1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ……………………
TIỂU LUẬN
Thực tiễn công tác tiếp dân và giải quyết khiếu
nại tố cáo trên địa bàn huyện Tam Dương
lời nói đầu
nhiều. Công việc tuyên truyền phổ biến Luật Khiếu nại, tố cáo.
Là cán bộ công tác trong ngành thanh tra bản thân tôi nhận thức đề tài
nghiên cứu: Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo là hết sức quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn. Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đóng
góp làm sáng tỏ lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng công tác tiếp dân và
giải quyết khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Tam Dương từ năm 1999-
2004. Trên cơ sở phân tích những hạn chế, ưu điểm của pháp luật, nguyên
nhân của những vấn đề bất cập này để từ đó có phương hướng, giải pháp góp
phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân và giải quyết
khiếu nại- tố cáo.
Để sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp,
thống kê trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật để làm rõ mục đích và nhiệm
vụ của đề tài. Trong phạm vi giới hạn của đê tài, xin không đề cập đến quy 3
định cụ thể trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại- tố cáo, mà chỉ tập
trung vào thực trạng, nội dung cơ bản về công tác tiếp dân và giải quyết khiếu
nại- tố cáo trên địa bàn huyện Tam Dương. Những giải pháp góp phần nâng
cao hiệu quả, chất lượng của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại- tố cáo
trên địa bàn huyện Tam Dương trong thời kỳ đổi mới. Tôi hy vọng với kết quả
đạt được đề tài có thể đưa ra một só kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao
chất lượng tiếp dân và giải quyết khiếu nại- tố cáo trên địa bàn huyện Tam
Dương.
Do thời gian nghiên cứu chòn hạn chế cho nên chắc chắn đề tài không
tránh khỏi sai sót, kính mong sự quan tâm đón góp ý kiến của thầy, cô để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
nhân dân, hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại tố cáo phải được cưqu Nhà
nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định ”
Vì vậy quyền khiếu nại và tố cáo của công dân là phương tiện để công
dân bảo vệ lợi ích của mình, lợi ichs của Nhà nước, xã hội. Khi công dân thực
hiện quyền này còn tạo ra mối liên hệ, thông tin quan trọng giữa công dân với
Đảng và Nhà nước.
1. Khái niệm:
Theo luật khiếu nại tố cáo đã sửa đổi bổ sung năm 2004 khiếu nại được
hiểu là: Việc công dân, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức theo thủ tục do
luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét
lại quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có
căn cứ cho rằng quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng
quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi pháp của
mình và
Tố cáo là việc công dân, theo thủ tục do luật này quy định, báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thời hạn hoặc đe doạ gây thời hạn cho
lợi ích của Nhà nước, quyền lợi hợp pháp của công dân, tổ chức. 5
Như vậy khái niệm khiếu nại, tố cáo trong quy định Luật Khiếu nại, tố
cáo được hiểu hẹp hơn khái niệm khiếu nại nói chung. Nó gồm 2 nội dung:
Khiếu nại về quyết định hành chính (báo cáo khiếu nại về quyết định kỷ luật
cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức) khiếu nại về hành vi hành chính trong
các cơ quan Nhà nước. Tố cáo thực chất là việc công dân phát hiện và thông báo
chính thức với cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền về những hành vi vi
phạm pháp luật nào đó diễn ra trong đời sống xã hội có thể liên quan hoặc không
quyết khiếu nại, tố cáo phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc thủ tục được
pháp luật quy định, tuyệt đối không được đặt thêm các thủ tục khác gây khó
khăn cho công dân, tổ chức khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
2. Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thể hiện quan điểm
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đồng thời cũng là biện pháp tích cực góp
phần xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh.
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; điều đó được
thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1992 “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Vì thế “Cán
bộ công chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, lợi
ích của nhân dân liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám
sát của nhân dân”. Chính vì vậy, các cơ quan đơn vị phải coi trọng công việc tiếp
dân cũng như tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân trong suốt
quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đó không chỉ thể hiện sự tôn trọng nhân
dân mà còn tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Từ trước tới nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc mở rộng
dân chủ, tăng cường Pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của công dân. Nhưng trong thời gian gần đây tình hình khiếu nại, tố
cáo của công dân diễn biến không bình thường do nhiều nguyên nhân trong
đó có nguyên nhân chính sách pháp luật chưa hoàn chỉnh; một số cán bộ hoặc
cấp uỷ, chính quyền có những khuyết điểm, sai phạm như quan liêu, mất dân
chủ, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí… Nhưng nguyên nhân trực tiếp là do một
số cấp Uỷ, Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình
trong việc tiếp nhận giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của công; giải
quyết nhiều vụ chưa nghiêm túc, thấu đáo dẫn tới tình hình khiếu nại, tố cáo 7
của công dân diễn biến không bình thường, làm giảm lòng tin của nhân dân
Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
Tam Dương trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Từ khi
Luật Khiếu nại, tố cáo được ban hành, đã tạo ra cơ chế giải quyết phù hợp cho
quá trình việc tiếp dân, giải quyết KN,TC trên địa bàn huyện Tam Dương.
thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo. Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Tam
Dương đã tập trung chỉ đạo các cấp uỷ chính quyền địa phương, triển khai
Luật Khiếu nại, tố cáo đồng thời coi công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại,
tố cáo là công tác trọng tâm của đơn vị để đảm bảo phát triển kinh tế ổn định
an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp uỷ, chính
quyền các xã việc giải quyết vẫn còn mang tính hình thức, năng lực cán bộ
còn hạn chế, chưa thực hiện tốt công tác này, một số vụ việc giải quyết chưa
đúng luật định, để tồn đọng kéo dài gây bức xúc cho người đi khiếu kiện.
Công tác giải quyết, xử lý sau Kết luận của một số vụ việc chưa dứt điểm ảnh
hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại.
1. Thực trạng công tác tiếp dân và xử lý đơn.
1.1. Công tác tiếp dân.
Nhìn chung các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong công tác tiếp
dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tại trụ sở đơn vị đã có niêm yết lịch tiếp
dân, nội quy tiếp dân. Hàng tháng Chủ tịch UBND huyện, cơ quan Thanh tra
huyện trực tiếp tiếp dân vào ngày 10 và 20, Chủ tịch UBND xã, cùng cán bộ
Tư pháp tiếp dân vào 2 ngày trong tuần là thứ 3 và thứ 6. Khi tiếp dân cán bộ
tiếp dân phải tạo điều kiện để công dân có thể trình bày ý kiến của mình với
cơ quan Nhà nước. Cán bộ tiếp dân giải thích cho công dân các chủ trương
chính sách quy định của Nhà nước, đồng thời hướng dẫn người dân đến đúng
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tránh để công dân mất nhiều thời
gian đi lại.
Phòng tiếp dân của UBND huyện Tam Dương được bố trí ngay trong
Trụ sở của UBND huyện, bố trí thường xuyên cán bộ tiếp dân. Cán bộ tiếp
dân đã qua trình độ đại học và qua khoá học về quản lý Nhà nước, nắm vững
từ nhiều luồng khác nhau như:
- Đơn do cấp trên, cơ quan chức năng chuyển đến.
- Đơn gửi qua đường bưu điện. 10
- Đơn nhận trực tiếp.
Khi nhận được đơn, cán bộ tiếp nhận đơn vào sổ nhận đơn theo thời
gian, nội dung quy định. Tổ chức phân loại đơn, xác định quyền hạn giải quyết
để báo cáo thủ trưởng cơ quan, tổ chức thực hiện theo luật định. Tuy nhiên, bên
cạnh các đơn vị làm tốt công tác nhận và xử lý đơn, vẫn còn một số xã, thị trấn
chưa phân loại đúng nội dung, thẩm quyền của từng đơn dẫn tới chuyển đơn
không đúng cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, gây khiếu kiện kéo dài, vượt
cấp. Một số đơn vị không mở sổ ghi chép hoặc ghi chép không đầy đủ số đơn,
nội dung đơn gây nhầm lẫn, thất lạc đơn, hồ sơ gửi kèm theo đơn, nhận đơn
không viết biên nhận, xử lý đơn còn chậm không đúng thời gian quy định.
2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Từ năm 1999 – 2004 các vụ khiếu nại có chiều hướng gia tăng trên địa
bàn huyện cả về số lượng và tính chất phức tạp, tập trung chủ yếu vào các lĩnh
vực như đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Tố cáo tập trung chủ yếu vào cán bộ công chức lợi dụng
chức quyền có hành vi tham ô, làm trái pháp luật thông qua việc cấp đất, giao
đất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đền bù giải phóng mặt bằng công trình xây
dựng…
Trước tình hình đó, Huyện uỷ, UBND đã có Chỉ thị về việc tăng cường
hiệu quả công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo đồng thời chấn
chỉnh công tác quản lý đất đai – tài chính, đầu tư xây dựng cơ bản. Xử lý
nghiêm những tồn tại, tổ chức kỷ luật, kiểm điểm một số cán bộ vi phạm, khôi
phục quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân. Giải quyết cơ bản số lượng
đơn thư khiếu nại, tố cáo kết quả cụ thể như sau:
2004) = 243 đơn.
Trong đó: Năm 1999: 40 đơn
Năm 2000: 59 đơn
Năm 2001: 43 đơn
Năm 2002: 45 đơn
Năm 2003: 39 đơn
Năm 2004: 17 đơn 12
- Số đơn chưa chuyển: 14 đơn.
- Số vụ việc đã giải quyết: 102 vụ việc.
+ KN,TC đúng: 34 vụ việc
+ KN,TC sai: 42 vụ việc
+ KN,TC vừa đúng, vừa sai: 26 vụ việc
- Số vụ chưa giải quyết: không
- Số vụ việc kéo dài: 8 vụ việc. Do lịch sự để lại, và đã được các cấp,
các ngành ở địa phương và Trung ương đã giải quyết, quyết định, kết luận
giải quyết đã có hiệu lực pháp luật nhưng công dân không đồng ý hoặc cố tình
không thực hiện như: vụ ông Trần Văn Thuê; ông Trần Kim Đôi, ông Nguyễn
Hữu Mễ - xã Đạo Tú, bà Nguyễn Thị Huần –xã Hoàng Đan… 13
3. Thực trạng về công tác tổ chức thực hiện quyết định giải quyết
khiếu nại, văn bản xử lý tố cáo.
Trong thực tế đơn vị chủ yếu quan tâm tới công tác giải quyết khiếu
nại, tố cáo mà chưa thực sự quan tâm tới quá trình thực hiện kết luận, quyết
định giải quyết khiếu nại, xử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật. Các cấp, các
ngành chậm tổ chức thực hiện, đùn đẩy trách nhiệm, chậm khắc phục quyền
định đã ban hành.
- Việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo cấp đất
trái thẩm quyền chưa thực hiện được đáng kể: Vẫn còn việc hợp lý hoá cấp
đất trái thẩm quyền, không thu hồi được các khoản tiền do thu chi sai nguyên
tắc tài chính hoặc chỉ thu được trên hình thức.
III. Đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn
huyện Tam Dương từ năm 1999 – 2004.
Nhìn chung trong những năm gần đây số đơn thư khiếu nại, tố cáo trên
địa bàn tăng lên cả về số lượng, tính phức tạp, một số vụ khiếu kiện đông
người với thái độ gay gắt. Một số vụ các công dân khiếu kiện tự giác liên kết
thành đoàn đông người, lôi kéo nhiều tầng lớp tham gia gây sức ép với các
cấp chính quyền, gây rối tại nhà riêng các đồng chí lãnh đạo đơn vị.
Phần lớn các công dân trên địa bàn tham gia thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo đều vì bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của họ, của cộng đồng.
Thái độ của họ đúng mực, chỉ đôi khi bị ức chế do thái độ làm việc của cán
bộ, công chức cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa đúng mức, có khi còn
thiếu tinh thần trách nhiệm, đùn đẩy lẫn nhau. Song cũng không ít vụ việc
công dân khiếu kiện do thiếu nhận thức về chính sách pháp luật, do bị kích
động hoặc lợi dụng dân chủ có hành vi quá khích lăng mạ cán bộ thi hành
công vụ, gây rối ảnh hưởng đến trật tự nơi tiếp dân. Thậm chí một số vụ cơ
quan Nhà nước đã giải quyết thoả đáng nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu
kiện vì lợi ích cá nhân. Dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ – HĐND, UBND 15
huyện trong các năm qua công tác giải quyết KN,TC đã đạt được những kết
quả nhất định cụ thể như sau:
1. Kết quả thành tích đã đạt được từ năm 1999 – 2004.
Trong 6 năm 1999 – 2004 mặc dù số đơn thư khiếu nại, tố cáo trên địa
bàn tăng lên cả về số lượng, tính phức tạp, một số vụ khiếu kiện đông người
Khiếu nại, tố cáo.
- Các văn bản chính sách pháp luật làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo đôi khi còn thiếu nhất quán, chưa rõ ràng. Các quy chế, quy định
chưa cụ thể hoặc chưa phù hợp với thực tế, tạo nhiều cách hiểu trong khi vận
dụng do đó các cấp, các ngành thực hiện chưa thống nhất gây khó khăn cho
công tác giải quyết vụ việc.
- Các biện pháp đang được quy định hiện hành chưa đáp ứng được yêu
cầu của công tác thẩm tra xác minh vụ việc. Quyền hạn của cán bộ giải quyết
KN,TC bị hạn chế bởi quá nhiều văn bản quy định khác liên quan, không tạo
được cơ chế linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ việc dẫn tới chất lượng
công tác giải quyết KN,TC chưa cao, thụ động trong khi giải quyết vụ việc.
- Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo là nhiệm vụ của cơ quan quản lý
Nhà nước, Đảng đoàn thể song một số địa phương chủ yếu phó thác cho cơ
quan thanh tra, mặt khác phương tiện trang bị cho công tác nghiệp vụ còn
thiếu nếu không nói là không có. Tổ chức, biên chế cơ quan thanh tra thay đổi
thường xuyên nên không có cán bộ chuyên môn nghiệp vụ chuyên sâu và cán
bộ giàu kinh nghiệm.
- Chi phí tài chính đảm bảo hoạt động cho tất cả giải quyết đơn tại cơ
sở không có gây khó khăn cho việc đi lại, sinh hoạt, ảnh hưởng đến chất
lượng xác minh – kiểm tra thu thập chứng cứ.
- Sự phối hợp giữa các ban ngành, đoàn thể còn chưa tốt. Việc cung cấp
số liệu liên quan tới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, chưa đầy
đủ, thiếu thống nhất. Việc cử người tham gia các đoàn liên ngành còn mang
tính hình thức. 17
- Việc xử lý các cán bộ có hành vi vi phạm pháp luật chưa triệt để, việc
khắc phục hậu quả, khôi phục quyền lợi cho người tố cáo – khiếu nại, người
bị KN,TC còn chậm.
+ Giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số đơn chưa được quan tâm, công
tác kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan chức năng chưa đúng theo quy định của
pháp luật, đến khi sự việc căng thẳng, phức tạp mới tập trung giải quyết.
+ Một số cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức chưa làm tròn công
việc của mình, thậm chí còn làm sai nguyên tắc như cấp đất trái thẩm quyền
sử dụng đất sai mục đích, chưa thực hiện tốt quy chế dân chủ, thu các khoản
dân góp quá mức thu nhập của người dân…
+ Công tác giải quyết KN,TC ở một số xã còn thiếu dân chủ, mang tính
chất mệnh lệnh hành chính, đối phó với dân không thể hiện tâm tư nguyện
vọng của nhân dân, thậm chí có nơi còn thách thức dân gây bức xúc trong
nhân dân, giảm niềm tin của dân vào chính quyền cơ sở dẫn tới tình trạng đơn
thư vượt cấp.
+ Một số chính quyền cơ sở bao che cho cấp dưới, xử lý không cương
quyết các cán bộ sai phạm, quyết định xử lý của cấp trên không được thực
hiện triệt để thậm chí có nơi không thực hiện.
+ Việc phối kết hợp giữa các ban ngành đoàn thể trong công tác hoà
giải chưa được chú trọng hoặc chỉ thực hiện mang tính chất hình thức, nên
không có hiệu quả.
+ Công tác ngăn ngừa KN,TC chưa được quan tâm. Cụ thể như: Việc
tuyên truyền Luật Khiếu nại, tố cáo chưa thường xuyên, công tác kiểm tra
thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo còn mang tính hình thức chủ yếu nghe cơ sở
báo cáo và không đi sâu thực tế trong dân nên khả năng tiềm tàng về các vụ
khiếu kiện tập thể phát sinh vẫn còn.
+ Công tác lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra kinh tế xã hội chưa được
lãnh đạo Huyện quan tâm nên nhiều sai phạm trong công tác quản lý kinh tế
chưa được xử lý kịp thời, chưa tạo được niềm tin trong dân đối với cơ quan
quản lý Nhà nước. 19
chương ii
một số giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tiếp dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo
I. Quan điểm và chủ trương của huyện uỷ, UBND huyện để nâng cao chất
lượng và hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
1. Mục tiêu.
- Nâng cao chất lượng các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể trong
việc giải quyết KN,TC đưa công tác tiếp dân và giải quyết KN,TC của công
dân thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cấp, các ngành.
- Giải quyết chính xác, kịp thời, khách quan trung thực và đúng luật.
Giải quyết dứt điểm ngay các vụ mới phát sinh, không để nảy sinh các điểm
nóng mới.
- Công tác giải quyết KN,TC phải góp phần bảo vệ quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của công dân, đảm bảo dân chủ, kỷ luật, kỷ cương và công bằng xã
hội, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức cơ sở
trong sạch, củng cố chính quyền các cấp cơ sở vững mạnh góp phần ổn định
chính trị và trật tự an toàn xã hội.
2. Nhiệm vụ.
- Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 09/CT-TW ngày 06/3/2002 của Ban bí thư
Trung ương về một số vấn đề cấp bách trong việc giải quyết KN,TC hiện nay.
- Chấn chỉnh công tác tiếp dân và giải quyết KN,TC của công dân, tăng
cường kiểm tra trách nhiệm giải quyết KN,TC của các cấp Uỷ, thủ trưởng các
cấp, các ngành, kiện toàn đội ngũ làm công tác tiếp dân và giải quyết KN,TC.
- Tập trung rà soát, xem xét kết luận dứt điểm các vụ khiếu nại, tố cáo,
đặc biệt là các vụ KN,TC đông người, phức tạp kéo dài. Thường xuyên kiểm
tra việc thực hiện các quyết định giải quyết KN,TC đã có hiệu lực pháp luật.
Kiên quyết xử lý những cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức có hành vi
trái pháp luật đã được kết luận.
22
+ Cụ thể hoá các văn bản của Chính phủ, UBND tỉnh bằng các Chỉ thị
của Huyện Uỷ, UBND huyện. Ban hành các biểu mẫu chi tiết như Báo cáo,
Quyết định giải quyết, biên bản làm việc…
+ Chấn chỉnh việc chấp hành chế độ báo cáo, chế độ thông tin định kỳ,
thông tin đột xuất theo quy định.
2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
+ Công tác tiếp dân phải đảm bảo nguyên tắc: Tôn trọng quyền khiếu
nại, tố cáo của công dân; khách quan, công khai dân chủ và thận trọng. Người
cán bộ tiếp dân phải có thái độ ứng xử đúng mức, niềm nở, chân tình, chu đáo
và có khả năng phán đoán sự việc và phát hiện diễn biến sự việc, gợi mở và
hướng dẫn công dân trình bày vào bản chất, nội dung của sự việc.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh kế hoạch giải quyết KN,TC đảm bảo đúng
trình tự, tiến độ và thời gian theo quy định của pháp luật.
+ Xử lý kiên quyết đối với cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm, kéo dài
thời gian giải quyết KN,TC. Các cơ quan quản lý Nhà nước cần theo dõi sát
sao các trường hợp chậm tiến độ và kéo dài thời gian giải quyết.
+ Nâng cao chất lượng, hiệu quả các kết luận, quyết định giải quyết,
quyết định xử lý. Phân rõ quyền, trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà
nước trong công tác thực hiện các kết luận, quyết định giải quyết, quyết định
xử lý giải quyết KN,TC. Đây là một khâu còn vướng mắc nhiều trong công
tác giải quyết KN,TC.
+ Xử lý nghiêm minh đối với những phần tử lợi dụng dân chủ, lợi dụng
quyền KN,TC xúc giục, kích động đông người tham gia khiếu kiện gây mất
trật tự an ninh xã hội, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với cơ
quan công quyền.
+ Có chính sách phối kết hợp cụ thể giữa cơ quan quản lý Nhà nước với
chóng, đúng pháp luật gắn liền với việc khôi phục quyền lợi của người dân.
Xử lý nghiêm minh đối với những phần tử lợi dụng dân chủ, lợi dụng quyền
KN,TC xúi giục, kích động đông người tham gia khiếu kiện. Có hình thức kỷ
luật thích đáng đối với cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm, kéo dài thời gian
giải quyết KN,TC. Củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Gây dựng mối quan hệ gắn bó
của nhân dân đối với chính quyền cơ sở.
3. Làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật cho nhân dân nhất
là Luật Khiếu nại, tố cáo để nhân dân nắm chắ, hiểu rõ và thực hiện quyền
KN,TC theo Luật định. Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành nhất là
lực lượng Công an và Thanh tra. Đối với những vụ việc KN,TC đông người,
phức tạp, gay gắt trước hết là cấp Uỷ, chính quyền phải thống nhất về chủ
trương khi giải quyết, khi giải quyết phải bám sát địa bàn khiếu kiện, chủ
động nắm chắc tình hình, tăng cường đối thoại với dân, trong xử lý phải thận
trọng, khách quan, tìm hiểu rõ nguyên nhân, bản chất của sự việc, có kế hoạch
cụ thể, rõ ràng, có kết luận đúng sai, phải xử lý nghiêm minh vụ việc sẽ được 25
giải quyết dứt điểm công minh thì vụ việc sẽ được giải quyết dứt điểm không
phát sinh thêm phức tạp, tránh để các vụ việc phức tạp trở thành điểm nóng.
4. Trong quá trình tiếp dân, giải quyết, khiếu nại- tố cáo phải kết hợp giữa
thanh tra, Kiểm tra với việc xử lý kinh tế tài chính và cán bộ có sai phạm, việc
giải quyết công khai dân chủ đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của người dân. Quy
định giải quyết khiếu nại sử lý tố cáo đã có hiệu lực pháp luật phải được thực hiện
kịp thời nghiêm túc thì vụ việc mới được giải quyết rích điểm củng cố niềm tin
trong nhân dân đối với đảng, chính quyền cơ sở và Nhà nước.
5. Qua 6 năm thực hiện Chỉ thị số 09/CT-TW của Ban bí thư, Chỉ thị số
09/2005/CT-UB của UBND tỉnh Vĩnh Phúc về nâng cao hiệu quả tiếp dân,
giải quyết KN,TC; Thông chi số 11 ngày 03/5/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh