Lời mở đầu
Ngày 17/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ
chức thương mại thế giới WTO. Đây là một mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn
phát triển mới của Việt Nam. Trong những năm vừa qua chúng ta đã đạt được
nhiều thành tựu lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên với những cơ
hội và thách thức mà WTO đặt ra cho Việt Nam thì chúng ta còn rất nhiều việc
phải làm. Trước tiên và quan trọng nhất đó là phải củng cố lại các ngành được coi
là thế mạnh và truyền thống của Việt Nam. Bên cạnh đó cũng phải xây dựng và
phát triển những ngành nghề mà VN còn chưa có và còn yếu và non trẻ. Các ngành
sản xuất của chúng ta nói chung còn yếu, nhỏ và chưa tập trung. Mối lo đối với các
ngành này không chỉ là làm sao để sản xuất cho tốt, sản phẩm chất lượng cap mà
còn là làm sao để có thể đi vào thị trường, có thể tiêu thụ được sản phẩm. Muốn
tiêu thụ được sản phẩm, họ phải thông qua hệ thống phân phối để sản phẩm đến
được tay người sử dụng. Trong khi đó hệ thống phân phối của Việt Nam vẫn còn
yếu, chủ yếu thông qua các kênh phân phối truyền thống, khối lượng sản phẩm
được lưu thông qua kênh phân phối hiện đại vẫn còn rất ít. Chính vì vậy một vấn đề
đặt ra là làm sao để phát triển được ngành bán lẻ còn rất non trẻ của Việt Nam
trong khi nó đang phải đối mặt với một thực tế là “những người khổng lồ” trong
ngành bán lẻ trên thế giới đang có mặt tại Việt Nam và sắp tới có thêm nhiều
“người khổng lồ” nữa xuất hiện. Đây là một vấn đề cấp bách cần được nghiên cứu,
giải quyết một cách cẩn thận. Với mong muốn có một cái nhìn sâu sắc hơn về
ngành bán lẻ Việt Nam và đề xuất định hướng phát triển mang tính chiến lược cho
các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam. Chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Định
hướng phát triển cho các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ ở Việt Nam hiện
nay”. Do khả năng hiểu biết còn nhiều hạn chế chắc chắn đề tài sẽ còn nhiều thiếu
sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến bổ sung để đề tài
được hoàn thiện hơn.
1
I. Lý luận chung về bán lẻ:
Bán lẻ là một loại trung gian thương mại đóng vai trò quan trọng trong lưu
2
như: đặt hàng qua thư, máy bán hàng, mua hàng qua máy tính, qua điện thoại và
bán lẻ tại nhà.
Theo hình thức sở hữu chia ra thành: Bán lẻ độc lập, chuỗi tập đoàn, hợp tác
xã bán lẻ, hợp tác xã tiêu thụ và các đại lí độc quyền kinh tiêu,
- Của hàng độc lập do một cá nhân làm chủ và tự quản lí.
- Chuỗi tập đoàn thường gồm nhiều cửa hàng bán lẻ thuộc cùng một chủ sở
hữu, bán những mặt hàng tương tự như nhau và việc mua bán có sự điều hành tập
trung.
- Hợp tác xã bán lẻ gồm một số các nhà bán lẻ độc lập liên kết lại và thành
lập một tổ chức thu mua và có tổ chức tập trung và điều hành các công việc bán
hàng và quảng cáo thống nhất.
- Hợp tác xã tiêu thụ là tổ chức bán lẻ do chính khách hàng lập ra.
- Các đại lí độc quyền kinh tiêu là những liên kết theo hợp đồng giữa các
bên chủ quyền (nhà sản xuất, nhà bán bán buôn hay tổ chức dịch vụ) và bên nhận
quyền (các nhà bán lẻ) muốn mua quyền sở hữu và quyền kinh doanh sản phẩm.
Xét theo lĩnh vực phân phối ta có thể phân chia bán lẻ thành hai hình thức
kênh chính đó là: kênh phân phối truyền thồng và kênh phân phối hiện đại. Trong
đó kênh phân phối truyền thống bao gồm: Các chợ, cửa hàng thực phẩm, người bán
dạo… Đây là kênh phân phối của các cá nhân, tư nhân với hình thức kinh doanh
nhỏ lẻ. Còn kênh phân phối hiện đại thì bao gồm: Các trung tâm thương mại, các
siêu thị, mạng lưới cửa hàng tiện lợi, khu thương mại-dịch vụ, trung tâm hội chợ-
triển lãm… Đây là hình thức bán lẻ hàng hoá theo loại hình thương mại hiện đại.
Như vậy có nhiều cách phân loại hệ thống bán lẻ theo các tiêu thức khác
nhau, tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu chúng tôi đi sâu vào phân
tích bán lẻ theo lĩnh vực phân phối.
1.1. Vai trò của bán lẻ
Bán lẻ đóng vai trò quan trọng trong kênh phân phối, nó là cầu nối giữa nhà
sản xuất và người tiêu dùng. Nói đến vai trò của bán lẻ cũng chính là ta đang nói
tới vai trò của các nhà bán lẻ, những chủ thể của tác động, nhờ có các nhà bán lẻ
Khách
hàng
Nhà sản
xuất
Nhà sản
xuất
Nhà sản
xuất
Khách
hàng
Khách
hàng
Khách
hàng
Nhà bán lẻ
hơn so với khi tự nó làm lấy. Vì vậy mặc dù lợi nhuận của mình sẽ bị chia sẻ nhưng
các nhà sản xuất vẫn sử dụng các nhà bán lẻ trong kênh phân phối của mình.
Bên cạnh đó, các nhà bán lẻ cũng đóng một vai trò quan trọng đối với khách
hàng. Khi có các nhà bán lẻ tham gia phân phối hàng hoá thì khách hàng được
hưởng rất nhiều lợi ích như: Họ có thể mua được hàng hoá một cách nhanh chóng,
chủng loại hàng hoá đa dạng, được hưởng các dịch vụ hậu mãi phong phú…Như
vậy sẽ không còn khác biệt về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa nhà sản
xuất và người tiêu dùng. Mặc dù vẫn còn có những hạn chế: Thông tin phản hồi từ
phía khách hàng đến nhà sản xuất đôi khi không được phản ánh đúng, nhà sản xuất
phải bỏ ra một khoản chi phí cho các nhà bán lẻ. Tuy nhiên sự có mặt của các nhà
bán lẻ như là một nhu cầu tất yếu, làm cho cung và cầu thị trường thị trường phù
hợp nhau một cách trật tự và có hiệu quả. Giúp doanh nghiệp đưa sản phẩm đến
người tiêu dùng với đùng mức giá mà họ có thể mua, đúng chủng loại mà họ cần,
đúng thời gian và địa điểm mà họ yêu cầu.
1.2 Thị trường bán lẻ
hoá xã hội, môi trường nhân khẩu học. Còn các yếu tố thuộc môi trường ngành là:
Các doanh nghiệp bán lẻ tiềm ẩn, nhà sản xuất, sản phẩm thay thế, các doanh
nghiệp bán lẻ trong ngành và người tiêu dùng. Các yếu tố này có tác động lớn đến
hoạt động bán lẻ của doanh nghiệp. Nó mang lại những cơ hội và cả những thách
thức cho doanh nghiệp. Chính vì thế doanh nghiệp cần phải có những phân tích
đánh giá để có thể tận dụng được những cơ hội, đương đầu với thách thức từ đó có
được những hướng đi hợp lí để phát triển tốt hơn.
II- Thực trạng ngành bán lẻ Việt Nam hiện nay
1. Tổng quan về thị trường bán lẻ Việt Nam
Trong thị trường bán lẻ Việt Nam cả nước mới có khoảng 200 siêu thị, 32 trung
tâm thương mại, 1000 cửa hàng nhỏ bán hàng tự chọn. Với các siêu thị có vốn đầu
tư trong nước như Coopmart(15 siêu thị); Siêu thị Sài Gòn, Intimex (2 siêu thị)…
Và các siêu thị có vốn đầu tư nước ngoài như : Metro cash&carry (8 trung tâm
phân phối); Bourbon(Big C 10 siêu thị); Parkson(10 trung tâm thương mại). Xét về
mối tương quan giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài
còn nhiều chênh lệch. Khi mà các nhà phân phối trong nước được đánh giá là còn
nhiều điểm yếu cả về vốn, hậu cần, tính chuyên nghiệp. Trong khi các đối thủ nước
6
ngoài với kinh nghiệm quản lý, hậu cần hiện đại, đặc biệt là tiềm lực tài chính rồi
dào. Một vài ví dụ là Metro (một trong 5 nhà phân phối hàng đầu thế giới), hay
Tesco(Anh) một tập đoàn bán lẻ đứng thứ 2 thế giới với doanh số gần 400 tỷ USD.
Bên cạnh đó còn phải kể đến Walmart và Carrefoul hai nhà bán lẻ nhất nhì thế giới.
Điều đó khẳng định cường độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường bán lẻ
Việt Nam. Mà quan trọng là cạnh tranh giữa các nhà bán lẻ trong nước và các nhà
bán lẻ nước ngoài.
Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, thị trường bán lẻ ở Việt Nam
cũng đang trên đà phát triển. Thị trường bán lẻ Việt Nam được giới kinh doanh
đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng. Với doanh thu mỗi năm đạt hơn 2 tỷ
USD, tốc độ tăng trưởng đến 30 %/năm, đặc biệt tại khu vực phía nam tới 85%
như giữa Saigon coop với Pepsi cola.
Thứ ba là việc các nhà phân phối hiện tại và các nhà phân phối mới đang đầu
tư mạnh mẽ vào thị trường bán lẻ trong nước. Vào đầu tháng 12/2006 chỉ trong
vòng một tuần đã có nhiều siêu thị có quy mô lớn khai trương. Metro cash&carry
mở trung tâm thứ 7 với vốn đầu tư 15 triệu USD, Coop mart khai trương mô hình
kinh doanh mới: Siêu thị kết hợp với trung tâm mua sắm, giải trí, ăn uống. Vissan
thiết lập hệ thống siêu thị mini từ hơn 30 cửa hàng có sẵn. Tập đoàn chuyên kinh
doanh giày dép và phụ kiện trang sức của Mỹ Nine West đã khai trương cửa hàng
đầu tiên tại Hà Nội.
Như vậy với việc Việt Nam sắp phải mở cửa hoàn toàn thị trường cho các
nhà phân phối nước ngoài, cùng với sức hấp dẫn của thị trường bán lẻ Việt Nam, sẽ
hứa hẹn nhiều thành công, nhiều cơ hội và cả thách thức đối với các doanh nghiệp
trong nước và cả các doanh nghiệp nước ngoài.
2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam
2.1. Các yếu tố vĩ mô
2.1.1. Các yếu tố kinh tế
Môi trường kinh tế là một yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường bán
lẻ của Việt Nam đặc biệt là hệ thống bán lẻ hiện đại. Để đánh giá những ảnh hưởng
này chúng ta cần chú ý tới những yếu tố của môi trương vĩ mô như:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng tăng nhanh là là một công cụ kinh tế được lượng hoá trong
quá trình tính toán dùng để đánh giá mức độ phát triển và tiềm năng kinh tế của
mỗi quốc gia. Khi tốc độ tăng trưởng cao, những tác động của nó là rất lớn trên mọi
phương diện của đời sống kinh tế và xã hội, đời sống nhân dân được cải thiện, nhu
cầu ngày càng tăng cao đặc biệt là trong các hoạt động tiêu dùng. Do vậy có thể
thấy khi tốc độ ngày càng cao đó chính là một dấu hiệu tốt cho các doanh nghiệp
bán lẻ khi quyết định tham gia vào thị trường ngành tìm kiếm cơ hội và lợi nhuận.
8
Theo thống kê tốc độ tăng trưởng kinh tế thực tế năm 2001 đến năm 2006 ta có:
hàng ngày. Khi đó, những nhu cầu không chỉ là “ăn no mặc ấm” nữa mà thay vào
đó là nhu cầu: “ăn ngon mặc đẹp” và cao hơn nữa. mức gia tăng của nhu cầu tỉ lệ
thuận với mức thu nhập bình quân của mỗi người. Đây chính là một cơ hội tốt cho
các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá tiêu dùng của Việt Nam. Ngành bán lẻ là một
ngành mà cơ hội của nó là rất lớn trong thị trường này. Việt Nam trong giai đoạn
9
hiện nay chúng ta thấy nó cũng không nằm ngoài vòng quay của thế giới, thu nhập
cuả người dân cũng ngày càng được nâng cao, đời sống của người dân cũng ngày
càng được cải thiện:
Theo kết quả khảo sát, mức sống hộ gia đình năm 2004 do Tổng cục Thống kê
tiến hành, trong năm 2003- 2004, thu nhập bình quân trong cả nước đạt 484 nghìn
đồng/người/tháng, tăng 36% so với năm 2001-2002, trong đó 4 vùng có mức tăng
cao là: Tây Nguyên (60,1%), Đông Bắc Bộ (42,5%), đồng bằng sông Hồng,
(38%)Tây Bắc (37,1%).
Tính chung thời kỳ 2002-2004, mức tăng thu nhập là 16,6%, nếu loại trừ yếu tố
tăng giá thì thu nhập thực tế thời kỳ này 11%, trong đó thu nhập bình quân ở khu
vực thành thị đạt 795.000VND/người/tháng, khu vực nông thôn đạt
377.000VND/người/tháng.
Năm 2005 mức thu nhập bình quân đầu người đạt trên 640USD/người/năm
(tương đương với khoảng 10triệu đồng), năm 2006 mặc dù chịu nhiều thiệt hại do
thiên tai dịch bệnh đặc biệt là dịch cúm gia cầm nhưng thu nhập bình quân cả nước
vẫn đạt được mức 630USD/người/năm. Mức thu nhập xu thế ngày càng tăng qua
các năm đặc biệt trong những năm gần đây.
Theo ước tính năm 2007 nền kinh tế Việt Nam có rất nhiều triển vọng đáng chú
ý nhất là việc ra nhập WTO sẽ tạo nhiều cơ hội cho tăng trưởng và xuất khẩu, GDP
có thể đạt 970tỷ USD và cùng với nó thu nhập bình quân sẽ tăng cao có thể lên đến
715USD/người/ năm tăng 80USD so với năm 2006.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, đi cùng với nó là sự phân chia giàu nghèo tỉ lệ
hộ giàu có ngày càng tăng. Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm thu nhập ngày
khuôn khổ hiệp ước đã cam kết với các nước và WTO. Chúng ta có 3 năm để thực
hiện đầy đủ cam kết với WTO, khoảng thời gian này tuy không nhiều nhưng cũng
có thể đủ để các doanh nghiệp Việt Nam hoàn tất khâu chuẩn bị, xây dựng được hệ
thống bán lẻ đủ mạnh để đối phó với các tập đoàn bán lẻ của nước ngoài đang
chuẩn bị xâm nhập thị trường Việt Nam. Tuy nhiên một vấn đề mà các doanh
nghiệp bán lẻ trong nước đang lo ngại đó chính là sự thiếu thống nhất và đồng bộ
trong việc ra quyết định cũng như quản lý hành chính giữa các bộ, ban ngành và địa
phương. Hiện nay Bộ thương mại phụ trách về ngành bán lẻ nhưng việc ra quyết
định lại phụ thuộc vào Bộ kế hoạch & đầu tư, trường hợp tương tự cũng xảy ra khi
chính quyền địa phương không thực hiện đúng, đầy đủ các chỉ thị của thủ tướng
chính phủ. Đơn cử như trường hợp: ông Bộ trưởng bộ Kế hoạch đầu tư Võ Hồng
Phúc mới ký quyết định cấp phép đầu tư cho một số tập đoàn bán lẻ nước ngoài tại
những vị trí có thể nói là “rất đẹp” trong khi ông bộ trưởng bộ thương mại Trương
Đình Tuyển đang đi công tác tại nước ngoài. Những bất cập này cần phải được
khắc phục nhanh chóng để các doanh nghiệp bán lẻ trong nước tạo được lợi thế
nhất định trước khi các tập đoàn bán lẻ có 100% vốn nước ngoài chính thức vào
Việt Nam. Ở một số nước đi trước như: Trung Quốc, Hàn Quốc chỉ cho phép các
tập đoàn bán lẻ nước ngoài xây dựng mạng lưới của mình tại những nơi cách xa
trung tâm thành phố, những vị trí trọng điểm, đông dân cư được ưu tiên cho các
nhà bán lẻ nội địa. Và chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm này.
Nhìn chung hệ thống pháp luật của nước ta còn khá nhiều hạn chế. Hành lang
pháp luật chưa thực sự tạo những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
việc cấp phép hoạt động hay trong những trường hợp xảy ra tranh chấp. Nó là một
nhân tố làm hạn chế các doanh nghiệp đầu tư và cạnh tranh một cách công bằng.
Các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần phải lưu tâm đến những điều này, hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật nhưng cũng cần đề phòng các doanh nghiệp, tổ
chức khác lợi dụng sơ hở của pháp luật để ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.
11
2.1.3. Các yếu tố nhân khẩu học
chiến lược kinh doanh).
12
Đối thủ tiềm
ẩn
Khách hàng
Nhà cung
cấp
Sản phẩm
thay thế
Đối thủ hiện
tại
2.2.1. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp ở đây bao gồm các nhà sản xuất trong nước và các nhà sản
xuất ở nước ngoài ( hàng ngoại nhập )
Các nhà cung cấp trong nước: Hiện nay số lượng các nhà sản xuất trong
nước là khá lớn đặc biệt là các nhà sản xuất sản phẩm tiêu dùng. Tuy nhiên quy mô
và chất lượng sản phẩm hàng hoá là chưa cao. Mới chỉ có rất ít các sản phẩm đạt
tiêu chuẩn quốc tế. Chính vì thế hiện nay xảy ra hiện tượng các sản phẩm hàng hoá
của Việt Nam đang gặp khó khăn trong việc đưa các sản phẩm của mình vào trong
các giỏ hàng hoá của các siêu thị lớn, các trung tâm thương mại của nước ngoài
như Metro, Big C…Ban đầu khi mà các đại gia này mới nhảy vào thị trường Việt
Nam, họ dễ dàng chấp nhận các sản phẩm nội địa với những điều kiện dễ dàng,
nhưng sau đó ngày một khó hơn. Ví dụ như đòi hỏi mức chiết khấu cao, thời hạn
thanh toán dài, khắt khe hơn trong lựa chọn hàng…Khi Việt Nam thực hiện AFTA,
mức thuế giảm mạnh, hệ thống phân phối nước ngoài có xu hướng nhập hàng từ
các nước ASEAN nhiều hơn.Vì thế, nguy cơ hàng trong nước không thể chen chân
vào các siêu thị nước ngoài là có thật. Với sức ép lớn như vậy các nhà sản xuất
trong nước cần phải có cái nhìn tỉnh táo hơn trong hướng đi dài hạn của mình. Một
giải pháp đặt ra là họ phải hợp tác với các nhà phân phối trong nước. Xét về mặt
đủ). Điều này gây áp lực lớn đến các nhà phân phối bởi nếu tự xây dựng mới địa
điểm kinh doanh đòi hỏi chi phí rất lớn, chi phí dành cho các khoản khác sẽ bị hạn
chế, không tạo ra được lợi thế cạnh tranh. Để tránh áp lực này, một số nhà bán lẻ
như G7 mart đã chọn giải pháp liên kết cải tạo các cửa hàng bán lẻ đủ tiêu chuẩn để
tạo nên một chuỗi các cửa hàng khổng lồ.
Như vậy đánh giá chung áp lực từ phía nhà cung cấp là trung bình và không thực
sự đáng lo ngại với các nhà bán lẻ Việt Nam hiện tại
2.2.2. Đối thủ tiềm ẩn
Đối thủ tiềm ẩn là những doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng
trong tương lai có thể tham gia trong ngành. Càng nhiều hãng mới gia nhập ngành,
các doanh nghiệp sẽ càng gặp khó khăn trong việc nắm giữ thị phần và tạo lợi
nhuận. Do đó mức độ nguy hiểm từ sự gia nhập của đối thủ tiềm ẩn càng cao, mối
đe doạ tới lợi ích của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại. Chính vì vậy, thông tin
về các đối thủ tiềm ẩn đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp hoạch định chiến lược.
Hiện trong ngành xuất hiện những đối thủ tiềm ẩn đó là các tập đoàn bán lẻ lớn
của nước ngoài như: Wal-mart, carrefour, Tesco….Bên cạnh đó có những đối thủ
tiềm ẩn ở trong nước như FPT…
Có thể đánh giá chung về các đối thủ tiềm ẩn đến từ nước ngoài như sau: Đây là
các tập đoàn bán lẻ đa quốc gia. Họ có tiềm lực mạnh về tài chính, thương hiệu,
phương pháp quản lý và bán hàng tốt, có kinh nghiệm trong việc đầu tư ra nước
ngoài.
Để có thể đánh giá đầy đủ và toàn diện áp lực từ phía đối thủ tiềm ẩn chúng ta
đánh giá trên 3 phương diện:
Sức hấp dẫn của ngành ( sức hấp dẫn càng lớn thì áp lực càng cao )
14