PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống Ngân hàng thương mại nước ta đang trong quá trình đổi mới
để bắt kịp với xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô
của nhà nước. Ngân hàng đã thực sự là ngành tiên phong trong quá trình đổi
mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động ngân hàng nước
ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản
xuất phát triển, tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế
trong nước. Ngành ngân hàng đã xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà
nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả.
Song song với quá trình đó, vấn đề rủi ro tín dụng cũng đang diễn ra
hết sức phức tạp, gây ra những tác động to lớn không thể lường hết được cho
nền kinh tế. Do đó đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng trong việc nghiên cứu
tìm ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế mức tối đa những rủi ro có
thể xảy ra.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tích cực xây dựng
chính sách, chiến lược và đề ra những biện pháp thực hiện để hạn chế rủi ro
tín dụng trước những quy định và yêu cầu gắt gao của Chính phủ, của Ngân
hàng Nhà nước. Vì mục tiêu an toàn và phát triển bền vững, Ngân hàng
Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Chi nhánh NH TMCP NT
Thăng Long cũng đã ban hành nhiều quy định để hạn chế rủi ro tín dụng.
Trong đó, chính sách mang tầm chiến lược, định hướng lớn nhất là việc ban
hành và đưa vào áp dụng quy trình tín dụng mới với mục tiêu lớn nhất là hạn
chế mức tối đa những rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP
NT Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế cần khắc phục vì vậy
đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại
1
thương Thăng Long" được lựa chọn nghiên cứu nhằm mục đích phân tích,
đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh, đồng thời đề xuất những giải
pháp khắc phục hạn chế.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
một mục đích nào đó. Song có những trường hợp mục đích đó không đạt được
do trong quá trình hoạt động gặp phải rủi ro. Vậy rủi ro là gì? Có rất nhiều
khái niệm về rủi ro như “rủi ro là những bất trắc gây ra mất mát thiêt hại”;
“rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không
mong đợi”... Nhưng nói chung mọi ý kiến đều đi đến khẳng định rủi ro là khả
năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến. Rủi ro có thể gặp bất cứ lúc nào ngoài ý
muốn của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống nhất là lĩnh vực kinh tế.
Trong lĩnh vực kinh tế rủi ro được coi là những tổn thất mà các doanh
nghiệp phải chấp nhận khi kinh doanh. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ – tín
dụng ngân hàng cũng không tránh khỏi điều đó. Và thực tế đã chứng minh
rằng không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như
kinh doanh tiền tệ.
Tóm lại: rủi ro là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của con
người. Trong kinh doanh rủi ro tồn tại khá phổ biến và rất phức tạp bởi vì
thực tiễn đã chứng minh rằng bất kì hoạt động kinh doanh nào đem lại lợi
nhuận đều có rủi ro, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro càng cao.
1.1.2. Các loại rủi ro phổ biến trong hoạt động kinh doanh ngân
hàng
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng: Cũng như bất kì ngành kinh doanh
nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Hơn nữa, ngân
hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động của ngân hàng với bản chất
của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro. Bản thân người quản lý ngân
4
hàng và người lập chính sách cần biết và hiểu những rủi ro này để tìm mọi
cách hạn chế những đổ vỡ dễ gây thiệt hại, trước hết là đến ngân hàng đó và
sau đó là toàn bộ nền kinh tế. Trên thế giới, người ta đã phân ra nhiều loại rủi
ro trong hoạt động ngân hàng.
1.1.2.1. Rủi ro tín dụng
Hoạt động cơ bản của một ngân hàng là huy động vốn và cho vay, với
mục đích nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, hoạt động cho vay luôn tiềm
Cần lưu ý rằng, cho dù giá trị tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ là
cân xứng với nhau đối với từng loại ngoại tệ thì ngân hàng cũng chỉ mới loại
trừ được rủi ro tỷ giá, còn rủi ro lãi suất ngoại tệ vẫn phát sinh nếu các kỳ hạn
của tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ không cân xứng với nhau. Vì vậy,
chỉ khi ngân hàng làm cho tài sản có và tài sản nợ bằng ngoại tệ cân xứng với
nhau cả về số lượng và kì hạn thì mới có thể phòng ngừa được rủi ro tỷ giá và
rủi ro lãi suất ngoại tệ một cách triệt để.
Các tỷ giá và mức lãi suất giữa các quốc gia (giữa các đồng tiền) có
mối tương quan không chặt chẽ với nhau, do vậy, ngân hàng có thể tận dụng
đặc điểm này bằng cách đa dạng hoá cơ cấu tài sản có và tài sản nợ bằng
ngoại tệ nhằm giảm rủi ro hối đoái.
1.1.2.3. Rủi ro lãi suất
Khi huy động vốn của doanh nghiệp và dân cư, ngân hàng phải trả lãi.
Khi tài trợ, ngân hàng thu lãi. Lãi suất của các khoản cho vay, tiền gửi và
chứng khoán thường xuyên biến động, có thể làm gia tăng lợi nhuận cho ngân
hàng và ngược lại gây tổn thất cho ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất là khả
năng thu nhập giảm do chênh lệch lãi suất giảm khi lãi suất thị trường thay
đổi ngoài dự kiến gắn với thay đổi nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kì hạn
của tài sản và nguồn, qui mô và kì hạn của hợp đồng kì hạn...
Quá trình chuyển hoá tài sản là một chức năng đặc biệt cơ bản của ngân
hàng. Quá trình chuyển hoá tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ
6
cấp, tức là sử dụng vốn; và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy
động vốn. Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh
mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ
cấp thuộc tài sản nợ. Sự không cân xứng về kì hạn giữa tài sản có và tài sản
nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất.
Ngoài ra khi lãi suất thị trường thay đổi ngân hàng còn có thể gặp phải
rủi ro giảm giá trị tài sản. Như chúng ta đã biết, giá trị thị trường của tài sản
có hay tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ. Do đó, nếu
nhập gì cho ngân hàng. Chính vì vậy ngân hàng phải duy trì 1 lượng tiền mặt
nhất định để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng mà không làm ảnh
hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng. Để làm được điều này thì trong
trường hợp thiếu hụt tiền mặt tạm thời thì NHTM chỉ cần đi vay bổ sung một
cách thông thường trên thị trường thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Tuy nhiên trong trường hợp đặc biệt ngân hàng có thể phải đối mặt với
rủi ro thanh khoản khi khách hàng mất lòng tin vào ngân hàng hoặc nhu cầu
rút tiền có tính thời vụ cao… mà trong khi ngân hàng lại không dự tính được
khi nào khách hàng cần vốn để sản xuất kinh doanh.Trong bối cảnh đó hầu
hết các ngân hàng phải đáp ứng với nhu cầu vốn thiếu – chi phí bổ xung cho
huy động vốn trên thị trường sẽ tăng đáng kể do đó lượng vốn trên thị trường
giảm. Hậu quả là ngân hàng phải bán 1 lượng lớn tài sản để đáp ứng với nhu
cầu rút tiền của khách hàng. Điều này khiến cho NHTM gặp phải rủi ro thanh
khoản; ngân hàng buộc phải bán tài sản của mình với giá rẻ vì ngân hàng
không còn đủ thời gian để tìm đối tác thích hợp cũng như điều kiện để thương
lượng về giá cả. Chính vì vậy ngân hàng đứng trước nguy cơ đối mặt với rủi
ro thanh khoản chuyển sang rủi ro phá sản.
8
1.1.2.5. Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Hoạt đông ngoại bảng là các hoạt động không thuộc bảng cân đối tài
sản (nội bảng), bởi vì các hoạt động này không liên quan đến việc nắm giữ
các chứng khoán hay giấy nhận nợ sơ cấp hoặc ngân hàng phát hành các
chứng khoán hay giấy nhận nợ thứ cấp. Tuy nhiên, các hoạt động ngoại bảng
có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng cân đối tài sản nội bảng, bởi
vì các hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản có và tài sản nợ bổ
sung cho bảng cân đối nội bảng.
Xuất phát từ tính chất của các hoạt động ngoại bảng là ngân hàng thu
được phí trong khi không phải sử dụng đến vốn kinh doanh cho nên đã
khuyến khích phát triển các hoạt động ngoại bảng ngày càng phát triển. Tuy
nhiên những hoạt động này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chẳng hạn, trong
nhập) có thể nhận biết tiềm năng tín dụng và tiềm năng bảo lãnh cho khách
hàng.
Rủi ro công nghệ phát sinh khi những khoản đầu tư cho phát triển công
nghệ không tạo ra được khoản tiết kiệm trong chi phí như đã dự tính khi mở
rộng qui mô hoạt động. Tính không hiệu quả trong đầu tư công nghệ của ngân
hàng phát sinh trong trường hợp, ví dụ, dung lượng đầu tư quá lớn dẫn đến
công nghệ không sử dụng đến và hậu quả là tổ chức bộ máy trở nên quan liêu
kém hiệu quả; hoặc là qui mô hoạt động không được mở rộng, mặc dù đã đầu
tư công nghệ mới. Rủi ro về công nghệ có thể gây nên hậu quả là khả năng
cạnh tranh của ngân hàng giảm xuống đáng kể và nguyên nhân tiềm ẩn của sự
phá sản ngân hàng trong tương lai. Ngược lại, lợi ích từ việc đầu tư công nghệ
là tạo cho ngân hàng một sức bật quan trọng trong cuộc cạnh tranh dữ dội trên
thương trường và đồng thời cho phép ngân hàng phát triển các sản phẩm mới,
tiên tiến, hiện đại giúp cho ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững.
10
1.1.2.7. Rủi ro quốc gia và rủi ro khác
Nền kinh tế thị trường không còn bó gọn trong một quốc gia nữa. NHTM
đã mở rộng đầu tư ra nước ngoài như đầu tư và mua bán các đồng ngoại tệ
mạnh. Nhưng khi các nước đó có biến động về kinh tế - chính trị dẫn tới suy
thoái kinh tế sẽ dẫn tới rủi ro quốc gia. Rủi ro quốc gia còn nghiêm trọng hơn
cả trường hợp hơn rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải khi đầu tư cho các
công ty nội địa. Trong một công ty nội địa không có khả năng trả nợ thì
NHTM là chủ nợ có quyền tham dự vào quá trình phân chia tài sản để thu nợ.
Như vậy chí ít ngân hàng cũng thu hồi được một phần hay toàn bộ vốn cho
vay.
Trong trường hợp NHTM đầu tư cho công ty nước ngoài thì ngay cả
trong trường hợp công ty đó có khả năng trả nợ vay nhưng cũng có thể không
thực hiện được vì chính phủ nước này cấm hoặc hạn chế việc thanh toán cho
nước ngoài do dự trù ngoại hối hạn hẹp hoặc vì lý do chính trị. Trong trường
hợp này ngân hàng như là một chủ nợ, rất ít hoặc không có cơ hội khiếu nại
thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2.1.2 Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng:
Để đảm bảo cho hoạt động ngân hàng luôn luôn an toàn và phát triển
bền vững thì yêu cầu bắt buộc của tín dụng ngân hàng là phải tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, cho vay có mục đích, có phương án vay vốn khả thi, hiệu quả:
12
Mục đích và phương án vay vốn luôn được đề cập rõ ràng, là quy định
bắt buộc trong tất cả các hợp đồng tín dụng. Khách hàng vay phải ghi rõ mục
đích sử dụng vốn vay: sản xuất kinh doanh, đầu tư dự án, tiêu dùng..., đồng
thời nêu được tính khả thi, hiệu quả của phương án, có khả năng trả nợ ngân
hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
Hai là, việc cho vay phải có bảo đảm :
Yêu cầu khi khách hàng vay phải có bảo đảm: tài sản cầm cố, thế chấp
thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba để đảm bảo an
toàn cho khoản vay, hạn chế được rủi ro tín dụng khi khách hàng không trả
được nợ. Hoạt động cho vay là lĩnh vực chứa đựng rất nhiều rủi ro. Vì vậy,
yêu cầu phải có bảo đảm là hết sức cần thiết và quan trọng đối với ngân hàng.
Ba là, khách hàng vay phải hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn:
Với vai trò trung gian của ngân hàng là đi vay để cho vay. Do đó, các
khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng hầu hết đều xuất phát từ
nguồn tiền mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức, cá nhân. Việc sử
dụng hợp lý nguồn tiền này là yêu cầu bắt buộc đối với ngân hàng. Để đảm
bảo khả năng thanh khoản, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu rút tiền của
người gửi trong mọi trường hợp. Vậy trong hợp đồng tín dụng, quy định bắt
buộc khách hàng phải cam kết hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã
thỏa thuận để duy trì tính thanh khoản, giúp ngân hàng phát triển bền vững.
1.2.1.3 Phân loại tín dụng:
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, tín dụng ngân hàng được phân loại
như sau:
hợp đồng tín dụng với điều kiện tổng dư nợ không vượt quá hạn mức đã ký
14
- Cho vay đầu tư dự án: là hình thức cho vay để thực hiện các dự án đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh.
- Cho vay trả góp: thường áp dụng đối với cá nhân, để phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng cá nhân
* Căn cứ vào mức độ rủi ro:
- Tín dụng lành mạnh: là các khoản vay an toàn, có khả năng thu hồi vốn
- Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành
mạnh như chậm trả gốc và lãi
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá thời hạn trả nợ
nhưng khách hàng có thể khắc phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh tốt,
cam kết sẽ trả nợ hoặc được đảm bảo bởi tài sản cầm cố, thế chấp.
- Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn lâu, không có khả năng
trả nợ....
1.2.1.4 Quy trình tín dụng ngân hàng
*Ý nghĩa của việc thiết lập quy trình tín dụng
Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ý nghĩa
rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng. Về mặt hiệu quả,
quy trình tín dụng hợp lý góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro
tín dụng. Về mặt quản trị, quy trình tín dụng có tác dụng sau đây:
+ Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm và
quyền hạn của từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng.
+ Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục
vay vốn về mặt hành chính.
+ Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan
trong hoạt động tín dụng.
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước đi cụ thể từ khi tiếp
nhận nhu cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng ra quyết định
cho vay, giải ngân và thanh lý hợp đồng tín dụng. Một bảng mô tả quy trình
vay từ giai đoạn
trước chuyển sang
- Các thông tin bổ
sung từ phỏng
vấn, hồ sơ lưu
trữ...
- Tổ chức thẩm
định về các mặt tài
chính và phi tài
chính do các cá
nhân hoặc bộ phận
thẩm định thực
hiện.
- Báo cáo kết quả
thẩm định để chuyển
sang bộ phận có
thẩm quyền để quyết
định cho vay.
Quyết định
tín dụng
- Các tài liệu và
thông tin từ giai
đoạn trước chuyển
sang và báo cáo
thẩm định
- Các thông tin bổ
sung.
- Quyết định cho
vay hoặc từ chối
cho vay dựa vào kết
và thanh lý
tín dụng
- Các thông tin từ
nội bộ ngân hàng
- Các báo cáo tài
chính theo định kì
của khách hàng
- Các thông tin
khác.
- Phân tích hoạt
động tài khoản, báo
cáo tài chính, kiểm
tra mục đích sử
dụng vốn vay.
- Tái xét và xếp
hạng tín dụng.
- Thanh lý hợp
đồng tín dụng
- Báo cáo kết quả
giám sát và đưa ra
các giải pháp xử lý.
- Lập các thủ tục để
thanh lý tín dụng.
16
a. Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Là khâu căn bản đầu tiên của qui trình tín dụng, nó được thực hiện
ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu cầu vay vốn.
Tuỳ từng trường hợp mà cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ với
những thông tin yêu cầu khác nhau. Nhìn chung một bộ hồ sơ đề nghị cấp tín
dụng cần thu thập từ khách hàng những thông tin sau:
về uy tín và mất cơ hội cho vay.
Nhằm hạn chế sai lầm, ngân hàng thường chú trọng: (1) thu thập và xử
lý thông tin một cách đầy đủ và chính xác làm cơ sở để ra quyết định, (2) trao
quyền quyết định cho một hội đồng tín dụng hoặc những người có năng lực
phân tích và phán quyết.
Cơ sở để ra quyết định tín dụng: trước hết dựa vào thông tin thu thập và
xử lý từ hồ sơ tín dụng, do giai đoạn trước chuyển sang. Kế đến, dựa vào
những thông tin khác hoặc thông tin cập nhật hoá có liên quan.
Quyền phán quyết tín dụng:Tuỳ theo qui mô vay lớn hay nhỏ mà quyền
phán quyết thường được trao cho một hội đồng tín dụng hay một cá nhân phụ
trách.
Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp nhận hoặc từ chối
cho vay. Nếu chấp thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng
ký kết hợp đồng tín dụng và làm các bước tiếp theo. Nếu từ chối cho vay,
ngân hàng sẽ có văn bản trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được rõ.
18
d. Giải ngân
Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết.
Giải ngân là phát tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết
trong hợp đồng. Giải ngân góp phần phát hiện và chấn chỉnh kịp thời nếu có
sai sót ở khâu trước. Ngoài ra, cách thức giải ngâncòn góp phần kiểm tra và
kiểm soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay
không.
Nguyên tắc giải ngân là luôn luôn gắn liền vận động tiền tệ với vận
động hàng hoá hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau
này. Tuy vậy, giải ngân cũng phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo thuận lợi
tránh gây khó khăn và phiền hà cho khách hàng.
e. Giám sát tín dụng
Giám sát tín dụng là khâu khá quan trọng nhằm mục đích bảo đảm cho
tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín dụng,
Thanh lý hợp đồng tín dụng
Nếu hết thời hạn của hợp đồng tín dụng và khách hàng đã hoàn tất
nghĩa vụ trả nợ cả gốc và lãi thì ngân hàng và khách hàng làm thủ tục thanh lý
hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản nếu có và lưu hồ sơ vay vốn của khách
hàng vào kho lưu trữ.
1.2.2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất.
Hoạt động tín dụng là hoạt động tiêu biểu của hầu hết các ngân hàng, hoạt
động này đòi hỏi ngân hàng phải tìm mọi cách để kiểm soát được khả năng trả
nợ của khách hàng, ít nhất cũng là dự tính, phán đoán khả năng này. Không
20
phải bao giờ dự tính này cũng chính xác tuyệt đối và thời gian qua đi thì khả
năng phán đoán lại càng trở nên khó hơn. Người ta cho rằng rủi ro chính mà
ngân hàng phải đối mặt là rủi ro trong hoạt động tín dụng.
1.2.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất
trong hoạt động tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo
ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng
không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng
cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ
các tài sản có sinh lời của các ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ
xét cả về mặt số lượng và thời hạn. Các ngân hàng sẽ không bị đe doạ bởi rủi
ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại được cả gốc và lãi của các khoản vay đúng
thời hạn, ngược lại nếu người vay gặp khó khăn tài chính, thì cả gốc và lãi
khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được. Trong điều kiện
bình thường, phần lớn các tài sản tài chính do các doanh nghiệp phát hành và
được đầu tư bởi các ngân hàng đều được đảm bảo với mức xác suất cao, lãi
thu được thường dưới dạng lãi suất cố định. Nhưng khi có rủi ro, mặc dù xảy
90 ngày, các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là
doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng
về khả năng trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)
+ Rủi ro đối với nợ dưới tiêu chuẩn: là những khoản nợ quá hạn từ 91 đến
180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ
22
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nợ cần chú ý; các khoản nợ
được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo
hợp đồng tín dụng.
+ Rủi ro đối với nợ nghi ngờ: là những khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360
ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn đã cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần
thứ hai.
+ Rủi ro đối với nợ có khả năng mất vốn: là những khoản nợ đã quá hạn
trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90
ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nựo cơ
cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại
lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nựo lần thứ ba trở lên, kể cả
chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
1.2.2.3 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Một số dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân
hàng:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
Khách hàng có biểu hiện:
+ Các khoản nợ gốc và lãi khách hàng không thanh toán đầy đủ hoặc
chậm thanh toán.
+ Xin ngân hàng cho kéo dài thời hạn trả nợ, xin gia hạn nợ
+ Có biểu hiện giảm vốn điều lệ
+ Vốn vay bị sử dụng với mục đích khác so với thoả thuận trong hợp đồng
+ Chu kì vay thường xuyên gia tăng
đích ví dụ như: dùng vốn vay ngắn hạn để mua sắm, tài trợ cho TSCĐ, nhà
xuởng...
+ Chi phí của doanh nghiệp không hợp lý
Nhóm 6: Nhóm các dấu hiệu về mặt pháp luật
+ Có những thay đổi về chính sách liên quan đến ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp theo chiều hướng bất lợi
+ Doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm pháp luật
1.2.2.4 Tác động của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng và nền kinh tế
* Tác động rủi ro tín dụng đối với ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng: Đối với mỗi ngân
hàng, uy tín giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh. Với
hoạt động cơ bản là huy động vốn, các ngân hàng luôn mong muốn tạo dựng
uy tín để huy động tiền gửi của các tổ chức kinh tế, các cá nhân. Trong trường
hợp xảy ra rủi ro tín dụng sẽ tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, dẫn đến khả năng không thu hồi được gốc và lãi, lợi nhuận giảm, nợ
xấu tăng lên. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm giảm sút uy tín của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: Ngân
hàng luôn luôn phải duy trì khả năng thanh toán của mình trong mọi trường
hợp. Bất cứ khi nào người gửi tiền đến rút khoản tiền mà họ gửi tại ngân hàng
thì ngân hàng đều phải chi trả đầy đủ cả gốc và lãi. Với vai trò là trung gian
huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân để cho vay nhằm tìm
kiếm lợi nhuận, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nguồn vốn
mà ngân hàng đã huy động được khi xảy ra rủi ro tín dụng. Khi đó, ngân hàng
bị tổn thất về nguồn vốn nhưng vẫn phải thanh toán đầy đủ cho các khoản nợ
và khoản vay của ngân hàng.
25