lời nói đầu
Một trong những quyền cơ bản của công dân là quyền đợc khiếu nại, tố
cáo, đợc ghi nhận tại Điều 74 Hiến pháp nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 1992.
Luật Khiếu nại, tố cáo đợc Quốc hội nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1999,
đợc sửa đổi bổ sung năm 2004 - là văn bản pháp lý nhằm thể chế hoá quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân và các cơ quan Nhà nớc trong việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Ngày 07/08/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
67/1999/NĐ-CP và Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/04/2005 quy định
chi tiết và hớng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo. Đây là cơ sở pháp lý quan
trọng, để thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo quy định trách nhiệm của
cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo đặc
biệt là trách nhiệm của thanh tra Nhà nớc các cấp. Trong đó có cơ quan thanh
tra cấp huyện có một vai trò hết sức quan trọng trong việc trực tiếp giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những giải pháp quan trọng
góp phần xây dựng Nhà nớc, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, tăng cờng
mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nớc, nhân dân. Trong điều kiện đất nớc phát
triển, dân chủ đợc mở rộng thì quyền khiếu nại, tố cáo của công dân càng đợc
mở rộng và không ngừng đợc phát huy.
Giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ, khôi phục các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, bên cạnh đó xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành
vi vi phạm pháp luật.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
và vai trò của thanh tra cấp huyện. Tôi lựa chọn chuyên đề: Nâng cao chất
lợng giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn. Nhằm
nghiên cứu một số vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn và góp một phần nhỏ
vào việc nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của địa
phơng trong thời kỳ mới.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu với kinh nghiệm thực tiễn. Trong
Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2005 - 2010. Đảng bộ huyện đã khẳng định ph-
ơng hớng phát triển kinh tế ổn định sản xuất nông nghiệp, phát triển du lịch
dịch vụ ngang tầm tiềm năng sẵn có đã đợc Nhà nớc đầu t phát triển.
2. Tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn.
Trong những năm qua do quá trình công nghiệp hoá trên các lĩnh vực
sản xuất xã hội phát triển một cách mạnh mẽ, nh xây dựng cơ sở hạ tầng, giao
thông, thuỷ lợi. Các dự án văn hoá, công trình phú lợi công công mặt đợc là cơ
bản. Tuy vẫn còn một số mặt còn hạn chế ảnh hởng tới sinh hoạt, đời sống,
việc làm của nhân dân lao động, trong lúc đó chính sách Nhà nớc cha đáp ứng
kịp thời gây nhiều bức xúc trong nhân dân.
Việc tổ chức thực hiện thiếu bàn bạc dân chủ gây áp lực đối với những
hộ, nhà dân bị thiệt thòi.
Thiếu tổ chức tuyên truyền vận động quần chúng tham gia vào phong
trào chung.
Đây là những nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện trong nhân dân.
3
Công tác quản lý đất đai, nhà ở còn nhiều lỏng lẻo, trong quá trình
chuyển đổi thực hiện Luật đất đai, chính quyền huyện quản lý hồ sơ không
tốt, giải quyết mua bán chuyển nhợng đất đai không đúng thủ tục, thẩm quyền
gây nhiều bất bình trong nhân dân còn công dân một số cố tình lấn chiếm đất
đai vi phạm pháp luật, tình trạng lợi dụng chức quyền Nhà nớc, mua đi bán lại
đất đai kiếm lời bất chính tạo d luận xấu trong nhân dân - gây nên khiếu kiện.
Huyện Nam Đàn lao động sản xuất nông nghiệp chiếm 80%, vấn đề
hạn chế trong nhận thức về đờng lối, pháp luật của Đảng và Nhà nớc, đặc biệt
trong xu thế mở cửa, hội nhập. Phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN. Sự bất cập giữa nhận thức của ngời dân và sự phát triển đi lên của trào
lu chung thì sẽ xuất hiện nhiều kiến nghị, tố cáo đòi hỏi các cơ quan có thẩm
quyền tập trung giải quyết.
Đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
của một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện phần lớn là cán bộ phong trào, kiêm
XHCN công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang từng bớc làm thay da đổi thịt vùng
đất đầy tiềm năng trong tơng lai. Những thành quả đặt đợc đã tạo vững chắc
cho sự phát triển đi lên trong thời gian tới. Bên cạnh đó những khó khăn vốn
có nh đống đất bạc màu, chuyên canh nông nghiệp, thu nhập ngời nông dân
thấp, cơ cấu kinh tế cha thực sự đợc chuyển đổi mạnh, là mối quan tâm của
nhân dân chính quyền cơ sở. Chính sự phát triển đi lên đó đã kéo theo sự bất
cập trực tiếp đến ngời dân nông nghiệp, đất đai bị thu hẹp, việc làm ít đi, t t-
ởng có lúc bị dao động, ảnh hởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của ngời
dân - là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại gay gắt.
Chính sách, pháp luật của Nhà nớc cha đồng bộ nên trong quá trình giải
quyết những chế độ cho ngời dân không đợc thoả đáng, nguyện vọng, kiến
nghị của họ cha đợc đáp ứng.
5
Pháp luật cha có quy định để xử lý đối với những ngời đeo bám khiếu
kiện dai dẳng, tập trung đông ngời trớc các trụ sở cơ quan huyện, xã, gây mất
trật tự an ninh trên địa bàn.
* Nguyên nhân chủ quan:
Một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể trên địa bàn huyện
cha nhận thức đầy đủ trách nhiệm trong việc tiếp dân và việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo của công dân. Một số cơ quan chính quyền địa phơng còn buông
lỏng quản lý để một bộ phận cán bộ vi phạm các quy định quản lý tài chính
đất đai, xây dựng không xử lý kịp thời gây bất bình trong quần chúng nhân
dân. Một số cán bộ yếu về năng lực, phẩm chất bị thoái hoá lợi dụng chức vụ
quyền hạn tham ô, tham nhũng chuộc lợi. Nhiều vụ việc tồn đọng không đợc
giải quyết, xử lý gây nhiều mâu thuẫn trong nhân dân.
Trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, một số đơn vị cơ sở còn thiếu
dân chủ, duy ý chí, áp đặt mệnh lệnh, cha lắng nghe ý kiến của dân, ngại khổ,
ngại đối thoại trực tiếp với dân để vụ việc kéo dài. Khi đã có kết luận thì xử lý
thiếu kiên quyết cán bộ sai phạm, có trờng hợp còn bao che, dung túng gây
bức xúc cho nhân dân.
Tiếp công dân là giai đoạn đầu quan trọng của quá trình xem xét giải
quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp công dân để trực tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo
những kiến nghị, phản ánh; đồng thời thông qua đó, cơ quan Nhà nớc nắm đợc
việc thực hiện chủ trơng, đờng lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà n-
ớc, công tác quản lý, tình hình cán bộ, phát hiện những sơ hở, yếu kém trong
quá trình hoạt động của cơ quan Nhà nớc, từ đó có biện pháp khắc phục kịp
thời. Chính vì vậy, cho đến nay tại trụ sở của Huyện uỷ, UBND huyện, UBND
các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đều đã bố trí đợc phòng tiếp dân. Phòng
tiếp công dân của các đơn vị trên địa bàn huyện đợc bố trí ở nơi thuận tiện.
Trong phòng tiếp dân có sổ sách ghi chép theo dõi việc tiếp công dân, có nội
qui công tác tiếp công dân, quy định rõ trách nhiệm của cán bộ làm công tác
tiếp dân, trách nhiệm nghĩa vụ của công dân khi đến phòng tiếp dân. Phòng
tiếp dân có đầy đủ các tiện nghi cần thiết nh bàn, ghế, sổ sách
Việc tiếp dân đợc bố trí tất cả các buổi làm việc trong tuần. UBND
huyện giao cho Văn phòng HĐND - UBND huyện trực tiếp thực hiện công tác
tiếp dân. Hàng tuần các đồng chí lãnh đạo UBND huyện đều bố trí lịch để tiếp
công dân. Ngoài việc bố trí lịch tiếp công dân theo quy định, những trờng hợp
đặc biệt khi có yêu cầu, các đồng chí lãnh đạo đều trực tiếp tiếp công dân.
Ngoài việc bố trí tiếp công dân tại trụ sở, trong những năm qua trên địa
bàn huyện xảy ra một số vụ việc phức tạp nh: Việc thanh toán đền bù giải
phóng mặt bằng, các đồng chí lãnh đạo huyện uỷ UBND huyện đã về trực tiếp
tiếp công dân ở các đơn vị cơ sở, đối thoại cùng công dân và cán bộ cơ sở để
cùng bàn biện pháp giải quyết những vớng mắc, bức xúc của nhân dân.
b. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là trách nhiệm quan trọng của cơ
quan hành chính Nhà nớc các cấp và là nội dung trọng tâm cơ bản của Luật
Khiếu nại, tố cáo. Chính vì vậy mà công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên
7
địa bàn huyện Nam Đàn luôn luôn đợc sự quan tâm chỉ đạo của Huyện uỷ và
UBND huyện.
huyện và các phòng ban chức năng của huyện nhận đợc đều đã đợc xem xét,
giải quyết đạt tỷ lệ trên 94%.
- Số đơn th khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND
huyện sau khi nghiên cứu kỹ nội dung và căn cứ vào tình hình thực tế của các
vụ việc. Thanh tra huyện tham mu, đề xuất với UBND huyện biện pháp giải
8
quyết. Vụ việc liên quan đến vấn đề nào, lĩnh vực nào của ngành nào, phòng
ban chuyên môn nào quản lý thì giao cho phòng ban đó, ngành đó trực tiếp
giải quyết có nh vậy việc giải quyết mới nhanh chóng, hiệu quả chính vì
những phòng ban đó, ngành đó mới nắm rõ về bản chất sự việc. Nếu sự việc
nào quá phức tạp, khó giải quyết, UBND huyện triệu tập họp các phòng ban
bàn biện pháp giải quyết, có những vụ việc tình hình căng thẳng, bức xúc,
lãnh đạo UBND huyện đứng ra trực tiếp lãnh đạo giải quyết với dân.
* Một số tồn tại:
Ngoài những mặt đã làm đợc nh trên trong việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo trên địa bàn huyện Nam Đàn thì trên địa bàn huyện vẫn còn một số tồn tại
trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cần đợc khắc phục đó là:
- Các cấp, các ngành cha thật quan tâm đầy đủ đến công tác tiếp dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, vì vậy công tác tiếp dân ở một số
nơi còn mang tính hình thức, thiếu nghiêm túc, cán bộ lãnh đạo cơ quan, đơn
vị không thực hiện tiếp dân theo định kỳ, né tránh đối thoại trực tiếp với dân
hoặc hứa hẹn với dân nhng không giải quyết.
- Các cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo
trách nhiệm cha cao, nhiều vụ giải quyết không thực hiện đúng các quy định
của pháp luật. Trong quá trình xem xét, xác minh, kết luận còn có hiện tợng
chủ quan, đơn giản, kết luận thiếu chính xác, thiếu khách quan, để tồn đọng
kéo dài gây bức xúc cho ngời khiếu kiện.
- Nhiều kết luận, quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã có hiệu lực
pháp luật, nhiều vụ việc đã có văn bản chỉ đạo của cơ quan cấp trên để giải
quyết, xử lý nhng không đợc các cấp, các ngành tổ chức thực hiện nghiêm túc,
không giải quyết kịp thời hoặc giải quyết sai đã gây phản ứng và trở thành
điểm nóng, gây mất ổn định, ảnh hởng đến đoàn kết, tình nghĩa xóm làng.
Chính vì vậy việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp cơ sở là
rất quan trọng, việc giải quyết tốt những mâu thuẫn vớng mắc ở cơ sở sẽ làm
giảm rất nhiều những vụ khiếu kiện phức tạp, kéo dài. Có thể nói việc giải
quyết ở cấp cơ sở mà hiệu quả càng cao thì những mâu thuẫn sẽ bị đẩy lùi và
việc giải quyết thuộc thẩm quyền của các cấp huyện, tỉnh, Trung ơng sẽ giảm
đi rất nhiều.
b. Vai trò của thanh tra cấp huyện.
Trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, vai trò giải quyết của thanh
tra các cấp rất quan trọng đặc biệt là thanh tra cấp huyện. Trong Luật Khiếu
nại, tố cáo đã quy định về thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện trong
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và Thanh tra cấp huyện khi đợc Chủ tịch uỷ
quyền thì ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, trong thực tế
hầu hết các vụ khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền cấp huyện, Thanh tra cấp
huyện đều tham gia tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị biện pháp giải
quyết. Nh trên địa bàn huyện Nam Đàn.
Trong năm 2001: Trong tổng số 15 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết
của UBND thì Thanh tra huyện đợc giao xem xét giải quyết là 9 đơn.
10
Trong năm 2002: Trong tổng số 11 đơn thuộc thẩm quyền của UBND
huyện thì Thanh tra huyện đợc giao xem xét, kiến nghị và giải quyết 12 đơn.
Trong năm 2003: Trong tổng số 18 đơn thuộc thẩm quyền của UBND
huyện thì Thanh tra huyện đợc giao xem xét, kiến nghị giải quyết 12 đơn.
Trong 6 tháng đầu năm 2004 có 8 đơn thuộc thẩm quyền của UBND
huyện thì Thanh tra huyện đợc giao xem xét, kiến nghị và giải quyết 5 đơn.
Qua số liệu trên đây thì chúng ta thấy vai trò của thanh tra là rất quan
trọng trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của UBND
cấp huyện.
Chất lợng các vụ việc giải quyết tố cáo của thanh tra huyện mang tính
bảo cho ngời đi khiếu nại, tố cáo vụ việc đợc giải quyết theo đúng thẩm quyền
trình tự theo luật định.
Thanh tra huyện cũng có một vai trò quan trọng trong công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo. Qua thanh tra, kiểm tra, xét khiếu tố, Thanh tra huyện
kiến nghị những chính sách không phù hợp với thực tế, lạc hậu nh giá đền bù
không hợp lý, chính sách đất đai cha phù hợp do vậy mà đã ngăn cặn đợc
nhiều vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp. Thanh tra huyện cũng là cơ quan theo dõi,
kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện quyết định, kết luận giải quyết khiếu nại, tố
cáo của cấp trên trên địa bàn.
Thanh tra huyện cũng là cơ quan phối hợp giúp cho cơ quan cấp trên
trong việc xem xét, xác minh những vụ việc giải quyết thuộc thẩm quyền trên
địa bàn. Kiến nghị, đề xuất với cơ quan cấp trên về hớng giải quyết đối với
từng vụ việc. Nhờ vậy mà các vụ việc giải quyết của cơ quan cấp trên vừa đảm
bảo đợc tính nghiêm minh của pháp luật, vừa đảm bảo quyền lợi của công dân
và mang tính khả thi cao. Thanh tra huyện là cơ quan theo dõi, tổng hợp tình
hình khiếu nại, tố cáo lên cơ quan cấp trên. Là cơ quan tổ chức triển khai thực
hiện các mệnh lệnh chủ trơng, chính sách khiếu nại, tố cáo của cơ quan cấp
trên.
Có thể nói trong vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo thì Thanh tra huyện
đóng một vai trò hết sức quan trọng từ lúc bắt đầu giải quyết cho đến khi
quyết định, kết luận đã đợc giải quyết đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền
của UBND huyện. Thực tiễn công tác xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân, của Thanh tra huyện đã kết luận, làm rõ đúng sai các vụ tranh chấp
đất đai, nhà cửa, việc thực hiện các chính sách xã hội; phát hiện, xử lý và ngăn
chặn các hiện tợng tham nhũng, cửa quyền ức hiếp quần chúng góp phần
vào việc lập lại trật tự, kỷ cơng, công bằng xã hội. Kết quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong nhiều năm của các cơ quan, đơn vị đặc biệt là cơ quan Thanh
tra huyện đã tạo đợc lòng tin trong nhân dân mang lại bầu không khí phấn
khởi, đổi mới, dân chủ hơn và công khai hoá trong đời sống xã hội.
12
thì ở đó sẽ hạn chế đợc đơn th khiếu kiện và ngợc lại.
3. Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, điều quan trọng là phải quan tâm
chỉ đạo giải quyết kịp thời, dứt điểm vụ việc ngay từ khi mới phát sinh tại cơ
sở; nếu không giải quyết kịp thời, sẽ tích tụ mâu thuẫn, từ đơn giản trở thành
phức tạp, từ ít ngời trở thành đông ngời.
4. Cơ quan có thẩm quyền cấp trên không làm thay nhiệm vụ giải quyết
khiếu nại, tố cáo đang thuộc thẩm quyền cấp dới, chỉ nên lập đoàn rà soát để
13
kiểm tra, làm rõ nguyên nhân tiếp khiếu, tiếp tố, từ đó chỉ đạo cấp dới tiếp tục
giải quyết dứt điểm vụ việc. Cách làm này vừa tạo uy tín, danh dự cho cấp dới,
vừa khắc phục đợc những tồn tại, thiếu sót của lần giải quyết trớc đó.
5. Những vụ việc khiếu nại, tố cáo đã giải quyết nếu có tái khiếu, tái tố
thờng diễn biến phức tạp hơn, gây khó khăn cho việc giải quyết của cơ quan
Nhà nớc. Do đó, trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, phải thực
hiện phơng châm: Làm một lần cho chắc, xử lý sai phạm thấu lý, đạt tình; từ
đó làm cho nhân dân tin tởng và sẽ chấm dứt khiếu kiện. Nếu kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo không hết nội dung, kết luận không khách quan, xử lý
không nghiêm sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, dẫn đến phát sinh đơn th
khiếu nại, tố cáo vợt cấp.
6. Cần quan tâm thực hiện tốt công tác hoà giải các mâu thuẫn trong
cộng đồng dân c ngay từ khi mới phát sinh, khi sự việc còn đơn giản, nếu để
lâu ngày phát sinh thành khiếu nại, tố cáo phức tạp thì vừa khó giải quyết dứt
điểm vụ việc, vừa tốn kém thời gian, kinh phí cho việc giải quyết.
7. Trong giải quyết khiếu nại, tố cáo cần kết hợp giữa giải quyết đúng
pháp luật với công tác đối thoại trực tiếp với công dân ngay tại nơi xảy ra
khiếu nại, tố cáo nhằm vận động, tuyên truyền, thuyết phục; làm cho công dân
hiểu và tự giác chấp hành quyết định giải quyết của cấp có thẩm quyền để
chấm dứt khiếu kiện.
8. Các ngành và địa phơng nếu biết sử dụng kết quả tiếp dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân làm một trong những tiêu chí để đánh giá cán
biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói riêng
thì ở đó sẽ nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân, góp phần hạn chế đơn
th khiếu nại, tố cáo.
ii. kiến nghị, đề xuất với tỉnh, Trung ơng.
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo; Từng bớc
chuyển việc giải quyết khiếu nại hành chính sang xét xử tại Tòa án hành chính
các cấp, trớc hết mở rộng thẩm quyền xét xử án hành chính do Tòa án nhân
dân (sửa đổi Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính).
2. Đề nghị Chính phủ và Thanh tra Chính phủ xây dựng hệ thống thông
tin trực tuyến về quản lý công tác tiếp dân, đơn th và kết quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo từ Trung ơng đến cơ sở để phục vụ cho việc nắm bắt thông tin, chỉ
đạo thực hiện nhiệm vụ công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân.
3. Đề nghị có chế độ đãi ngộ hợp lý cho những cán bộ làm công tác tiếp
dân và tham mu giải quyết khiếu nại, tố cáo, tạo điều kiện thuận lợi để họ
hoàn thành tốt nhiệm vụ.
4. Đề nghị có hớng dẫn xử lý những trờng hợp lợi dụng quyền khiếu
nại, tố cáo để lôi kéo, tụ tập đông ngời, cố tình kích động, xúi dục công dân
khiếu kiện dai dẳng, gửi đơn th vợt cấp, tố cáo sai sự thật trái quy định của
pháp luật.
5. Khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai, bồi thờng giải phóng
mặt bằng hiện nay chiếm tỷ lệ khoảng trên 50% các nội dung khiếu nại, tố cáo
15
của công dân, vì vậy đề nghị Đảng, Nhà nớc cần có biện pháp tăng cờng lãnh
đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trơng, chính sách và pháp luật về đất đai,
bồi thờng giải phóng mặt bằng để hạn chế đơn th khiếu nại, tố cáo của công
dân trong các lĩnh vực này.
Những giải pháp để giải quyết khiếu nại, tố cáo đã nêu ở trên đợc thực
hiện phần nào góp phần vào việc hoàn thiện công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo ở Huyện, từng bớc nâng cao chất lợng hiệu quả của công tác giải quyết