thư gây ra những điểm “nóng” trong giải quyết KNTC, xử lý
tình trạng những kẻ lợi dụng KNTC để vu cáo bôi nhọ chính quyền, những kẻ
kích động lôi kéo quần chúng nhân dân nên cá biệt ở một số xã bất ổn do
khiếu kiện gây ra. Xuất phát từ tình hình đó, cùng với sự giúp đỡ của các thầy
cô trường Cán bộ thanh tra, và những kiến thức tiếp thu được, em đã chọn đề
tài: “ Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC trên địa bàn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu ”
Do thời gian nghiên cứu đề tài cũng như hiểu biết và kinh nghiệm thực
tế chưa nhiều, nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em
rất mong nhận được sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô trường cán bộ thanh
tra và sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để em hoàn thành bản tiểu luận
này!
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 15 tháng 08 năm 2006
Học viên Nguyễn Xuân Trường
I. Đặc điểm chung
Từ đặc điểm trên Huyện ủy, HĐND, UBND huyện thường xuyên quan
tâm chỉ đạo các cấp, các ngành, đặc biệt là cơ quan Thanh tra huyện trong
công tác tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền, triệt
để trên địa bàn không để phát sinh điểm “nóng” về KNTC làm ảnh hưởng đến
tình hình chung của huyện, góp phần ổn định an ninh, chính trị, trật tự an toàn
xã hội, tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế – xã hội không ngừng nâng cao
mọi mặt đời sống cho nhân dân.
II. Thực trạng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
huyện.
1. Nhận định chung
Những năm gần đây, các ngành, các cấp chính quyền địa phương huyện
Than Uyên đã quan tâm chú trọng đến công tác tiếp dân, giải quyết KNTC
đồng thời với việc đa dạng hóa hình thức và tuyên truyền vận động nhân dân
chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước, nên tình hình khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Than Uyên đã được
giải quyết tương đối triệt để, kịp thời ngăn chặn tình trạng điểm nóng đơn thư.
Các nội dung đơn thư tập trung trên địa bàn 2 thị trấn: Thị trấn Nông Trường,
thị trấn Huyện, xã Mường Kim, Mường Khoa, Tà Hừa,…. Trong đó, 60%
chính sách đền bù và đất đai, còn lại là các nội dung khác. Các cơ quan chức
năng đã xem xét giải quyết kịp thời đạt được kết quả cao trong. Tuy nhiên vẫn
còn một số đơn thư có quá trình giải quyết kéo dài, điển hình như : Vụ việc
các hộ dân khu chợ thị trấn Nông Trường mượn đất chợ kinh doanh khi Nhà
nước thu hồi đất do mở rộng quốc lộ 32, khi giải phóng mặt bằng đòi yêu cầu
bồi thường đất thổ cư ; các hộ dân khiếu kiện về cấp nhà thuộc dự án đường
nội thị thị trấn Than Uyên; các cán bộ hưu trí khiếu kiện về thông báo dừng cấp lương hưu của BHXH tỉnh Lai Châu. Việc giải quyết kéo dài xuất phát từ
một số nguyên nhân như: Nội dung khiếu kiện phức tạp liên quan đến nhiều
cấp, nhiều ngành, cơ chế chính sách trong đền bù còn có nhiều bất cập trong
các tiện nghi vật chất, tài liệu pháp luật. Ngoài ra có nội quy tiếp dân và bảng
phân công tiếp dân của lãnh đạo HĐND – UBND theo tuần, trong đó thứ 4
tuần thứ 2, 4 trong tháng chủ tịch UBND huyện và người được ủy quyền (các
phó chủ tịch khi chủ tịch đi vắng), thứ 6 tuần thứ nhất trong tháng chủ tịch
HĐND huyện (các phó chủ tịch, ủy viên HĐND khi chủ tịch đi vắng).
Thường trực tiếp dân là tổ tiếp dân theo quyết định của Chủ tịch HĐND
huyện, tổ trưởng là phó chánh thanh tra huyện, các tổ viên là những chuyên
viên có kinh nghiệm, các phòng ban chuyên môn chính của huyện được thực
hiện tiếp dân theo lịch phân công hàng ngày của tổ trưởng.
Đối với chủ tịch UBND các xã thị trấn tiếp dân vào thứ 2, thứ 6 hàng
tuần, các ngày còn lại bố trí tiếp dân thường xuyên nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho công dân đến khiếu nại, tố cáo; phản ánh kiến nghị kịp thời. Các
phòng ban huyện thường xuyên bố trí cán bộ trực tiếp dân luân phiên, kiêm
nhiệm kịp thời ghi nhận những đơn thư và ghi nhận việc công dân đến cơ
quan mình.
Kết quả trong 2 năm 2004, 2005 huyện Than Uyên đã tiếp 1080 lượt
công dân, trong đó phòng tiếp dân HĐND – UBND huyện tiếp 256 lượt
người, xã thị trấn phòng ban chuyên môn tiếp 824 lượt. Nội dung công dân
đến kiến nghị, đề nghị, khiếu nại, tố cáo tập trung trong lĩnh vực giải phóng
mặt bằng, chính sách xã hội, tranh chấp đất đai.
Như vậy các phòng tiếp dân đã làm tốt được vai trò tiếp nhận những ý
kiến phản ánh, đơn thư KNTC, tuyên truyền giáo dục pháp luật và quan trọng hơn nữa là lãnh đạo huyện, xã gần dân hơn và lắng nghe những kiến nghị,
phản ánh những nội dung có thể trả lời ngay cho dân rút ngắn thời gian chờ
đợi kết quả giải quyết. Những nội dung phức tạp có thể trao trực tiếp cho
phòng ban, bộ phận xác minh báo cáo để có thể trả lời thỏa đáng tình hình.
Cán bộ tiếp dân vừa thực hiện trách nhiệm tiếp dân vừa thực hiện công việc
giải thích cho dân hiểu chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vì vậy,
16,5 %.
Trong số 47 vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết cấp huyện, có 10 vụ
việc phức tạp phải thành lập đoàn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đoàn
thanh tra đã tiến hành xác minh vận động, thuyết phục giải quyết triệt để các
vấn đề đơn thư nêu, chỉ rõ những nội dung đúng được giải quyết theo chính
sách, pháp luật đồng thời vạch rõ những nội dung sai, thậm chí vu khống của
đối tượng lợi dụng đơn thư , từ đó có báo cáo kiến nghị xác đáng để kết luận
của UBND huyện được kịp thời và được các bên nhất trí cao, không có hiện
tượng tái khiếu, điển hình như vụ việc thanh tra thu chi Ban quản lý chợ
huyện; xác định cấp nhà đền bù thuộc dự án tuyến đường nội thị thị trấn
huyện; đòi bồi thường đất của các hộ kinh doanh tại chợ thị trấn Nông
Trường; cấp phát kinh phí chương trình khai hoang ruộng nước tại xã Tà Hừa,
Nậm Sỏ;chương trình giao thông nông thôn xã Ta Gia.
Đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, đề nghị của
UBND xã, thị trấn, phòng ban chuyên môn đã có nhiều chuyển biến tích cực,
ở cơ sở và đơn vị đã vận dụng triệt để công tác hòa giải khi vụ việc phát sinh,
giải quyết thấu tình đạt lý, triệt để các vụ việc như đơn thư tố cáo ngành giáo dục về xâm tiêu tiền của hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở xã Pác Ta, tranh
chấp đất đai xã Mường Kim, giải thích chế độ tiền lương hưu trí của thị trấn
Nông Trường,…Nên không có tình trạng đoàn đông người kéo lên phòng tiếp
dân UBND huyện và giảm bớt đơn thư vượt cấp.
3. Đánh giá kết quả tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3.1. Những mặt đã làm được.
Điểm nổi bật trong công tác tiếp dân đó chính là người dân đã đến
phòng tiếp dân, từ đó có thể khẳng định nhân dân tin tưởng vào cấp chính
quyền. Qua đó lãnh đạo các cấp, các ngành lắng nghe được bức xúc trong
nhân dân.
Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có nhiều chuyển biến
hòa giải các đoàn thể, khu phố, thôn bản và tập quán người dân của địa
phương.
Thứ tư: Trình độ của cán bộ tiếp dân, giải quyết KNTC chưa đều, chưa
sâu và chưa nắm chắc quy trình giải quyết vòng vo kéo dài, hiệu quả thấp.
3.3. Nguyên nhân hạn chế, tồn tại.
- Cơ chế, chính sách của Nhà nước khi triển khai xuông cơ sở còn thiếu
đồng bộ và chưa sát với thực tế. Ví dụ với 45 triệu đồng cộng với ngày công
của người dân có thể làm được 1 Km đường giao thông nông thôn loại B (
mặt đường rộng 4 m gồm cả rãnh dọc) đối với những xã đồng bằng, trung du,
nhưng với điều kiện đó thì ở xã Miền núi thì chỉ có thể làm được 1/4 km do ta luy cao, khối lượng đất đá lớn không có khả năng làm thủ công. do vậy chính
sách cơ chế cần sát với thực tế.
- Trình độ quản lý cấp xã, thị trấn trong một số lĩnh vực như : đất đai,
tài chính, xây dựng cơ bản,…còn yếu và buông lỏng dẫn đến những sai phạm:
cấp đất trái thẩm quyền, thất thoát trong xây dựng cơ bản, thu các khỏan thu
ngoài quy định. Để ngoài sổ sách để tự chi,…gây bức xúc trong quần chúng
nhân dân.
- Việc tuyên truyền pháp luật nói chung và luật khiếu nại, tố cáo nói
riêng chưa thực sự sâu rộng dẫn đến một bộ phận người dân hiểu sai và chưa
đầy đủ, gửi đơn thư đến nhiều nơi, vượt cấp và phản ánh không đúng sự thật
vụ việc.
- Còn có một số đối tượng có biểu hiện đầu đơn kích động, lôi kéo lợi
dụng quy chế dân chủ để cố tình khiếu nại, tố cáo sai sự thật nhằm hạ uy tín
cán bộ.
- Công tác xử lý sai kết quả giải quyết chưa triệt để, hình thức xử lý đối
với tập thể, cá nhân thiếu trách nhiệm trong tiếp dân và giải quyết KNTC còn
nhẹ và thiếu tính răn đe và chưa thực sự đi vào nề nếp.
4. Bài học kinh nghiệm
nhân dân bức xúc đơn thư vượt cấp và lên phòng tiếp dân của huyện để khiếu
kiện làm cho tình hình thêm phức tạp, tốn kém thời gian và tiền bạc của công
dân cũng như các cơ quan nhà nước.
Vì vậy có thể khẳng định giải quyết KNTC ở cơ sở tốt thì sẽ giảm được
đơn thư vượt cấp, khiếu kiện đông người. 4.4. Vai trò thanh tra huyện
Thanh tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo điều 21 luật thanh tra:
Ngoài việc giải quyết KNTC theo thẩm quyền khi chủ tịch UBND giao còn
phải thực hiện chức năng tổng hợp, báo cáo kết quả về công tác thanh tra, giải
quyết KNTC trên địa bàn huyện thực hiện việc xem xét trách nhiệm tiếp dân
giải quyết KNTC. ở cơ sở xã, đơn vị đồng thời phải làm tốt vai trò tổ chức
tiếp dân phòng tiếp dân huyện tập huấn, hướng dẫn các cơ sở xã, cơ quan đơn
vị thực hiện quy chế tiếp dân, xử lý đơn thư.
Để làm tốt chức năng, nhiệm vụ đó trước hết đòi hỏi đội ngũ cán bộ
thanh tra phải có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và tâm huyết với nghề
nghiệp. Ngoài ra còn cần có những hiểu biết nhất định đa ngành, đa lĩnh vực
và bổ trợ cho quá trình giải quyết. Thanh tra huyện phải thường xuyên đổi
mới công tác tiếp dân, cải tiến quy trình giải quyết đơn thư phù hợp với đặc
thù địa bàn quản lý. đồng thời phải là cơ quan tham mưu đắc lực cho UBND
huyện tháo gỡ những vụ việc phức tạp, hạn chế mức độ thấp nhất đơn thư
vượt cấp khiếu kiện đông người.
4.5. Vai trò của tính công khai, minh bạch trong các cơ chế chính
sách
Một trong những nguyên nhân xảy ra khiếu kiện đó chính là tính công
khai, minh bạch của chính sách, cơ chế khi thực hiện thực tế. Công khai tài
chính, quy hoạch đất đai, các khỏan thu chi,…rộng rãi trên phương tiện thông
tin đại chúng để mọi người biết chính quyền đang làm gì và sẽ làm như thế
nào. Minh bạch các khoản chi, trong các hoạt động trong bầu cử, các dự án để
quan người địa phương. thống nhất trong phương thức giải quyết, xử lý
nghiêm túc và triệt để những cán bộ đảng viên vi phạm. Kết hợp giữa xử lý và xây dựng chỉnh đốn Đảng, Thường vụ huyện ủy ngoài những định hướng giải
quyết các vụ việc cụ thể thì cần có nhiệm vụ cụ thể cho cán bộ luân chuyển,
ban chỉ đạo TW 62 và các cấp ủy tham gia trong quá trình giải quyết ở cơ sở
nơi phát minh, nắm bắt tình hình, dự báo trước các nguy cơ tâm tư nguyện
vọng của nhân dân.
Hội đồng nhân dân cần tăng cường công tác giám sát đối với việc giải
quyết KNTC của chính quyền các cấp các ngành. Đại biểu HĐND đã có mối
liên hệ chặt chẽ với cử tri trên địa bàn thông qua hoạt động tiếp xúc. Đó là
kênh thông tin quan trọng nắm bắt những bức xúc nổi cộm trong nhân dân,
đại diện cho những nguyện vọng chính đáng của nhân dân và yêu cầu các cơ
quan đơn vị tiếp nhận giải quyết theo chế độ chính sách.
Công tác tiếp dân của các phòng tiếp dân trên địa bàn toàn huyện, cách
thức và phương pháp cần có sự đổi mới hơn nữa theo tinh thần: kịp thời,
khách quan, dân chủ, đúng luật và cởi mở. Thực hiện triệt để trách nhiệm tiếp
dân và giải quyết KNTC của thủ trưởng các đơn vị qua đó làm đổi mới toàn
diện và nâng cao hiệu quả giải quyết đơn thư, qua đó giảm những bức xúc và
tăng niềm tin của nhân dân vào những chính sách của Đảng và Nhà nước.
2. Nâng cao năng lực của cơ quan giải quyết KNTC
2.1. Mỗi công dân khi đến nơi tiếp dân hoặc gửi thư KNTC đều có
những bức xúc vì cho rằng quyền lợi của mình đã bị cá nhân, công chức, tổ
chức xâm hại. Vì vậy các công chức, tổ chức đơn vị nhà nước có thẩm quyền
khi tiếp công dân đến KNTC cần có thái độ cởi mở, lắng nghe và có ứng xử
đúng mực. Trong quá trình giải quyết tôn trọng chứng cứ thực tế để có những
quyết định giải quyết đúng đắn. Nghiêm khắc với thái độ hách dịch, coi
thường với dân, xử lý triệt đê các trường hợp né tránh, đùn đẩy trách nhiệm ,
làm sai lệch kết quả, chủ quan kết luận duy ý chí.
2.6. Các cấp, các ngành, chính quyền cơ sở cần có sự công khai, minh
bạch, cơ chế chính sách trên các lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến người dân,
cán bộ công chức như: Đất đai, tài chính, xây dựng cơ bản, các khoản thu chi
đóng góp của nhân dân.Cơ chế phải rõ ràng, chính sách cụ thể và đến được
với người dân, đúng đối tượng được hưởng.
2.7. Thực hiện chuyên môn hóa từ công tác tiếp dân, giải quyết KNTC
thông qua đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn cho đội ngũ cán bộ làm công
tác tiếp dân và giải quyết KNTC.
3. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở:
Phần lớn đơn thư phát sinh từ cơ sở xã, ngành vì vậy muốn chuyển biến
kết quả giải quyết KNTC thì trước hết những người lãnh đạo chính quyền cần
có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về KNTC.
Khi xảy ra khiếu nại, tố cáo chính quyền cơ sở phải kịp thời giải quyết
không được ỷ lại, trông chờ cấp trên. Có như vậy mới thấy được những bất
cập, yếu kém trong khâu chỉ đạo, điều hành công việc và phải dũng cảm nhìn
thấy trách nhiệm dám nhận sai và sửa sai, không nên tìm mọi cách che đậy,
phủ nhận sai phạm của mình. Vì việc đó sẽ dẫn đến tình trạng công dân bức
xúc, tập hợp để khiếu nại.
Kiện toàn và nâng cao năng lực, đảm bảo chế độ cho ban thanh tra nhân
dân. Đây là hình thức giám sát của nhân dân thông qua đại diện do mình bầu
ra để tham gia và xem xét trực tiếp việc thực hiện chính sách, pháp luật về
giải quyết KNTC và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Hoạt động thanh tra
nhân dân có hiệu quả giúp cho lãnh đạo cơ sở tập trung được ý kiến phản ánh
của dân nhanh nhất. Từ đó thấy được yếu kém và bất cập công việc của chính
quyền đang thực hiện, hạn chế được đơn thư khiếu nại, tố cáo từ cơ sở.
4. Tăng cường sự phối kết hợp với các đoàn thể.
được đóng góp công sức mình cho công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa
phương ngày một tốt hơn. Góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp kinh tế xã hội của
huyện nhà.
Tóm lại, việc đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giải quyết KNTC
không chỉ đòi hỏi ở tầm vĩ mô (như cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà
nước) mà bản thân mỗi cán bộ công chức cũng cần tự đổi mới, không ngừng
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo hướng “chuyên sâu, chuyên nghiệp” đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
mục lục lời nói đầu
1
Phần I:
thực trạng công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyệ
n
than uyên – lai châu
3
I. Đặc điểm chung.
3
II. Thực trạng công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, tố cáo trên đị
a
bàn huyện.
4
1. Nhận định chung.
4
4.4. Vai trò của thanh tra huyện.
12
4.5. Vai trò của tính công khai minh bạch trong các cơ chế chính sách.
13
Phần II:
một số giải pháp nhằm tăng cường công tác tiếp dân giải quyết khiếu nại, t
ố
cáo trên địa bàn huyện than uyên
14
1. Tăng cường sự chỉ đạo của huyện uỷ, HĐND, UBND huyện, củ
a
cấp uỷ.
14
2. Nâng cao năng lực cơ quan giải quyết khiếu nại, tố cáo.
15
3. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở.
17
4. Tăng cường sự phối kết hợp với các đoàn thể.
18
kết luận
19