Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần - Chi nhánh Hà Nội - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Tất cả các doanh nghiệp, dù kinh doanh trong bất cứ một lĩnh vực
nàocũng đều có một điểm chung, đó là khả năng gặp phải rủi ro. Không một
doanh nghiệp nào có thể luờng trước được các vẫn đề ngoài dự kiến hay đoán
trước được các sự cố. Việc duy nhất các doanh nghiệp có thể làm là hạn chế
các rủi ro cá thể xảy ra.
Đối với ngân hàng, là một loại doanh nghiệp kinh doanh một thứ hàng
hoá đặc biệt, tiền tệ, khả năng gặp phải các loại rủi ro lại càng cao. Do vậy,
vấn đề hạn chế rủi ro của ngân hàng thương mại lại càng được quan tâm. Và
trong đó, tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuân nhất, chiếm tỷ trọng
cao nhất trong hoạt động ngân hàng, đồng thời, đây cũng là hoạt động chứa
đựng nhiều rủi ro nhất.
Trước tình hình đó, với những gì đã được học trên trường, cùng với kiến
thức có được trong đợt thực tập vừa qua tai ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi
nhánh Hà Nội, em quyết định chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân
hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hà Nội” để nghiên cứu để qua đó nhận
thức được tầm quan trọng trong quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM nói
chung và Ngân hàng TMCP Sài Gòn nói riêng.
Em xinh chân thành cảm ơn GS.TS Nguyễn Văn Nam đã hướng dẫn,
giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Kết cấu bài chuyên đề bao gồm ba phần chính:
Chương I: Tín dụng và rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –
Chi nhánh Hà Nội
Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài
Gòn và một số kiến nghị
1
CHƯƠNG 1
TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tín dụng
1.1.1 Khái niệm chung về tín dụng

nói riêng và của các trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại
rủi ro cao nhất. Hình thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương mại là
cho vay ngắn hạn có đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá,
nguyên nhiên vật liệu, sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như
cho vay thế chấp bằng bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ có
giá, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế chấp. Các NHTM hiện nay
không ngừng đa dạng các hình thức tín dụng từ cho vay ngắn, trung và dài
hạn, bảo lãnh cho khách hàng.
Như vậy, tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn lẫn
lãi sau một thời gian nhất định giữa ngân hàng và các chủ thể còn lại của nền
kinh tế.
1.1.2 Phân loại
Có rất nhiều cách để phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của
khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân
loại:
Theo thời gian, tín dụng được phân chia thành tín dụng ngắn, trung và
dài hạn.
Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng, vì thời
gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như
khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được phân thành:
Tín dụng ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn dưới 1 năm, để tài trợ
3
cho tài sản lưu động.
Tín dụng trung hạn là những khoản vay thông thường từ 1 đến 5 năm, tài
trợ cho các tài sản cố định như máy móc thiết bị…
Tín dụng dài hạn là những khoản vay từ 5 năm trở lên để tài trợ cho tài
sản cố định có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài.
Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (nagỳ, tháng, năm) và ghi
trong hợp đồng tín dụng, là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho

kinh doanh) không có hoặc không đủ.
Theo tài sản đảm bảo, tín dụng được chia thành tín dụng có và không có
tài sản đảm bảo.
Tín dụng có tài sản đảm bảo là việc ngân hàng cho khách hàng vay vốn
dựa trên cam kết người nhận tín dụng sẽ dùng tài sản đảm bảo để trả nợ trong
một số trường hợp.
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: có thể được cấp cho khách hàng có
uy tín, thường làm ăn thường xuyên có lãi hoặc các khoản vay của các tổ chức
lớn hay theo chỉ định của Chính phủ.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay
Cho vay sản xuất – lưu thồng hàng hoá: Là loại cho vay nhằm cung cấp
cho các doanh nghiệp,hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ và cá nhân để trực tiếp tiến
hành sản xuất hàng hoá và kinh doanh.
Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay hộ gia đình, cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như mua sắm, sửa chữa nhà và các tư liệu tiêu dùng.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn được phân loại theo ngành kinh tế
(công, nông nghiệp…), theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố
định), theo tính chất rủi ro của khoản tín dụng (tín dụng lành mạnh, tín dụng
có vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi…).
Việc phân loại tín dụng cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi,
5
gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn
mức và chính sách mở rộng phù hợp.
1.2.3 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính, kinh doanh
một loại hàng hoá đặc biệt là tiền tệ. Vì thế, dù phát triển theo bất kỳ hướng
nào, ngân hàng cũng luôn phải đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lợi. Và
hoạt động tín dụng cũng phải dựa trên những nguyên tắc nhất định để đảm
bảo không gây ra rủi ro và đồng thời vẫn mang lại lợi nhuận cao nhất cho
ngân hàng. Các nguyên tắc này được cụ thể hoá trong các quy định của Nhà

hàng luôn tìm cách duy trì, mở rộng tín dụng thông qua việc đa dạng hoá các
loại hình dịch vụ. Mặt khác, hoạt động tín dụng còn có tác động đến những
hoạt động kinh doanh khác hay uy tín nên ngân hàng cũng phải quan tâm đến
chất lượng tín dụng để tránh những ảnh hưởng xấu. Như vậy, ngay đối với
bản thân ngân hàng, tín dụng đã chiếm một vai trò quan trọng, quyết định tới
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế, tín
dụng ngân hàng lại thể hiện một vai trò rõ nét hơn.
Thứ nhất, với chức năng là một công cụ tài trợ, tín dụng góp phần đáp
ứng các nhu cầu về vốn để duy trì và mở rộng sản xuất – kinh doanh.
Ở bất kỳ doanh nghiệp hay cá nhân nào thì vấn đề thừa thiếu vốn luôn
luôn xảy ra. Thông qua tín dụng góp phần giúp doanh nghiệp có thể tạo
nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh để quy trình sản xuất được diễn
ra một cách liên tục.
Thứ 2, góp phần ổn định nền kinh tế và bình ổn giá cả
Với chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đã góp
phần làm giảm khối lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, nhất là tiền mặt
trong tay các tầng lớp dân cư, qua đó làm giảm áp lực của lạm phát, góp phần
làm ổn đinh tiền tệ.
Mựat khác, do cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các
7
doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh… làm cho sản xuất
ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hoá dịch vụ ngày càng nhiều đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính vì thế mà tín dụng góp phần làm ổn
định thị trường giá cả trong nước.
Thứ ba, tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn
định trật tự xã hội.
Tín dụng có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, sản xuất hàng hoá
dịch vụ ngày càng gia tăng, thoả mãn nhu cầu đời sống cho người lao động.
Bên cạnh đó, do vốn tín dụng đã tạo ra khả năng trong việc khai thác các tiềm
năng sẵn có trong xã hội về tài nguyên thiên nhiên, lao động, về đất, rừng…

của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống nhất là lĩnh vực kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế rủi ro được coi là những tổn thất mà các doanh
nghiệp phải chấp nhận khi kinh doanh. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín
dụng ngân hàng cũng phải chấp nhận điều đó. Và thực tế đã chứng minh rằng
không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như kinh
doanh tiền tệ.
Tóm lại: rủi ro là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của con người.
Trong kinh doanh rủi ro tồn tại khá phổ biến và rất phức tạp bởi vì thực tiễn
đã chứng minh rằng bất kì hoạt động kinh doanh nào đem lại lợi nhuận đều có
rủi ro, và rủi ro càng cao thì lợn nhuận ký vọng đạt được càng lớn.
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt - tiền tệ, và tài sản
của ngân hàng chủ yếu là các động sản tài chính, do vậy, hoạt động trong lĩnh
vực ngân hàng chứa đựng rất nhiều rủi ro gây nên những tổn thất không mong
muốn. Những rủi ro chính mà các NHTM thường phải đối mặt là:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro hối đoái
9
Rủi ro lãi suất
Rủi ro thanh khoản
Các rủi ro khác…
Trên thực tế, mỗi loại rủi ro này xảy ra có thể đưa tới một loại rủi ro
khác, và các loại rủi ro có mối liên quan chặt chẽ với nhau trong hoạt động
kinh doanh NHTM.
1.2.1 Rủi ro tín dụng
Các NHTM luôn luôn tìm cực đại lợi nhuận thông qua việc tìm kiếm
những lợi tức cao nhất có thể có ở các khoản cho vay và đầu tư, đồng thời
cũng tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro trong các khoản tín dụng đã cấp. Đối
với hầu hết các NHTM, dư nợ thường chiếm 50-60% tổng tài sản và có thu
nhập từ hoạt động tín dụng chiếm từ 60-70% tổng thu nhập của ngân hàng.
Do vậy, rủi ro tín dụng là loại rủi ro gắn liền với hoạt động của NHTM.

yếu kém; biến động khả năng kinh doanh; vị trí của doanh nghiệp thay đổi;
mối quan hệ với đối tác…
+ Rủi ro từ nguyên nhân khác: vì khâu quản lý của ngân hàng Nhà
nước, chế độ chính sách, môi trường, biến động kinh tế…
1.2.3 Các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng tại ngân hàng
1.2.3.1 Hệ số thu nợ
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự an toàn của đồng
vốn khi cho vay. Hệ số này biểu hiện mối quan hệ giữa doanh số thu nợ và
doanh số cho vay. Nghĩa là trên 100 đồng vốn mà ngân hàng cho vay thì sẽ có
bao nhiêu đồng được thu hồi lại. Hệ số này càng lớn thì độ an toàn càng cao
và công tác thu nợ đang có sự chuyển biến tốt, rủi ro tín dụng thấp.
Doanh số thu nợ
Hệ số thu nợ = -------------------------------- * 100%
Doanh số cho vay
11
1.2.3.2 Vòng quay vốn tín dụng
Ở bất cứ doanh nghiệp nào, khi hoạt động kinh doanh đều tính đến hiệu
quả kinh tế. Điều đó được thể hiện qua vòng vay vốn tín dụng. Vòng quay
càng nhanh sẽ đủ chi phí bù đắp cho kỳ kinh doanh kế tiếp, do đó hiệu quả sử
dụng càng cao. Chỉ tiêu này được tính dựa trên tỷ lệ giữa doanh số thu nợ và
tổng dư nợ. Nó còn dùng để phản ánh hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng = -----------------------------
Tổng dư nợ
1.2.3.3 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Nợ quá hạn phát sinh khi người đi vay không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả
nợ đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn như trong hợp đồng tín dụng cho ngân hàng.
Nợ quá hạn là biểu hiện đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Việc phát
sinh nợ quá hạn là điều khó có thể tránh khỏi, nhưng nếu nợ quá hạn phát sinh

của các NHTM khi rủi ro tín dụng xảy ra là:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi có một
khoản nợ bị coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay, một
phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả
lãi cho nguồn huy động, một phần do các chi phí quản lý, giám sát phát sinh.
Mặt khác, nếu các khoản nợ quá hạn trở thành nợ khó đòi hoặc nợ mất vốn,
thì việc xử lý tài sản đảm bảo cũng luôn gặp rất nhiều khó khăn về pháp lý và
định giá nên trường hợp ngân hàng có thể thu hồi được nợ khi phát mại tài
sản là rất khó xảy ra.
Thứ hai, rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Tỷ
lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao không chỉ làm giảm thu nhập của ngân
hàng mà còn làm giảm nguồn vốn, đồng thời làm giảm khả năng thanh khoản
13
của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng buộc phải vay trên thị trường liên ngân
hàng với lãi suất cao, bởi huy động từ tiền gửi dân cư thường mất rất nhiều
thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài dẫn tới việc người tiết kiệm rút tiền hàng
loạt sẽ buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản.
Thứ ba, rủi ro tín dụng làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân
hàng. Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn
khác nhau, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ bị giảm đi nghiêm
trọng. Hơn nữa tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cao cũng là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá không tốt về tình hình hoạt động của ngân hàng. Điều này
sẽ ảnh hưởng lớn đến tâm lý đối tác của ngân hàng, dẫn đến việc huy động
vốn trở nên khó khăn hơn và gặp nhiều trở ngại trong việc cạnh tranh với các
ngân hàng khác.
1.2.5.2. Tác động của rủi ro tín dụng đối với nền kinh tế
Hoạt động của các NHTM có tính chất như là cầu nối và có liên quan
đến nhiều ngành nghề và các thành phần khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy,
khi một ngân hàng bị phá sản, nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại
trong xã hội. Trước tiên là các ngân hàng khác, bởi mỗi ngân hàng là một mắt

thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao. Hơn nữa, sau
khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để
sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc
theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu các
cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các
cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo đức
trong cho vay và thu nợ. Ngoài ra, các cơ quan cấp trên không quan tâm đến
thực trạng tín dụng của ngân hàng thì sẽ không có những chỉ đạo kịp thời để
ngăn ngừa và xử lý rủi ro xảy ra.
Thứ ba, ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư. Một công cụ
15
luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới
là quản trị danh mục đầu tư. Quản trị danh mục làm cân đối và kiềm chế rủi
ro bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị
trường, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau.
Nhiều chuyên gia ngân hàng tin rằng đa dạng hoá là giải pháp phòng ngừa rủi
ro tín dụng hữu hiệu nhất. Mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng của việc đa dạng
hoá danh mục đầu tư, song rất nhiều ngân hàng chỉ cho vay một hoặc hai
ngành hoặc chỉ cho vay một vài doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ.
Một danh mục đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt
hàng là rất nguy hiểm vì không ngành nào là không có rủi ro.
Thứ tư, định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng. Về
cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức đảm bảo bù đắp
được chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, phần lợi nhuận mong muốn và
phần bù đắp rủi ro của khoản vay. Khách hàng được đánh giá có mức độ rủi
ro càng cao, phần bù rủi ro càng lớn. Nhưng vì cạnh tranh nên một số ngân
hàng có thể chấp nhận mức giá cho vay thấp, thậm chí chỉ đủ chi phí vốn đầu
vào và chi phí quản lý, không tính đến phần bù rủi ro. Việc làm đó trong dài
hạn không những làm giảm lợi nhuận mà còn làm tăng tính rủi ro trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng.

của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập nhật được những thông tin
đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân hàng thất thoát vốn khi cho vay.
Thứ hai, những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế
ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng
gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên khi xuất
hiện những biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào
đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất
lớn. Nhiều người vay có thể thích ứng và vượt qua khó khăn đó, nhưng cũng
17
có rất nhiều người bị đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh thua lỗ nên khả
năng trả nợ vốn vay ngân hàng không được đảm bảo.
Thứ ba, sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật. Sự thiếu
nhất quán trong các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không
nhỏ tới ngân hàng cũng như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân
hàng. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ không ổn định khi có những
thay đổi trong quy định về thuế, vốn..,cũng như hoạt động tín dụng của ngân
hàng cũng bị tác động nhiều bởi những văn bản luật về tài sản đảm bảo, dự
trữ, trích lập…Như vậy, các chính sách kinh tế, pháp luật không hoàn chỉnh
cũng gây khó khăn có doanh nghiệp về khả năng trả nợ, cũng như đe doạ đến
sự an toàn của ngân hàng trong cho vay.
18
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP
SÀI GÒN (SCB – CHI NHÁNH HNCB – CHI NHÁNH HN)
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh
Hà Nội
2.1.1 Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn
Ngân hàng TMCP Sài Gòn (tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô) được
thành lập vào năm 1992 theo Giấy phép hoạt động số 00018/NH – GP, Giấy
phép thành lập số 308/GP – UB, Đăng ký kinh doanh số 4103001562. Trải

khu vực:
Miền Bắc: Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng
Miền Trung: Đà Nẵng, Bình Định, Bình Thuận, Nghệ An
Thành phố Hồ Chí Minh
Đồng Bằng Sông Cửu Long: Vĩnh Long, An Giang, Châu Đốc, Trà Vinh,
Tiền Giang, Sa Đéc, Bến Tre, Cần Thơ
Miền Đông Nam Bộ: Bình Dương, Vũng Tàu
Trong quá trình hoạt động, SCB đã vinh dự đónnhận các giải thưởng:
Cúp vàng thương hiệu Việt năm 2005 và 2006
Cúp vàng thương hiệu mạnh năm 2006
Ba Cúp vàng Sản phẩm uy tín chất lượng năm 2006 dành cho 3 sản
phẩm: “Tiết kiệm tích luỹ, tặng thêm lãi suất cho khách hàng từ 50 tuổi”; “Tín
dụng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ”; “Tín dụng tiêu dùng”.
Danh hiệu “Doanh nghiệp Việt Nam uy tín, chất lượng năm 2006”
Bằng khen do Hiệp hội Ngân hàng trao tặng năm 2005 và 2006
20
Kỷ lục Việt Nam là “Ngân hàng TMCP đầu tiên phát hành trái phiếu
chuyển đổi năm 2007”
Cúp Cầu vàng Việt Nam năm 2007” trong ngành Ngân hàng do NHNN
VN, Hiệp hội DN vừa và nhỏ VN, Hiệp hội Bảo hiểm VN và Hiệp hội kinh
doanh chứng khoán Việt Nam trao tặng.
Ngân hàng SCB là một trong những ngân hàng phát triển nhanh và mạnh
nhất của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Với hệ thống công nghệ thông
tin không ngừng được cải thiện, cung cấp các dịch vụ tự động hoá cao như:
SCB-eBanking, thanh toán điện tử liên ngân hàng, SMS Banking, hệ thống
máy rút tiền tự động ATM…hệ thống ngân hàng đại lí Swiftkey với 76 ngân
hàng cùng 319 chi nhánh trực thuộc tại 59 nước trên thế giới, SCB đang
khẳng định từng bước phát triển của mình.
Đặc biệt trong chính sách phát triển, SCB luôn chú trọng đào tạo đội ngũ
cán bộ năng động, nhiệt tình và tinh thông nghiệp vụ. Vì vậy, với đội ngũ cán

dịch vụ huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền
gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn đầu tư và phát
triển, vay vốn các tổ chức tín dụng khác trong nước và các định chế tài chính
ngân hàng nước ngoài.
Tình hình huy động vốn trong 3 năm gần đây như sau:
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Tổ chức kinh tế và dân cư 29,607 591,383 5,962,039
phát hành giấy tờ có giá - - -
huy động từ tổ chức tín dụng khác 105,873 505,434 452,033
vay từ NHNN và các TCTD khác - - -
Tổng vốn huy động theo đối tượng135,408 1,096,817 6,414,072
22
Có thể thấy tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động trong 3 năm gần đây
là rất cao, đặc biệt là nguồn vốn tăng lên từ huy động trong dân cư và các tổ
chức kinh tế. Điều này cho thấy, SCB chi nhánh HN đã tạo được chỗ đứng
trên thị trường các ngân hàng.
2.1.3.2 Hoạt động tín dụng
Hoà cùng nhịp phát triển chung của SCB, SCB chi nhánh Hà Nội dù mới
hoạt động trong thời gian ngắn nhưng vẫn nỗ lực không ngừng nâng cao năng
lực, tái cơ cấu và chấn chỉnh lại bộ máy hoạt động, hoàn thiện quy trình ngiệp
vụ cũng như quy trình quản lý.Bằng cách tung ra các sản phẩm tín dụng hâp
dẫn, linh hoạt, phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng cụ thể SCB đã
cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả kinh doanh tốc độ nhanh.
Tình hình sử dụng vốn của SCB Chi nhánh Hà Nội trong 2 năm gần đây là:
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 2007 2006
Cho vay các TCKT 615,176.00 354,052.00
Công ty cổ phần khác 438,952.00 270,651.00
Công ty TNHH tư nhân 176,224.00 83,401.00

số dư tuy đã tăng gấp đôi so với năm 2006, tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn rất
thấp so với tình hình hoạt động bảo lãnh của các ngân hàng thương mại tại
Việt Nam trong giai đoan này.
2.1.3.5 Thanh toán quốc tế
Cuối tháng 3/2006, SCB được NHNN cho phép thực hiện dịch vụ thanh
toán quốc tế trực tiếp(từ 2003 Ngân hàng SCB đã tiến hành dịch vụ thanh
toán quốc tế thông qua các NHTM quốc doanh: Vietcombank, BIDV) và
tham gia hệ thống SWIFT từ tháng 3 năm 2006. Và cùng trong hệ thống SCB,
chi nhánh Hà Nội cũng nhanh chóng bổ sung các nguồn nhân lực để đảm bảo
hoạt động thanh toán Quốc tế không ngừng cái thiện và đóng góp vào lợi
nhuận chung của toàn ngân hàng. Tuy vậy, hoạt động này vẫn còn mới mẻ và
24
chi nhánh còn phải cải thiện nhiều.
2.1.3.6 Kinh doanh ngoại tệ và vàng
Năm 2007 với những biến động bất ổn của tỷ giá vàng và ngoại tệ, hoạt
động kinh doanh ngoại hối của SCB gặp nhiều khó khăn và mới chỉ dừng lại
ở việc mua bán ngoại tệ phục vụ khách hàng chứ chưa thực hiện hoạt động tự
doanh.
2.1.3.7 Hoạt động thẻ
Năm 2006, dịch vụ thẻ tại SCB đã từng bước mở rộng nhờ vào các hoạt
động quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi và các chính sách ưu đãi kết hợp tài trợ
cho các cuộc thi.
2.2 Thực trạng hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi
nhánh Hà Nội
2.2.1 Chính sách tín dụng của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hà
Nội
 Nguyên tắc chung
Chính sách tín dụng của SCB được ban hành nhằm đảm bảo việc cấp tín
dụng của Hội sở chính và các chi nhánh SCB cho khách hàng tuân thủ chặt
chẽ các nguyên tắc sau đây:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status