Luận văn " MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI XUẤT KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN " doc - Pdf 11


1Trường đại học ngoại thương
Khoa kinh tế Ngoại thương
o0o Khoá luận tốt nghiệp
Đề tài
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý KHI XUẤT
KHẨU HÀNG HÓA SANG THỊ TRƯỜNG
NHẬT BẢN

Giáo viên hướng dẫn: Ths. NGUYỄN XUÂN NỮ
Sinh viên thực hiện : LƯU ĐỨC ANH
Lớp : Nhật 1 khóa 38F
Hà Nội 2003

2MỤC LỤC

Lời nói đầu 1
CHƯƠNG MỘT: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 4
I/ Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên , Văn hoá- Xã hội và
con người Nhật Bản 4
1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 4
2. Đặc điểm về văn hoá 6

Việt Nam khi xâm nhập thị trường Nhật Bản. 56
6.1 Hàng dệt may 57
6.2 Hàng thuỷ sản 59
6.3 Rau quả 62
CHƯƠNG BA: MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 65
I/ Định hướng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong thời
gian tới 65
II/ Giải pháp nhằm thực hiện định hướng xuất khẩu sang thị trường
Nhật Bản 69
1. Biện pháp thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu 69
1.1. Hỗ trợ vốn 69
1.2. Khuyến khích đầu tư nước ngoài 70
1.3. Hỗ trợ nhập khẩu nguyên liệu 74
2. Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu 74
2.1. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại 74
2.2. Chính sách thị trường 77
2.3. Chính sách giải quyết nợ 77
2.4. Đẩy mạnh hợp tác song phương 78
3. Biện pháp thúc đẩy ba mặt hàng xuất khẩu chiến lược 81
3.1. Hàng dệt may 81
3.2. Hàng thủy sản 83
3.3. Rau quả 87
Kết luận 92
Phụ lục 1: Sơ đồ các bước xin phê chuẩn chất lượng JIS 94
Phụ lục 2: Sơ đồ các bước xin phê chuẩn chất lượng JAS 95
Phụ lục 2: Sơ đồ thủ tục kiểm tra theo Luật vệ sinh thực phẩm 96
Tài liệu tham khảo 97
2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu một cách có hệ thống những nét
riêng biệt của thị trường Nhật Bản từ nhiều khía cạnh nhằm cung cấp
những thông tin cơ bản về thị trường và nêu lên một số vấn đề cần lưu ý
khi xuất khẩu sang thị trường này. Qua đó, các doanh nghiệp của Việt nam
có thể đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thông thương hàng hoá sang Nhật và
hơn hết là khẳng định thương hiệu Made in VietNam trên thị trường quốc
tế.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đặc điểm và các vấn đề lưu ý
khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Bên cạnh đó là những phân tích
đánh giá thực trạng, triển vọng hoạt động xuất khẩu của Việt nam sang thị
trường này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung được sử dụng trong khoá luận là duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác -
LêNin. Cụ thể là phương pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh, mô
tả và khái quát hoá đối tượng nghiên cứu, thống kê và điều tra xã hội học. Các
phương pháp này được kết hợp chặt chẽ với nhau để đưa ra những kết luận
phục vụ cho đề tài.
5. Nội dung nghiên cứu
Khoá luận bao gồm 3 chương với nội dung như sau:
Chương I: Một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản.

6

Chương II: Một số vấn đề cần lưu ý khi xuất khẩu sang thị trường
Nhật Bản
Chương III: Một số biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam sang thị trường Nhật Bản

thông và phát triển kinh tế.
Ngoài bốn đảo chính ra, Nhật Bản còn có khoảng 6800 dãy đảo và
đảo nhỏ. Các đảo này là một phần của dãy núi dài chạy từ Đông Nam á tới
tận Alaska, tạo cho nước Nhật một bờ biển dài gần 30.000 km. Chính sự
phân bố tự nhiên của các hòn đảo này đã đem lại lợi thế về cảng biển cho
Nhật bản. Khu vực tập trung các cảng biển nổi tiếng nhất của Nhật nằm ở
phía nam đảo Honshu, đây cũng chính là nơi có nhiều khu công nghiệp lớn
của Nhật.
Biển đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế Nhật Bản. Các
dòng hải lưu nóng Kuroshivo và hải lưu lạnh Oyashivo gặp nhau đã tạo nên

8

một môi trường sinh sống thuận lợi cho các loài cá. Chính vì vậy, Nhật Bản
là một trong những nước có bãi cá tự nhiên giàu trữ lượng nhất thế giới và
ngành đánh bắt hải sản của Nhật Bản cũng rất phát triển.
Gần 3/4 lãnh thổ của Nhật Bản là núi, trong đó có 532 ngọn núi cao
trên 2000m; núi Phú Sĩ là núi có độ cao lớn nhất 3776 m và cũng là một
trong những hình ảnh tượng trưng cho đất nước này. Nhật Bản hiện có hơn
60 núi lửa đang hoạt động, vì vậy thi thoảng Nhật vẫn phải chịu ảnh hưởng
của những trận động đất lớn nhỏ khác nhau. Phần lớn các đồng bằng của
Nhật Bản nằm ở quanh bờ biển và bị chia cắt bởi các dãy núi. Trong số đó,
đồng bằng Kan-to bao quanh Tokyo là đồng bằng rộng nhất với diện tích
13.000 km
2
, tiếp đó là vùng Nobi bao quanh Nagoya và đồng bằng Sendai
ở phía bắc bán đảo Honshu.
Khí hậu: Giống như Việt Nam, khí hậu Nhật cũng có bốn mùa rõ
rệt, tuy nhiên khá đa dạng do đặc điểm lãnh thổ trải dài từ bắc tới nam. Sự
khác nhau về khí hậu giữa các miền tương đối lớn. Đây chính là nét riêng

sáng tạo, và đây chính là một trong những yếu tố đưa Nhật nhanh chóng trở
thành nước dẫn đầu trong hầu hết các lĩnh vực công nghệ cao. Đối với mỗi
doanh nghiệp Nhật Bản, con người là tài nguyên quý giá nhất, bởi họ quan
niệm rằng mỗi con người đều mang trong mình sự sáng tạo, đem lại điều
kỳ diệu cho cuộc sống. Và một trong những minh chứng cho điều này là sự
ra đời của công ty HONDA, công ty hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất xe
máy, ô tô và các sản phẩm máy móc tiêu dùng cao cấp. Người sáng lập ra
công ty này ban đầu vốn chỉ là một người thợ sửa xe máy nhưng với kiến

10

thức thu lượm được trong thời gian làm việc tại một hãng sản xuất xe máy
ở Ý, cùng với sự sáng tạo của mình, ông đã chế tạo ra những chiếc xe
HONDA bốn kỳ vừa đẹp vừa dễ đi. Trường hợp thứ hai là công ty sản xuất
các thiết bị điện tử nghe nhìn SONY. Từ việc nghiên cứu chiếc máy hát
hiệu Victor nặng hàng tạ và giá đắt bằng 1/2 giá của một chiếc xe ô tô,
Akuo Morita, một thanh niên trẻ đã đem lại sự kỳ diệu bằng việc nghiên
cứu sản xuất ra các thiết bị nghe nhìn chỉ nhỏ nằm trong lòng bàn tay. Ngay
tên SONY trong tiếng nhật cũng đã mang ý nghĩa là một thanh niên thông
minh và sáng tạo. Ngày này SONY đã trở thành công ty điện tử nổi tiếng
của Nhật với 70% sản phẩm được tiêu thụ ở nước ngoài. Mặc dù vậy không
hài lòng với thành quả đã đạt được, Công ty vẫn luôn mang cho mình một
phương châm : “sáng tạo là lý do tồn tại của chúng ta”.
Có nền văn hoá đa dạng phong phú: Nền văn hoá Nhật Bản là sự
kết hợp song song giữa truyền thống và hiện đại. Tuy người Nhật hoà mình
vào cuộc sống công nghiệp hiện đại nhưng lại rất tôn trọng và có ý thức
bảo vệ văn hoá truyền thống. Vì vậy ở Nhật, ngay trong các đô thị lớn,
những toà nhà cao tầng được xây dựng bên cạnh các đình chùa cổ là
chuyện bình thường. Cùng với sự phát triển truyền thông đa phương tiện,
những thông tin mới, mốt mới lan truyền rất nhanh chóng, nhưng mặt khác

Tiếp đó là Đại học 04 năm (riêng ngành Y là 06 năm) và đào tạo sau đại
học. Theo thống kê của Bộ Giáo dục- Khoa học Nhật, đến năm 2002 nước
Nhật có 62 trường Trung học chuyên nghiệp, hơn 3.000 trường Trung cấp
kỹ thuật-nghiệp vụ, 572 trường Cao đẳng, 651 trường Đại học và 479 cơ sở

12

đào tạo cao học. Với chất lượng đào tạo cao và nghiêm khắc Nhật Bản đã
thu hút hơn 70.000 lưu học sinh nước ngoài từ khắp các quốc gia trên thế
giới đến nghiên cứu học tập.
Tuy nhiên cũng như ở Việt Nam, nhiều nơi ở Nhật vẫn rất coi trọng
Gakureki (bằng cấp), điều này đã tạo nên một áp lực rất lớn cho những học
sinh trung học và đồng thời cũng dẫn đến nhiều vấn đề nổi cộm trong xã
hội.
Nguy cơ lão hoá dân số: Hiện nay xu hướng tỷ lệ sinh giảm, tốc độ
lão hoá dân số ngày một tăng nhanh là một trong những vấn đề khó giải
quyết đối với Nhật Bản. Dự báo đến năm 2050 hơn 36% dân số của đất
nước mặt trời mọc sẽ là người về hưu. Điều này kéo theo nguy cơ thiếu lao
động cùng hàng loạt các vấn đề cần giải quyết như thừa công suất trong các
nhà máy, tăng thêm dịch vụ y tế chăm sóc cho người già. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là xu hướng sống độc thân và lập gia
đình nhưng không thích sinh con của lớp trẻ Nhật ngày càng tăng. Để ngăn
chặn tình trạng này, mới đây Chính phủ Nhật Bản đã công khai văn bản
hướng dẫn kêu gọi các chính quyền địa phương và các công ty thi hành
nhằm nâng tỷ lệ sinh đẻ của người dân, đối tượng ở đây chủ yếu nhằm vào
các ông bố. Bởi vì, theo truyền thống, đàn ông Nhật Bản có trách nhiệm đi
làm kiếm tiền nuôi gia đình, còn phụ nữ thì ở nhà làm nội trợ và chăm sóc
con cái. Nhưng ngày nay việc phụ nữ cũng dần phải tham gia gánh vác gia
đình đã trở thành một trong những nguyên nhân khiến người phụ nữ không
muốn sinh con.

, Osaka là 4652
người/km
2
. Trong khi đó ở các vùng khí hậu khắc nghiệt như Hokkaido lại có
mật độ dân số rất thấp 73 người/km
2
. Điều này đã mang lại cho Nhật những
vấn đề xã hội khó giải quyết như nhà ở, giáo dục, phúc lợi đặc biệt là vấn

14

đề an ninh, đồng thời cũng tạo nên sự phân công lao động bất hợp lý giữa
các ngành sản xuất.
Tập quán ăn uống thay đổi: Cuộc sống công nghiệp đã tạo điều
kiện cho các cửa hàng ăn nhanh phát triển. Theo quy định về giờ làm của
các công ty Nhật, thời gian nghỉ trưa được tính từ 12h đến 13h, vì vậy trong
thời gian này hầu hết người Nhật tìm đến các cửa hàng ăn nhanh như Fast
Food, Mc Donald, Seven Eleven, Wai Wai. Các cửa hàng ăn nhanh này đã
phát triển rất nhanh, trải dài trên toàn nước Nhật. Bên cạnh đó sau những
ngày làm việc căng thẳng, hoặc vào những ngày lễ hội, người Nhật thường
đưa nhau đến các cửa hàng có tên là TABE-HODAI (có nghĩa là ăn thoải
mái), tại các cửa hàng này với một mức giá cố định, thông thường là 2500
yên (tương đương khoảng 340.000 VND) mỗi người có thể chọn cho mình
món ăn ưa thích và ăn uống cho đến khi không tiếp tục được nữa. Đây cũng
là một trong những nét văn hoá mới về ẩm thực của người Nhật Bản.
4. Đặc điểm về con người Nhật Bản
Tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hoá nước ngoài: Có thể nói
rằng, không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá nước ngoài như người
Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh
giá cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang

công việc công ty, mọi người chào nhau ra về, cùng một ý nghĩa là hôm
nay anh làm việc mệt nhỉ, người hơn tuổi có thể nói “otsukare san”,hay
“otsukare” với người ít tuổi hay cấp dưới của mình nhưng người ít tuổi thì
lại phải có cách đáp lại khác “o tsukaresama deshita” thì mới đúng phép tắc

16

trên dưới.
Cũng chính bởi ý thức tôn trọng thứ bậc, nên người Nhật rất nhạy
cảm về vị trí ngồi cao thấp. Lúc ngồi trên xe cũng như khi ngồi trong
phòng, thứ tự ngồi thường được ngầm quy ước trước. Trong phòng “chỗ
ngồi trên”-nơi xa cửa ra vào nhất là nơi dành cho người bề trên hay cho
khách, còn người có chức vụ thấp bao giờ cũng ngồi ở gần cửa ra vào.
Trong các buổi tiệc tổ chức tại nhà hàng một cách đột xuất thì mọi người
đều biết vị trí của mình mà không cần có sự hướng dẫn nào khác. Đây cũng
là một trong những điểm mà các nhà xuất khẩu phải lưu ý để có thể tạo
được ấn tượng ngay từ ban đầu với người Nhật.
Óc thẩm mỹ: Người Nhật rất kỹ tính và cầu kỳ, “cái gì cũng được
nâng lên thành nghệ thuật”. Lấy ví dụ ngay việc uống trà, người Nhật cũng
coi đó như là một nghệ thuật cao quý gọi là “trà đạo”. Thời gian phà tra có
thể kéo dài tới 4 tiếng và tuân theo rất nhiều quy tắc ví dụ như: không được
dùng nước đang sôi để pha, ấm chén trước khi mang ra pha trà phải được
làm ấm lên bằng nước nóng sau đó lau bằng khăn khô, người uống trà phải
ngồi quỳ gối (seiza) Óc thẩm mỹ của người Nhật còn được thể hiện trong
phong cách làm việc của họ. Lấy ví dụ những người thợ làm trong ngành
nghề thủ công ở Nhật dành rất nhiều thời gian ngắm lại sản phẩm xem có
cần phải chỉnh sửa chau chuốt gì không. Mặc dù khi làm như vậy đồng
nghĩa với việc năng suất lao động giảm đi do mất nhiều thời gian hơn để
hoàn thành một sản phẩm, song đối với người dân Nhật Bản, ngoài mục
đích lợi nhuận họ còn muốn đạt được một mục tiêu khác không kém phần


18

đầu công việc từ 8 h sáng và chỉ ra về khi nào kết thúc toàn bộ công việc
trong ngày. Nếu làm không song được họ sẽ tiếp tục làm cả ngày nghỉ.
Chính vì vậy tổng số giờ trung bình làm việc trong năm của người Nhật
vẫn đang có xu hướng tăng lên. Theo số liệu thống kê năm 2001 con số này
đã lên tới 2150 giờ, cao hơn nhiều so với các nước khác. Từ nay đến năm
2005 chính phủ Nhật đang cố gắng giảm con số này xuống còn 1800 giờ.
Về phương diện hiệu quả công việc, nhìn chung người Nhật luôn nỗ
lực nhẫn nại, kiên trì trong công việc để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình.
Tiết kiệm và căn cơ: Người Nhật không chỉ cần cù mà còn rất tiết
kiệm, mức tiết kiệm của người Nhật cao nhất thế giới, có những thời điểm
chiếm gần 25% thu nhập cá nhân. Nguyên nhân một phần là do thời gian
làm việc của họ quá nhiều nên đôi khi không có thời gian đi mua sắm. Hai
là do tâm lý trân trọng của cải, luôn cảm thấy phải tiêu dùng đúng mức của
người Nhật. Đối với họ, ném bỏ một vật gì đó đi chỉ vì đã cũ là lãng phí
hay đúng hơn là thiếu sự trân trọng đối với tổ tiên. Đây là một trong
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý tiêu dùng của người Nhật mà
các nhà xuất khẩu nên lưu ý.
II .Tổng quan tình hình kinh tế Nhật Bản.
Khác với Việt Nam, Nhật Bản xuất hiện với tư cách là nước bại trận
sau chiến tranh thế giới lần thứ II bị phụ thuộc vào Mỹ trong cả chính sách
đối ngoại lẫn an ninh. Tuy nhiên đất nước mặt trời mọc này đã không hề
bại trận trên lĩnh vực phát triển kinh tế. Ngay sau chiến tranh thế giới thứ 2
Nhật đã nhanh chóng phục hồi và đạt được tốc độ phát triển thần kỳ.
Những năm gần đây tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản vẫn tiếp

19

Tốc độ sản xuất công nghiệp trung bình là 11,7% trong khi Mỹ là 3,7%,
Tây Âu là 3,6%. Bước nhảy vọt của nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn này
được minh hoạ qua một vài số liệu cụ thể sau đây:
- Thép: Trong khi phải mất 10 năm Pháp mới nâng được sản lượng
thép từ 15 triệu tấn lên 20 triệu tấn thì Nhật Bản chỉ cần 1 năm. Tây Đức
trong 10 năm nâng sản lượng từ 21 lên 41 triệu tấn thì Nhật Bản chỉ cần
bỏ ra 3 năm rưỡi đã đạt được mức sản lượng trên.
- Ô tô: Nước Anh đã đưa mức sản xuất xe ô tô du lịch từ 200.000
chiếc lên 1 triệu chiếc trong vòng 13 năm, Tây Đức phải làm trong 9 năm
còn Nhật Bản chỉ cần 6 năm. Trong lĩnh vực xuất khẩu xe du lịch, muốn
tăng lượng xe xuất khẩu từ 100.000 chiếc lên 500.000 chiếc Anh phải nỗ
lực trong suốt 13 năm, Pháp và Tây Đức cũng phải mất 6 năm còn Nhật
Bản đã đạt được con số này chỉ trong vòng 4 năm từ 1964 đến 1968.
-Vận tải: Cho đến năm 1968, Nhật Bản đã tiến hành xây dựng hạm
đội tầu thuyền chuyên dụng chở hàng mạnh nhất trên thế giới. Đó là một
đội “tầu phà” khổng lồ chuyên để chở các xe cộ xuất khẩu, có thể vượt
qua các đại dương với tốc độ lớn. Và khi đó, Nhật Bản đã tỏ rõ khả năng
sản xuất, chuyên chở và buôn bán nhanh hơn bất cứ nước công nghiệp
nào trên thế giới.
Nguyên nhân chủ yếu của sự phát triển này là do đầu tư mạnh mẽ của
công nghiệp tư nhân. Đầu tư để hiện đại hoá đã tạo cho các ngành công
nghiệp Nhật Bản có sức cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Bên cạnh
đó, Mỹ đã mở cửa thị trường rộng lớn của mình cho Nhật và khuyến khích
các nước đồng minh cũng làm như vậy. Nhật Bản vì vậy đã được lợi nhờ

21

môi trường kinh tế thế giới mở rộng và nguồn cung cấp năng lượng dồi dào,
tương đối rẻ từ nước ngoài suốt thời kỳ này. Một lí do khác khiến nền kinh
tế Nhật Bản phát triển là khả năng kiểm soát của Chính phủ đối với nền

hồi từ những ảnh hưởng của cú sốc dầu mỏ lần thứ nhất thì cuộc khủng
hoảng dầu mỏ lần thứ hai nổ ra. Lúc này, Chính phủ đã nhanh chóng phản
ứng bằng cách thắt chặt tiền tệ và bằng các biện pháp khác để kiểm soát
lạm phát. Tuy nhiên, mãi đến năm 1985 nền kinh tế Nhật mới bắt đầu phục
hồi nhờ chính sách đẩy mạnh nhu cầu trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế hoà hợp với nền kinh tế thế giới.
Tới giai đoạn 1988-1989, nền kinh tế bong bóng lại xuất hiện ở Nhật.
Chính phủ lại phải chuyển sang chính sách thắt chặt dây lưng, bong bóng
vỡ, giá chứng khoán tụt và một lần nữa nền kinh tế lại rơi vào thời kỳ phát
triển chậm hơn.
2. Sự phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản từ thập kỷ 90 trở lại đây và
triển vọng trong thời gian tới.
Bước sang thập kỷ 90, Nhật Bản phải đương đầu với một cuộc suy
thoái kinh tế nghiêm trọng chưa từng thấy mà nguyên nhân chủ yếu, theo
một số nhà nghiên cứu Nhật Bản, là sự sụp đổ của nền kinh tế “bong bóng”.
Khi cơn bão tài chính - tiền tệ Châu Á tràn tới, Nhật Bản càng bị nhấn sâu
vào cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện. Để khắc phục khủng hoảng ở
nước mình, các nước Đông Á đã tăng lãi suất, hoãn xây dựng các hạng
mục công trình lớn, tăng thuế, hạn chế cầu nội địa Điều này làm cho tình
hình tiêu thụ hàng hoá của Nhật Bản tại các thị trường này gặp nhiều khó
khăn, đặc biệt là các hãng sản xuất ô tô và các hãng chế tạo khác. Không

23

những thế, việc đồng tiền của các nền kinh tế Đông Á bị phá giá hàng loạt
đã khiến cho sức cạnh tranh của các mặt hàng xuất khẩu từ những nước
này ở thị trường Nhật Bản tăng lên, dẫn đến tình trạng hàng ngoại lấn lướt
hàng nội, ảnh hưởng đến sản xuất và việc làm trong nước Nhật.
Ngoài ra, Đông Á còn là địa bàn đầu tư trực tiếp quan trọng của
Nhật Bản, nhiều ngân hàng Nhật đã cho các nước khu vực này vay những

đất nước Nhật nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Triển vọng kinh tế Nhật Bản: Tiếp theo tin từ Văn phòng nội các
Nhật Bản, GDP của Nhật quý II/2003 đã tăng 0,6% cao hơn mức tăng 0,3%
quý I/2003. Đây là quý thứ 6 liên tiếp GDP của Nhật tăng. Đặc biệt tháng 5
vừa qua ngành công nghiệp nước này đã đạt được tốc độ tăng trưởng khả
quan nhất trong vòng 1 năm trở lại đây 2,5%. Thặng dư mậu dịch của Nhật
trong 8 tháng qua đạt mức 787,16 tỷ yên (tương đương 7,05 tỷ USD), tăng
hơn 23,1% so với cùng kỳ năm ngoái và cao hơn nhiều so với con số dự
kiến ban đầu (631,2 tỷ yên). Cùng với việc tỷ lệ thất nghiệp được khống
chế ở mức 5,4%, kinh tế Nhật Bản hứa hẹn có một giai đoạn phát triển tốt
đẹp.
III .Chính sách ngoại thương của Nhật Bản
Như đã phân tích ở trên, vốn là một quốc gia nghèo tài nguyên thiên
nhiên lại bị tàn phá nặng nề bởi Chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhưng
Nhật đã nhanh chóng trỗi dậy phát triển với một tốc độ thần kỳ. Một trong
những yếu tố quan trọng làm nên sự “thần kỳ” đó là việc Nhật Bản đã
thành công khi đề ra các chính sách ngoại thương phù hợp với từng giai
đoạn phát triển nhất định của đất nước.

25

Chính sách ngoại thương của Nhật thời kỳ phát triển cao
(1955-1973): Giai đoạn những năm 50 đầu năm 60 Chính phủ Nhật đã rất
thành công với chiến lược sản xuất thay thế nhập khẩu (IS-Import
subsitution) bằng việc tận dụng lợi thế về việc huy động vốn đầu tư, phân
bổ có trọng điểm, đồng thời thực hiện các biện pháp bảo hộ để nuôi dưỡng
và thúc đẩy khả năng cạnh tranh của các nghành công nghiệp mới.
Kể từ sau năm 1960, với sự cải thiện về lợi thế của các nghành công
nghiệp IS và nhận thức được lợi ích của quá trình tự do hoá trên cở sở của
phân công lao động quốc tế, quá trình tự do hoá nhập khẩu và FDI đã được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status