Bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá - vấn đề cần quan tâm khi xuất khẩu hàng hoá ra thị trường nước ngoài - Pdf 33


Lời mở đầu
Trong thời kỳ phát triển của nền kinh tế trí thức, sự phát triển kinh tế chủ
yếu dựa vào trình độ phát triển trí tuệ của con ngời, hàm lợng công nghệ trong
sản phẩm có vai trò ngày càng rất quan trọng. Do vậy, quyền sở hữu trí tuệ bao
gồm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và quyền liên quan đang thực sự
trở thành một yếu tố cơ bản trong thơng mại quốc tế. Đồng thời hiện tợng vi
phạm sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng cũng lại
gia tăng nhanh chóng. Vì thế vấn đề bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp đã trở
thành một vấn đề tối cần thiết đối với chủ sở hữu cũng nh đối với quốc gia và
toàn xã hội. Hơn nữa, trong xu thế thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, việc mở
cửa biên giới và phổ cập hoá cạnh tranh khiến cho bảo hộ quyền sở công nghiệp
đã không còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà bắt buộc phải có sự tham
gia của nhiều nớc trên thế giới.
Xu thế cạnh tranh, toàn cầu hoá và khu vực hoá hội nhập nền kinh tế thế
giới là xu thế tất yếu và Việt Nam không thể không tham gia vào quá trình này.
Hiện nay Việt Nam đang trong những bớc đầu tiên trên con đờng hội nhập kinh
tế. Điều này thể hiện rất rõ trong chiến lợc thâm nhập thị trờng nớc ngoài và xu
thế hớng về xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong quá trình mở rộng
thị trờng, vấn đề bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến bản quyền
sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá đã trở thành một vấn để hết sức quan trọng, đó
không chỉ là yêu cầu tất yếu khi hội nhập mà đó là cơ sở pháp lý vững chắc để
các doanh nghiệp Việt Nam bảo vệ quyền lợi, uy tín của mình trên thị trờng nớc
ngoài cũng nh tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn cha nhận thức đợc đầy đủ tầm quan
trọng của việc bảo hộ bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá. Do đó, nhiều
trờng hợp vi phạm bản quyền sản phẩm nh ăn cắp kiểu dáng, vi phạm xuất xứ
hàng hoá và đặc biệt là vi phạm nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam đã xảy ra trên
thế giới. Vấn đề bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến bản quyền
1


1. Những khái niệm về quyền sở hữu công nghiệp liên quan
đến bản quyền sản phẩm và nh n hiệu hàng hoáã
1.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp liên quan đến bản quyền sản
phẩm
Quyền sở hữu công nghiệp
Điều 780 BLDS định nghĩa: Quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu
cá nhân đối với giải pháp, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hoá, quyền sử dụng đối với tên gọi xuất xứ của hàng hoá và
quyền sở hữu đối với đối tợng khác do pháp luật quy định
Theo công ớc Paris (Điều 1), Sở hữu công nghiệp không những chỉ áp dụng
cho công nghiệp và thơng mại theo đúng nghĩa của nó mà còn cho tất cả các sản
phẩm công nghiệp và sản phẩm tự nhiên
Chủ thể của quyền sở hữu công nghiệp
Tác giả:
Tác giả và đồng tác giả là ngời đã tạo ra các tác phẩm trí tuệ đợc thể hiện
dới dạng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp (Đ779BLDS)
Tác giả là ngời sáng tạo và là chủ thể của quan hệ pháp luật về quyền sở
hữu công nghiệp. Sự sáng tạo của tác giả đợc chứng minh bằng chính nội dung
khoa học của đối tợng sở hữu công nghiệp mà tác giả đã tạo ra.
Chủ sở hữu các đối t ợng công nghiệp
Chủ sở hữu các đối tợng công nghiệp là cá nhân, pháp nhân, các chủ thể
khác đợc cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp hoặc chuyển giao văn bằng bảo hộ
sáng chế, giải giáp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các
đối tợng sở hữu công nghiệp khác.
3

Ng ời có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá
Theo điều 795 của Bộ luật dân sự, cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác đợc
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá là
ngời có thẩm quyền sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ hàng hoá đó.

thức nào trên thế giới. Theo công ớc Paris(1976), trờng hợp một kiểu dáng đợc
trình bày tại một cuộc triển lãm quốc tế đợc công nhận trớc ngày nộp đơn thì
kiểu dáng công nghiệp đó vẫn đợc coi là mới nếu trong vòng sáu tháng kể từ
ngày bắt đầu triển lãm, đơn đăng ký bảo hộ đợc nộp tới cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền.
Tên gọi xuất xứ hàng hóa.
Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nớc, địa phơng dùng để chỉ xuất
xứ của một mặt hàng từ nớc địa phơng đó với điều kiện những mặt hàng này có
các tính chất, chất lợng đặc thù dựa trên điều kiện địa lý độc đáo và u việt, bao
gồm các yếu tố tự nhiên, con ngời hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó.(Đ786 BLDS)
Tên gọi xuất xứ của hàng hoá đợc xem nh là một đối tợng đặc biệt của sở
hữu trí tuệ đợc pháp luật bảo hộ. Tên gọi xuất xứ hàng hoá không phải là nhãn
hiệu thơng mại, tên gọi xuất xứ hàng hoá đợc gắn với những mặt hàng có tính
chất đặc thù xuất phát từ các yếu tố độc đáo của địa lý, con ngời địa phơng mà
tên gọi xuất xứ hàng hoá chỉ dẫn.
Nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ
cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hoá có
thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết nối các yếu tố đó đợc thể hiện bằng một hoặc
nhiều màu sắc. (Đ785 BLDS)
Thực chất nhãn hiệu hàng hoá không phải một hoạt động trí tuệ, nó chỉ là
những dấu hiệu có sẵn trong tài sản chung của cộng đồng, đợc cá nhân, pháp
5

nhân chọn để đánh dấu hàng hoá,dịch vụ của mình. Tuy vậy, việc sử dụng nó-đại
diện cho uy tín của cá nhân, pháp nhân-tạo nên giá trị kinh tế, thơng mại. Nh vậy
nó là biểu trng cho năng lực và thành tích của một cơ sở sản xuất, kinh doanh về
một loại hàng hoá hay dịch vụ.
Hiện nay tình trạng nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam bị vi phạm ở nớc
ngoài là rất nhiều và đây thực sự là vấn đề đợc các doanh nghiệp Việt Nam hiện

cái, con số hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc cách đóng gói.
Nh vậy ta có thể thấy nhãn hiệu hàng hoá theo pháp luật của từng nớc có
thể đợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhng các nớc đều nhấn mạnh vào
đặc tính có khả năng phân biệt. Tơng tự nh vậy, trong đạo luật nhãn hiệu hàng
hoá, nhãn hiệu dịch vụ và tên gọi xuất xứ hàng hóa của Liên bang Nga năm 1995
có quy định: nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ, dới đây gọi chung là
nhãn hiệu hàng hoá, là những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc
dịch vụ tơng ứng của một cá nhân hoặc pháp nhân nhất định với hàng hoá dịch
vụ tơng ứng của cá nhân hoặc pháp nhân khác.
Bộ luật dân sự của Việt Nam cũng có một định nghĩa tơng tự về nhãn hiệu
hàng hoá quy định ở điều 785 nh sau: Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu
dùng để phân biệt hàng hoá dịch vụ cùng loại của các cở sở sản xuất kinh doanh
khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các
yếu tố đó đợc thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
Từ các quy định trên về nhãn hiệu hàng hoá, chúng ta có thể rút ra những
đặc điểm chung về nhãn hiệu hàng hoá nh sau:
- Nhãn hiệu hàng hoá là một dấu hiệu cấu thành bằng từ, ngữ, hình ảnh,
hoặc sự kết hợp nào các yếu tố đó đợc thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
- Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm cả nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ có
khả năng phân biệt sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ của một nhà cung ứng hàng
hoá dịch vụ đó với một nhà cung ứng dịch vụ dùng loại.
7

Hiện nay, khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa trong Hiệp định TRIPS đợc coi
là khái niệm đầy đủ nhất và chung nhất cho các nớc, theo đó, nhãn hiệu hàng hoá
đợc định nghĩa là: Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp của những dấu hiệu, có
khả năng phân biệt hàng hoá dịch vụ của một nhà doanh nghiệp với hàng hóa
dịch vụ của những nhà doanh nghiệp khác. Những dấu hiệu đó có thể là những từ
bao gồm tên ngời, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và sự kết hợp màu sắc cũng nh sự
kết hợp bất kỳ của những dấu hiệu đó.

Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá ở nớc ngoài cũng chính là bảo hộ nhãn hiệu
hàng, nhng việc bảo hộ lại đợc thực hiện ở nớc ngoài, do đó việc bảo hộ sẽ đợc
điều chỉnh bởi pháp luật nớc ngoài.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, các hành vi vi phạm quyền
sở hữu nhãn hiệu hàng hoá xảy ra ngày càng nhiều với nhiều phơng thức, thủ
đoạn đa dạng. Do vậy, các phơng thức bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá cũng trở nên
linh hoạt, đa dạng. Thông thờng, khi bị vi phạm chủ nhãn hiệu hàng hoá có
quyền:
- Yêu cầu ngời đang có hành vi vi phạm phải chấm dứt ngay hành vi vi
phạm hay cạnh tranh không lành mạnh đó. Ngời đã có hành vi vi phạm phải huỷ
bỏ những sản phẩm đã sản xuất do ăn cắp nhãn hiệu hàng hoá, gây hại cho ngời
tiêu dùng và làm giảm uy tín của chủ sở hữu.
- Yêu cầu cơ quan nhà nớc có thẩm quyền buộc ngời có hành vi vi phạm
phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thờng thiệt hại.
Chủ thể có hành vi vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hoá có thể bị xử
lý bằng các biện pháp hành chính, dân sự hoặc thậm chí có thể bị truy tố về tội
hình sự và phải chịu hình phạt tơng ứng
2. Tầm quan trọng của việc bảo hộ bản quyền sản phẩm và nh n hiệuã
hàng hoá khi xuất khẩu hàng hoá ra thị trờng nớc ngoài.
9

Trong tất cả các chơng trong Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ, chơng II về
quyền sở hữu trí tuệ là chơng dài nhất và phức tạp nhất. Điều này cho thấy vấn
đề về sở hữu trí tuệ là vấn đề rất đợc các đối tác nớc ngoài quan tâm. Thế nhng,
do ảnh hởng của chính sách kinh tế bao cấp trong nhiều năm và t tởng cũ vẫn
còn ảnh hởng nặng nề đến cách thức doanh nghiệp Việt Nam tiến hành kinh
doanh, đơn giản và ít chú trọng đến các vấn đề pháp lý liên quan, đặc biệt là về
quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì thế đây có thể coi là nguyên nhân dẫn đến hàng
loạt rắc rối xung quanh vấn đề bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá khi
xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài trong thời gian gần đây. Hiện tợng hàng hoá

định tham gia về mọi khía cạnh (pháp luật, trong đó có quy định về bảo hộ sở
hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lợng, các đối thủ cạnh tranh hiện hữu và tiềm năng).
Nh vậy, rõ ràng là vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ cho sản phẩm, đặc biệt là nhãn
hiệu hàng hoá là một trong các yếu tố phải đợc xem xét cân nhắc với hàng loạt
các yếu tố khác và là cái không thể thiếu trong chiến lợc xâm nhập vào một thị
trờng cụ thể.
Sau khi tạo ra một sản phẩm và để đa sản phẩm đó đến với ngời tiêu dùng,
doanh nghiệp phải trải qua một giai đoạn khó khăn, lâu dài và tốn kém. Đó là
việc quảng bá sản phẩm đó trên thị trờng, làm sao cho khách hàng nghe thấy,
nhìn thấy và nhận biết đợc sản phẩm. Khách hàng quan tâm đến các thông tin về
sản phẩm và tìm hiểu ý nghĩa về thơng hiệu của sản phẩm. Giai đoạn này đòi hỏi
doanh nghiệp phải trải qua một giai đoạn khó khăn và tốn kém để khách hàng
chấp nhận và thích thú với sản phẩm và ghi nhớ về nhãn hiệu hàng hóa cho nhu
cầu mua sắm của mình. Tuy nhiên, khi đã có một thơng hiệu mang tầm quốc tế
và đã đợc nhắc đến nhiều thì để xâm nhập sản phẩm đó vào một thị trờng mới sẽ
ít tốn kém hơn nhiều, doanh nghiệp dờng nh không tốn nhiều chi phí cho hoàn
thiện sản phẩm và dễ đợc nhiều ngời tiêu dùng nhận biết hơn. Tuy nhiên nếu sản
phẩm đã nổi tiếng và có uy tín thì rất dễ bị ăn cắp nhãn mác, kiểu dángcho nên
phải đăng ký bảo hộ cho sản phẩm đó để bảo vệ uy tín của sản phẩm, chống lại
các hành vi giả mạo và cạnh tranh không lành mạnh, gây nhầm lẫn cho ngời tiêu
11

dùng. Trong giai đoạn xâm nhập thị trờng vấn đề bảo hộ cho sản phẩm lại càng
quan trọng vì đây là giai đoạn mà doanh nghiệp đang tập trung mọi nỗ lực để sản
phẩm của mình có thể đợc ngời tiêu dùng ghi nhận. Bất cứ một hình ảnh xấu nào
về sản phẩm trong giai đoạn này cũng có thể gây tác hại rất lớn cho những giai
đoạn sau của vòng đời sản phẩm.
Vấn đề quan trọng mà chúng ta đang quan tâm hiện nay là tình hình các
doanh nghiệp Việt Nam khi xâm nhập hàng hoá sang thị trờng nớc ngoài, đặc
biệt là thị trờng Mỹ thì xảy ra tranh chấp do có công ty nớc ngoài đã đăng kí

nghiệp đã chú ý xây dựng chiến lợc sở hữu trên cơ sở đã nghiên cứu kỹ thị trờng
mà mình đã dự định xúc tiến giao thơng.
2.2. Nhãn hiệu hàng hoá tạo chỗ đứng cho sản phẩm trên thị trờng.
Để xâm nhập một sản phẩm vào một thị trờng mới đã khó khăn nhng để sản
phẩm đó đến đợc với ngời tiêu dùng, đợc ngời tiêu dùng ghi nhớ và sẽ truy cập
đến nhãn hiệu sản phẩm đó khi có nhu cầu mua sắm thì lại càng khó khăn hơn.
Nhãn hiệu hàng hoá đóng góp vai trò rất quan trọng trong việc đa sản phẩm hàng
hoá đi vào lòng ngời tiêu dùng và tạo chỗ đứng cho sản phẩm trên thị trờng.
Một chiến lợc để làm cho nhãn hiệu hàng hoá trở nên tin cậy có thể làm
cho doanh nghiệp chống lại các đối thủ, làm cho quảng cáo thêm tin cậy. Nhãn
hiệu hàng hoá giúp các khách hàng xây dựng đợc lòng trung thành với sản phẩm
công ty và có tác dụng lớn vì nó luôn in sâu vào đầu óc khách hàng.
Trong khi khách hàng tìm những sản phẩm dịch vụ để đáp ứng mong muốn
hay giải quyết các vấn đề của họ, ngời ta đi tìm cái đủ tốt. Vậy thì thơng hiệu
xây dựng lòng tin mà trong vô số lời mời chào đã xuất hiện cái đủ tốt. Nhãn
hiệu hàng hoá cung cấp một hứa hẹn về độ tin cậy về sản phẩm. Ngời ta thờng
nói: Chúng ta đứng sau sản phẩm của chúng ta. Nhãn hiệu truyền tải một cảm
giác tích cực, nhãn hiệu truyền thông trực tiếp ở mức các cảm giác và do đó dễ
đi vào lòng ngời nh một niềm tin mãi mãi.
Thời đại bình đẳng sản phẩm, sản phẩm và dịch vụ nào không hoàn thiện
thì sẽ nhanh chóng bị loại ra khỏi thị trờng. Trong một thị trờng đã bão hoà,
13

những sản phẩm tơng đơng nhau thì ngời tiếp thị phải làm nh thế nào để chọn
một sản phẩm này mà không phải là sản phẩm kia. Thơng hiệu nâng một vấn đề
đơn giản lên thành một lĩnh vực cảm giác và tự biểu lộ. Lúc đó nhãn hiệu đợc
xem nh là một lời hứa hẹn, nó đảm bảo rằng sản phẩm hay dịch vụ đó sẽ sống
cùng với tên.
Ngày 14/8/1996, Trung Quốc cho ban hành Quy định tạm thời về việc
đăng kí nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng trong đó điều 1 của Quy định này nêu rõ:

niềm tin cho ngời tiêu dùng.
Có một điều chắc chắn không thể phủ nhận là doanh nghiệp nào có ý thức
đầu t quảng bá cho nhãn hiệu sản phẩm của họ thì uy tín hình ảnh của sản phẩm
trên thị trờng sẽ đợc củng cố. Sức mạnh của nhãn hiệu sản phẩm sẽ tạo cho sản
phẩm lợi thế cạnh tranh so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh
tranh bằng thơng hiệu là danh tiếng, uy tín dựa trên tổng hợp tất cả sự khác biệt
và những nét đặc trng đã đợc khách hàng chấp nhận. Lợi thế cạnh tranh bằng
nhãn hiệu hàng hoá thể hiện ở chỗ: tính chất độc đáo của sản phẩm có nhãn hiệu
sẽ đợc pháp luật bảo hộ tránh sự sao chép bất hợp pháp, giảm bớt chi phí
Marketing vì mức độ biết đến và trung thành với sản phẩm đã cao. Xây dựng đợc
một nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm còn quan trọng vì nó tạo cho sản phẩm đó
lơị thế khi đàm phán với nhà phân phối, đối thủ cạnh tranh.Chính vì thế, nhãn
hiệu hàng hoá tạo uy tín cho sản phẩm dựa trên chất lợng đã tạo ra sự tin dùng
của ngơi tiêu dùng đối với sản phẩm đó.
Từ thực tế xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam cho thấy đôi điều về vấn đề
này. Nông sản đợc coi là thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam chiếm 1/4 tỷ trọng
kim ngạch xuất khẩu, nhng cho đến nay mặt hàng này chủ yếu xuất khẩu dới
dạng thô, giá trị thấp. Giá cà phê Việt Nam xuất khẩu suy giảm không chỉ vì
nguyên liệu d thừa mà chủ yếu là do cha có thơng hiệu. Theo nhận định của các
công ty cà phê trên thế giới, chất lợng cà phê Việt Nam không thua kém gì cà
phê của Brazil nhng vì không có thơng hiệu nên giá không thể bằng giá cà phê
Brazil vì ngời tiêu dùng trên thế giới cha đợc biết đến cà phê Việt Nam. Theo
15

lời ông Vũ Tiến Lộc, phó chủ tịch phong thơng mại và công nghiệp Việt Nam thì
đầu ra cho sản phẩm Việt Nam đang mở, đây là cơ hội cho các doanh nghiệp
Việt Nam thoát khỏi cảnh lấy công làm lãi nhng để làm đợc điều này doanh
nghiệp phải bán sản phẩm bằng nhãn hiệu sản phẩm của chính mình, có nh thế
mới mở rộng đợc thị trờng xuất khẩu và tăng đợc lợi nhuận. Thực tế này cho
thấy, dù có chất lợng cao rồi nhng để có đợc thị phần thị trờng cũng nh để sản

nhiên bởi đây là hệ thống bán lẻ các sản phẩm nổi tiếng mang nhãn hiệu
Samsung. Nhng các quan chức của tập đoàn này cho biết dù cảm thấy khó khăn
nhng họ vẫn phải làm vì có nh thế họ mới nâng giá trị nhãn hiệu Samsung lên
một tầm cao hơn và thực tế là vì điều này mà Samsung đã tăng đợc 22% giá trị
cho các sản phẩm mang nhãn hiệu Samsung. Vào ngày 6/8/2001, khi hãng
Interbrand công bố nghiên cứu mới nhất của họ về 100 nhãn hiệu hàng đầu thế
giới thì Samsung đã đợc xếp thứ 42, tức là tăng lên 22% so với thời điểm trớc khi
tập đoàn này làm cuộc chia tay với thơng hiệu nói trên.
Một số ví dụ trên cho thấy sự ảnh hởng lẫn nhau giã chất lợng sản phẩm và
uy tín thơng hiệu trong việc tạo ra uy tín cho sản phẩm thông qua sự tin dùng của
khách hàng dành cho sản phẩm đó. Thực tế là nhãn hiệu hàng hoá đóng vai trò
rất quan trọng trong việc tạo ra uy tín cho sản phẩm. Uy tín này đợc đánh giá
bằng sự yêu thích của ngời tiêu dùng.
Tuy nhiên, để giữ đợc uy tín đó đó ngoài việc không ngừng nâng cao chất l-
ợng sản phẩm còn phải chú ý bảo vệ cho sản phẩm của mình khỏi những hiện t-
ợng bị ăn cắp kiểu dáng, nhãn hiệu. Vì bất cứ sự làm nhái, làm giả hay lợi dụng
uy tín của sản phẩm nào cũng làm ảnh hởng rất lớn tới sự a thích của ngơì tiêu
dùng vì không phải ngời tiêu dùng nào cũng phân biệt đợc hàng giả, hàng thật.
Một lần nữa, thông qua tầm quan trọng của nhãn hiệu đối với sản phẩm, sự cần
thiết của bảo hộ quyền sở hữu cho sản phẩm nói chung và nhãn hiệu hàng hóa
nói riêng lại đợc khẳng định.
3. Các vấn đề pháp lý liên quan đến bản quyền về sản phẩm và nh nã
hiệu sản phẩm Việt Nam khi xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài
17

3.1. Pháp luật Việt Nam.
3.1.1. Hệ thống các văn bản pháp luật.
Các văn bản luật
- Bộ luật dân sự năm 1995 (phần thứ 6 chơng II), quy định cụ thể các
vấn đề liên quan đến bảo hộ sở hữu trí tuệ.

- Bản ghi nhớ về hợp tác Sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và ASEAN (09/1995);
Ngoài ra, vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ có liên quan đến bản quyền sản phẩm
và nhãn hiệu hàng hoá còn đợc đề cập trong những hiệp định liên quan đến thơng
mại giữa Việt Nam và các nớc trên thế giới.
3.1.2. Các quy định pháp luật hiện hành.
3.1.2.1. Đối t ợng đ ợc bảo hộ.
Đối tợng thuộc sở hữu công nghiệp có liên quan đến bản quyền sản phẩm
và nhãn hiệu hàng hoá đợc pháp luật Việt Nam bảo hộ là: sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá.
3.1.2.2. Chủ sở hữu các đối t ợng đ ợc bảo hộ
- Chủ thể đợc cấp văn bằng bảo hộ;
- Chủ sở hữu đăng ký quốc tế hàng hoá theo Thoả ớc Madrid đã đợc chấp
nhận bảo hộ tại Việt Nam;
- Cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác đợc chuyển giao một cách thích
hợp quyền sở hữu đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp,
nhãn hiệu hàng hoá.
3.1.2.3. Các loại văn bằng bảo hộ và thời gian có hiệu lực
- Văn bằng bảo hộ sáng chế là văn bằng độc quyền sáng chế, có hiệu lực từ
ngày cấp đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn hợp lệ;
- Văn bằng bảo hộ giải pháp hữu ích là văn bằng độc quyền giải pháp hữu
ích, có hiệu lực từ ngày câp đến hết 5 năm kể từ ngày nộp đơn hợp lệ;
19

- Văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp là văn bằng độc quyền về kiểu
dáng công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày cấp đến 5 năm kể từ ngày nộp đơn hợp
lệ; có thể đợc gia hạn thêm 2 lần, mỗi lần 5 năm;
- Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là Giấy chứng nhận đăng ký nhãn
hiệu hàng hoá, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp
lệ và có thể gia hạn thêm nhiều lần, mỗi lần 10 năm;
3.1.2.4. Quyền đ ợc cấp đối với chủ sở hữu các văn bằng bảo hộ .

trờng hoặc Toà án.
3.2. Quy định pháp luật có liên quan đến bản quyền sản phẩm và nhãn
hiệu hàng hoá trong các điều ớc quốc tế
3.2.1. Công ớc Paris (1883) về Bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp (Việt
Nam tham gia năm 1981)
Đây là công ớc đầu tiên trên thế giới về sở hữu công nghiệp, ban đầu chỉ có
11 nớc tham gia. Từ thời điểm ký kết đến nay, công ớc đã trải qua nhiều lần sửa
đổi tại các hội nghị quốc tế nh hội nghị Lahay (1925), Luân Đôn (1938), Lisbon
(1958), Stockholm (1967), Brucxen (1990), Oasinhton (1991). Hiện nay có
khoảng hơn 100 nớc tham gia công ớc. Công ớc không hạn chế với tất cả các nớc
trên thế giới.
Mục đích của công ớc Paris là xây dựng các quy định khung có lợi cho việc
đăng ký bảo hộ các đối tợng thuộc sở hữu trí tuệ của công dân nớc này đối với
công dân nớc khác thuộc thành viên công ớc. Các nớc tham gia lập thành một
liên minh quốc tế về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Nội dung cơ bản của công ớc
tập trung vào một số vấn đề sau:
3.2.1.1. Nguyên tắc bảo hộ - nguyên tắc đãi ngộ quốc dân.
Điều 2 công ớc xác định rõ nguyên tắc đối xử quốc gia sẽ đợc áp dụng.
Công dân bất kỳ nớc thành viên nào cũng đợc hởng sự bảo hộ quyền sở hữu công
21

nghiệp nh các công dân nớc thành viên khác. Nghĩa là tại một nớc là thành viên
của công ớc, công dân của bất kỳ thành viên nào cũng là thành viên của công ớc
sẽ đợc hởng mọi quyền lợi mà luật tơng ứng của nớc đó quy định hoặc sẽ quy
định cho công dân nớc mình.
3.2.1.2. Quyền u tiên
Công ớc Paris quy định: công dân của nớc thành viên khi nộp đơn hợp lệ
xin đăng ký bảo hộ tại một trong các nớc thành viên của công ớc, hoặc ngời thừa
kế hợp pháp của ngời đó sẽ đợc hởng quyền u tiên nộp đơn đăng ký bảo hộ cho
hàng hoá, sản phẩm đó ở các nớc thành viên trong thời hạn quy định của công -

ớc. Nếu nhãn hiệu đợc đăng ký tại một quốc gia thì chúng không thể bị từ chối
tại một quốc gia khác trừ một số trờng hợp ngoại lệ. Khi một nhãn hiệu đợc đăng
ký đầy đủ trong một quốc gia gốc, nó phải đợc chấp nhận đơn trình và phải đợc
bảo vệ theo nguyên bản trong các nớc đã ký kết. Mọi nớc kí kết phải từ chối
đăng ký và cấm sử dụng Nhãn hiệu mà đợc làm lại, bắt chớc hoặc định tạo ra
nhầm lẫn với một nhãn hiệu đã đợc các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền đánh
giá là có biết đến ở nớc đó.
3.2.2. Thoả ớc Madrid (1891) về đăng ký Nhãn hiệu quốc tế (Việt Nam
tham gia 1981)
Thoả ớc đợc kí năm 1981, sửa đổi tại Hague năm 1952, tại London năm
1957, tại Stockholm năm 1967 và đợc sửa đổi năm 1979. Thoả ớc mở với các
quốc gia là thành viên của Công ớc Paris. Đây là thoả ớc đợc kí kết nhằm điều
chỉnh các vấn đề đăng kí nhãn hiệu hàng hoá ở các nớc đăng kí. Đến nay có
khoảng 40 nớc là thành viên của thoả ớc.
Sự ra đời của thoả ớc Madrit nhằm mục đích quy định các điều kiện thuận
lợi cho việc đăng kí nhãn hiệu hàng hoá tại các nớc thành viên của thoả ớc. Với
mục đích đó thoả ớc quy định những vấn đề nh sau:
Đơn xin bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nộp theo Thoả ớc đợc gọi là Đăng kí
quốc tế. Đơn đăng kí quốc tế phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền của nớc nhận
23

đơn. Nớc nhận đơn là nớc mà ngời nộp đơn là công dân, ngời nộp đơn c trú hoặc
ngời nộp đơn có cơ sở sản xuất kinh doanh tại đó. Theo quy định của của Thoả -
ớc nớc nhận đơn đợc gọi là nớc xuất xứ của đơn.
Ngời nộp đơn phải đăng kí Nhãn hiệu tại Văn phòng Nhãn hiệu Thơng mại
quốc gia hoặc địa phơng là nớc xuất xứ của đơn. Khi làm xong, ngời đó phải
thông qua Văn phòng địa phơng hoặc quốc gia để đăng kí quốc tế. Một đơn đăng
kí quốc tế có hiệu lực khi đợc công bố bởi Văn phòng quốc tế và thông báo với
nớc kí kết. Trong thời hạn một năm, kể từ ngày đăng kí quốc tế, các nớc thành
viên phải đa ra kết luận bảo hộ đối với nhãn hiệu hàng hoá trong đơn quốc tế,

tuệ nói chung thờng chỉ đề ra những tiêu chuẩn chung cho việc bảo hộ. Còn quy
định cụ thể về bảo hộ sở hữu trí tuệ lại nằm trong các văn bản pháp luật tơng ứng
của từng quốc gia. Do vậy, muốn tìm hiểu chi tiết về bảo hộ sở hữu trí tuệ chúng
ta phải xem xét nghiên cứu pháp luật của từng quốc gia. Nh đã nói ở trên, việc
bảo hộ bản quyền sản phẩm và nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam ở nớc ngoài
phụ thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia nơi mà hàng hoá của Việt Nam đợc
xuất khẩu. Mà pháp luật của mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt so với các
quôc gia khác. Chúng ta không thể đi sâu nghiên cứu pháp luật của từng quốc gia
mà chỉ có thể xem xét sơ lợc pháp luật bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến bản
quyền sản phẩm ở một số quốc gia trên thế giới.
Đạo luật đầu tiên về sở hữu trí tuệ ra đời ở Anh từ thế kỷ 12, ngày 16 tháng
12 năm 1949, Anh đã ban hành Điều lệ kiểu dáng công nghiệp DLTW 4/1964 và
luật Sáng chế năm 1977, đồng thời Anh là một trong những quốc gia đầu tiên
của Công ớc Paris. Đối với Mỹ, Chính phủ nớc này vào năm 1952 cũng thông
qua luật Sáng chế và Điều lệ kiểu dáng công nghiệp DLTW-1/1960. Nhật Bản là
nớc có hệ thống Luật về sở hữu trí tuệ rất đầy đủ và tơng đối hoàn hảo.Quốc hội
Nhật đã xây dựng hệ thống Luật về sở hữu trí tuệ khá sớm. Năm 1950, Nhật Bản
ban hành Luật Sáng chế, sửa đổi năm 1970, 1975 và 1978. Ngày 13/4/1959,
Quốc hội Nhật đã thông qua Điều lệ về kiểu dáng công nghiệp DLTW-2/1961.
Còn theo báo cáo của Cục sở hữu công nghiệp Việt Nam, các nớc ASEAN và
25

Trích đoạn Hiệp định giữa CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về quan hệ thơng mạ Nhận thức của doanh nghiệp Việt Nam về vấn để bảo hộ sở hữu trí tuệ liên quan đến bản quyền sản phẩm và nh n hiệu hàng hoá ã Theo báo cáo của ông Trần Việt Hùng, phó cục trởng cục Sở hữu công nghiệp Việt Nam Báo cáo tập huấn nghiệp vụ quản lý sở hữu công nghiệp. Về việc đăng ký bảo hộ. Nâng cao kỹ năng xây dựng nhãn hiệu sản phẩm nhằm tăng khả năng xâm nhập và tạo chỗ đứng cho nhãn hiệu sản phẩm trên thị trờng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status