BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐẩY MạNH HOạT ĐộNG THÔNG TIN VớI
VIệC CảI CáCH NềN HàNH CHíNH QuốC
GIATRONG GIAI ĐOạN HIệN NAY
14
1.1. Một số khái niệm cơ bản
14
1.2. Đẩy mạnh hoạt động thông tin với cải cách hành chính
quốc gia trong điều kiện kinh tế tri thức
27
1.3. Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về cải cách
hành chính quốc gia và đẩy mạnh hoạt động thông tin
30
1.4. Một số vấn đề chủ yếu về cải cách hành chính quốc gia ở
Việt Nam
36
1.5. Vai trò của thông tin đối với cải cách hành chính ở nước
ta
47
Chương 2. Thực trạng hoạt động thông tin với cải
cách hàn
h chính qu
ốc gia ở Việt Nam
55
2.1. Thực trạng hoạt động thông tin góp phần thúc đẩy cải
cách hành chính ở nước ta
2
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ đầu thế kỷ XX, V.I. Lênin đã từng khẳng định: không có thông
tin thì không thể có tiến bộ trong bất kỳ một lĩnh vực nào của khoa học, kỹ
thuật và sản xuất vật chất. Đại văn hào Maksim Gorki đã từng viết: Sức
mạnh và sự giàu có của một dân tộc không phải là ở chỗ có nhiều đất đai,
rừng, gia súc và các loại quặng quí mà là ở số lượng và chất lượng những
con người có học thức, có lòng yêu tri thức, ở sự nhạy bén và năng động
của trí tuệ. Sức mạnh của một dân tộc không những nằm trong vật chất, mà
phần hết sức quan trọng là nằm trong trí tuệ.
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người từ xưa đến nay, chưa
bao giờ thông tin lại đóng vai trò to lớn và bao trùm đến vậy. Khó có thể
hình dung được một lĩnh vực hoạt động nào của con người lại không cần
đến thông tin.
Lý luận mác xít cho rằng, nắm được công cụ sản xuất thì mới nắm
được quyền hành. Công cụ sản xuất mà ngày nay người công nhân cần nắm
để làm chủ lấy mình không phải là những công cụ “bỏ trong thùng hay như
công cụ của xí nghiệp trong thời công nghiệp ống khói. Nó là thứ vật dụng
nằm trong đầu óc của công nhân”
1
. Đó là thông tin, tri thức, là nguồn chủ
yếu sáng tạo ra của cải và quyền lực.
Thông tin, tri thức là thứ của cải không bao giờ hết. Nếu như đất đai,
máy móc có thể chỉ cấp được cho một số cá nhân thôi, thì thông tin, tri thức
cùng lúc có thể có nhiều người sử dụng. Và nếu vận dụng thích đáng thì có
thể lại sinh ra nhiều tri thức mới. Tri thức lấy không bao giờ hết và dùng
không bao giờ cạn.
đất nước đòi hỏi phải huy động được mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực
thông tin là vô cùng quan trọng.
Cải cách nền hành chính quốc gia là một đòi hỏi thường xuyên, luôn
được coi là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào bởi vì
1
A. Toffler. Thăng trầm quyền lực, Nxb. Thanh niên, T.1, tr.61. 4
nhiệm vụ này vừa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước, vừa tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã đánh dấu bước đổi mới quan
trọng trong nhận thức và tư duy. Với sự đổi mới sáng suốt đó, Việt Nam đã
vượt qua thử thách gian nan và đi lên. Con đường đi đến đổi mới không hề
đơn giản. Đó là kết quả của cả quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn, đổi mới tư duy, dựa trên những thông tin khoa học, thông tin lý luận
về thời đại, về cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, về những nhận thức
mới đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, những vấn đề lý luận về kinh tế thị
trường; vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam, với tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, bài học kinh nghiệm của các
nước anh em, các nước phát triển, đang phát triển, Trong suốt chặng
đường đổi mới đó, thông tin, tri thức luôn là nguồn lực vô giá của Việt
Nam.
“Khi cơ chế thuận thì một sự thông minh biến thành mười sự thông
minh. Cơ chế chưa thuận thì một sự hư hỏng kéo theo hàng nghìn sự hư
hỏng. Quy luật phi tuyến ấy sẽ rất nghiệt ngã nhấn chìm các cộng đồng yếu
kém, nhưng cũng mở ra cơ hội và khả năng nhảy vọt thần kỳ cho những
cộng đồng thông minh và biết giá trị của trí tuệ thời nay”
1
cộng đồng là nguồn trí tuệ cộng đồng, là nguồn cộng năng tạo ra sức mạnh
to lớn đưa cộng đồng vươn lên.
Từng người dân thông minh, từng nhà khoa học giỏi, sẽ chưa đủ.
Điều hết sức quan trọng, mấu chốt của sự thành công là một cơ chế quản lý
có thể tập hợp và phát huy được khả năng của mỗi người, hỗ trợ họ không
ngừng phát triển tri thức trong suốt cuộc đời hoạt động, có cơ chế biến xã
hội thành xã hội học tập suốt đời, thường xuyên trao đổi, chuyển giao, vận
dụng, sản xuất và phát triển tri thức. Tất cả những con người tài giỏi đó sẽ
chỉ được phát huy mọi khả năng, tài trí trong môi trường kinh tế - xã hội
lành mạnh và thoáng đãng, tạo nên bởi cơ chế quản lý thông minh, biết
khuyến khích mọi sáng kiến chủ động, mọi tài năng sáng tạo,biết hạn chế,
loại trừ mọi yếu tố, mọi xu hướng tiêu cực. 6
Bước vào thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, thông tin khoa học cung cấp những thông tin như thế
nào, con đường, cách thức thông tin ra sao để góp phần đổi mới sự lãnh đạo
của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhà nước, cải cách hành chính? Kinh
nghiệm của các nước đi trước cho thấy, trong thời đại kinh tế tri thức,
không dựa vào trí tuệ, học vấn thì khó có thể vươn lên. Việc khơi dậy và
phát huy mọi tiềm năng trí tuệ của dân tộc là vấn đề quan trọng, song tổ
chức, khai thác triệt để mọi tiềm năng ấy cho sự phát triển của đất nước
nhờ một cơ chế quản lý thông minh là điều vô cùng quan trọng, không thể
thiếu. Đó là bài toán không hề đơn giản, trong đó, thông tin, tri thức, công
nghệ thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Hiện nay, Việt Nam đang
tích cực đổi mới, cải cách hành chính. Nghiên cứu vấn đề đẩy mạnh hoạt
động thông tin phục vụ cải cách hành chính là một trong những vấn đề hết
sức cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu
vụ cảm thụ phản ánh đó. Tuy nhiên, không nên hiểu đơn thuần khái niệm
thông tin đồng nhất với khái niệm phản ánh. Thông tin là khái niệm tồn tại
và hiện diện trong mọi vật, phản ánh quan hệ giữa hai ngôi: nguồn tin và
người dùng tin.
* Về sự hình thành và phát triển của thông tin học. Những năm 90
của thế kỷ XX, người ta càng nói nhiều hơn về sự ra đời của xã hội thông
tin và nền kinh tế dựa trên tri thức (GS. Nick Moore, ) với những đặc
trưng cơ bản: Thông tin được coi là nguồn lực phát triển quan trọng nhất;
Việc sử dụng thông tin ngày càng được mở rộng trong cộng đồng; Ra đời
phát triển ngành công nghiệp mới ở ngay trong nền kinh tế: ngành công
nghiệp thông tin.
Tài liệu nghiên cứu về thông tin học ngày càng nhiều. Theo thống
kê, toàn thế giới hàng năm công bố gần 10 ngàn tên tài liệu khác nhau về 8
các vấn đề của thông tin học. Hơn nửa thế kỷ qua, các nhà khoa học đã đạt
được những thành tích đáng kể, lý giải được nhiều quy luật, phần nhiều là
những quy luật riêng về hiện tượng thông tin, về quá trình và hệ thống
thông tin, về môi trường của hoạt động thông tin.
* Những nghiên cứu về xã hội thông tin
Bước vào thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Hoa Kỳ
mà đại diện là F. Machlup, D. Bell và M. Porat đã đi tiên phong trong việc
nghiên cứu có hệ thống về xã hội thông tin và nền kinh tế thông tin. Năm
1962, trong công trình có tên gọi “Sản xuất và phổ biến kiến thức ở Hoa
Kỳ”, F. Machlup cho biết rằng, ngành công nghiệp kiến thức Hoa Kỳ vào
năm 1958 đã chiếm tới 29% tổng sản phẩm xã hội, với 31% tổng lao động
đang hoạt động của cả nước. Đến năm 1990, con số này là: ở Mỹ - 47,4%;
ở Anh – 45,8%; ở Pháp – 45,1%; ở Đức – 40,0% tổng lao động đang làm
việc. Theo sự xác định của tác giả, nền công nghiệp ấy bao gồm giáo dục,
ninh thông tin,v.v
2.3. Nghiên cứu trên bình diện đào tạo cán bộ thông tin
Giữa những năm 60 thế kỷ XX, Viện sĩ A. I. Berg đã dự báo, thông
tin sẽ trở thành khái niệm dẫn đầu trong các khoa học của thế kỷ XXI. Từ
đó đến nay, rất nhiều tổ chức viện, trường đại học, các nhà khoa học trên
thế giới quan tâm nghiên cứu lĩnh vực đào tạo cán bộ thông tin.
Trường Đại học Tổng hợp Harverd (Mỹ) nhiều năm đã tiến hành một
chương trình nghiên cứu toàn diện về chính sách nguồn lực thông tin. Các
viện sĩ Liên Xô (cũ) V. M. Gluscov, V. A. Traspesnicov đã đề nghị coi chỉ
tiêu “trang bị thông tin” trong nền kinh tế và xã hội quan trọng như các chỉ
tiêu “trang bị kỹ thuật”, “trang bị năng lượng”.
Ở Việt Nam, nhiều năm nay, các trường như Đại học Văn hoá, Đại
học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học
Dân lập Đông Đô, đã tổ chức nghiên cứu và biên soạn các chương trình
10
đào tạo hệ cử nhân và sau đại học về chuyên ngành thông tin học. Những
cố gắng ban đầu đã có kết quả khả quan.
2.4. Nghiên cứu vai trò và tác động của thông tin
Là một dạng “tài nguyên” với những đặc điểm như: số lượng vô tận,
luôn luôn được bổ sung, đổi mới và càng được sử dụng càng thêm phong
phú, thông tin khoa học giúp con người sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
và tiềm lực kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, vai trò và tác động của thông tin
được các nhà khoa học hết sức quan tâm.
Trong những năm 90 thế kỷ XX, nhiều cuộc hội thảo, hội nghị
chuyên đề liên quan tới vấn đề thông tin phục vụ phát triển do UNESCO
bảo trợ đã được tổ chức ở nhiều khu vực trên thế giới. Các chủ đề đã được
thảo luận liên quan đến hội nghị chuyên môn gồm: Các tiền đề thông tin
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; Xác định người dùng tin và khả năng
khai thác thông tin quốc gia; Các nguồn lực trong lĩnh vực thông tin phục
quản lý nhà nước, cải cách nền hành chính quốc gia trong thời gian gần
đây.
- Đánh giá hiệu quả của thông tin đối với cải cách nền hành chính
quốc gia.
- Rút ra bài học kinh nghiệm về đẩy mạnh hoạt động thông tin với
cải cách nền hành chính quốc gia.
- Xây dựng hệ thống giải pháp khả thi đẩy mạnh hoạt động thông tin
nhằm góp phần tích cực cải cách nền hành chính quốc gia trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 12
4. Nội dung và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề
sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc đẩy mạnh hoạt động thông tin
với cải cách hành chính quốc gia.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin với cải cách hành chính
quốc gia ở Việt Nam.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh hoạt
động thông tin phục vụ cải cách hành chính ở Việt Nam.
Trong khuôn khổ một đề tài cấp bộ, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu việc đẩy mạnh hoạt động thông tin phục vụ cho cải cách hành chính
quốc gia trong thời gian gần đây, đặc biệt là để góp phần hiện đại hoá nền
hành chính quốc gia, xây dựng chính phủ điện tử, thực hiện Đề án Đơn
giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn
2007-2010 (Đề án 30).
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận mác xít với quan điểm thực tiễn, biện
chứng, lịch sử, khách quan để nghiên cứu về lý luận và thực tiễn của vấn đề
nước, cải cách hành chính trong và ngoài Học viện.
14
CHƯƠNG 1
CƠ Sở Lý LUậN CủA VIệC ĐẩY MạNH HOạT ĐộNG THÔNG
TIN
với CảI CáCH HàNH CHíNH quốc gia
1.1. MT S KHI NIM C BN
1.1.1. Thụng tin, tri thc, quan h gia thụng tin v tri thc
Cú nhiu nh ngha khỏc nhau v thụng tin.
Thụng tin c hiu l thụng bỏo, l tin tc, l tri thc c la
chn v cỏc s vt, hin tng c con ngi x lý v s dng vo hot
ng cú nh hng, cú mc ớch ca mỡnh di cỏc hỡnh thc thớch hp.
Theo cỏch hiu ny, khỏi nim thụng tin bao hm cỏc yu t c bn l tin,
vt mang tin, quy trỡnh chuyn ti tin, ch th x lý v ngi s dng tin.
Trong thc t, cỏc yu t núi trờn cú hỡnh thc biu hin c th, a dng,
luụn luụn bin i trong nhng khụng gian, thi gian nht nh v cú tỏc
ng ln nhau mt cỏch bin chng.
Theo T in An ton thụng tin Anh - Vit v Vit Anh, thụng tin l
(1) Bt k mt s truyn thụng hoc thu nhn tri thc no nh cỏc s kin,
d liu hoc cỏc ý kin, bao gm cỏc dng s, ho hoc dng tng
thut, cho dự bng ming hay lu gi trờn phng tin bt k, k c cỏc c
s d liu mỏy tớnh hoỏ, giy, vi dng hoc bng t. (2) Thut ng d
phản ánh, bằng lao động và ngôn ngữ tác động đến đối tượng vật chất “bị
phản ánh”, nhằm cải tạo tự nhiên, tái tạo lại hiện thực theo tính chất và
theo nhu cầu thực tiễn xã hội.
Quan hệ giữa tri thức và thông tin là quan hệ tương tác. Tri thức
chuyển hoá thành thông tin và thông tin lại trở thành nguyên liệu, tiền đề
cho tri thức mới mà cơ sở sâu xa là thực tiễn, là hiện thực khách quan. Sự
1
Ban Từ điển. Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh. Nxb. Khoa học và
kỹ thuật, H., 2001, tr. 317.
16
phân biệt giữa tri thức và thông tin cũng có tính chất tương đối, tri thức ở
chủ thể này lại là thông tin ở chủ thể kia và ngược lại.
Hoạt động thông tin được thực hiện theo một quy trình nhất định.
Quy trình này vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan. Tính khách
quan là ở chỗ dù muốn hay không muốn, quy trình đó tồn tại và vận hành
một cách độc lập bảo đảm thực hiện sự chuyển hoá tri thức thành thông tin
và thông tin thành tri thức và chuyển tải đến người dùng tin. Tính chủ quan
của quy trình thông tin là ở chỗ mức độ và hiệu quả sự chuyển hoá và
chuyển tải phụ thuộc vào các chủ thể thông tin mà các chủ thể này không
đồng nhất về nhu cầu, lợi ích, mục đích nhận thức,
Vật mang tin là hình thức chứa đựng thông tin. Một nội dung thông
tin có thể chứa đựng ở nhiều vật mang tin và một vật mang tin có thể chứa
đựng nhiều nội dung thông tin. Có thể coi nội dung thông tin là “linh hồn”,
còn vật mang tin là “vỏ” của thông tin.
Hiện nay, nền kinh tế công nghiệp truyền thống đang từng bước quá
độ lên một nền kinh tế mới – đó là nền kinh tế dựa trên cơ sở tri thức, gọi
tắt là nền kinh tế tri thức, lấy hoạt động sản xuất, xử lý, phổ biến và sử
dụng thông tin làm nội dung chính để tạo dựng nên một nền văn minh mới
- Nguồn tư liệu do được số hoá và tập hợp dưới hình thức bộ sưu tập
số của cơ quan thông tin.
- Các tạp chí, sách, tài liệu điện tử trên mạng Internet mà các cơ quan
có thể đặt mua như tạp chí, tài liệu in và sẽ được cấp quyền truy cập.
b. Xét về mức độ công bố hay không công bố, vốn tài liệu có thể
được chia làm hai loại
* Vốn tài liêu được công bố
18
- Trước hết, đó là những tài liệu do các nhà xuất bản ấn hành bằng
văn bản được phân phối qua các kênh phát hành chính thức như nhà xuất
bản, các công ty, các đại lý phát hành, mà cơ quan thông tin thu thập
được thông qua việc mua, được biếu, tặng, trao đổi, Loại này chiếm tỷ
trọng lớn trong các loại vốn tài liệu hiện có ở các cơ quan thông tin.
- Thứ hai, gồm các tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin, cơ quan
nghiên cứu khoa học, các công ty, sản xuất dưới dạng băng từ, các đĩa
CD-ROM, các xuất bản điện tử trên mạng Internet, được truy cập miễn
phí hoặc các cơ quan thông tin có thể mua quyền truy cập,
* Vốn tài liệu không được công bố hay còn gọi là tài liệu “xám”, tài
liệu nội sinh do các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu tạo ra trong
quá trình nghiên cứu, hoạt động, Đó thường là các đề tài nghiên cứu, các
báo cáo, các chương trình, dự án, các luận văn, luận án, Loại tài liệu này
tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, số bản ít (thường chỉ là 1 bản in, hoặc đĩa CD, hoặc
một bộ gồm cả 2 loại trên) nhưng nội dung thông tin hết sức đa dạng,
phong phú, hàm lượng khoa học cao, có ý nghĩa lớn đối với người dùng tin.
1.1.4. Cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu – Database là cấp tổ chức cao nhất của dữ liệu. Cơ sở
dữ liệu là tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản lý, được lưu
trữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và được quản lý
theo một cơ chế thống nhất, nhằm giúp cho việc truy cập và xử lý dữ liệu
1.1.5. Công nghệ thông tin
Có nhiều định nghĩa về công nghệ thông tin.
Theo Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh, công nghệ
thông tin là sự thu nhận, xử lý, lưu giữ và phổ biến thông tin tiếng nói, hình
ảnh, văn bản và số nhờ sự kết hợp dựa trên vi điện tử của tin học, viễn
20
thông và video. Công nghệ thông tin nảy sinh như một công nghệ tách
riêng nhờ sự quy tụ của các kỹ thuật tin học, viễn thông và video, tin học
cung cấp khả năng xử lý và lưu giữ thông tin, viễn thông cung cấp phương
tiện để truyền thông nó và video cung cấp thiết bị hiển thị hình ảnh chất
lượng cao. Sự quy tụ đó đã được xúc tác nhờ sẵn có các linh kiện và thiết bị
vi điện tử phức tạp, tin cậy và chi phí có hiệu quả. Các phát triển tổng thể
trong điện tử học cũng đã kích thích việc tìm kiếm những tiêu chuẩn quốc
tế chung, nhất là trong tin học và viễn thông, mở đường cho các ứng dụng
quy mô lớn của công nghệ thông tin.
Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và
công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin. Theo
quan niệm này, thì công nghệ thông tin là hệ thống các phương pháp khoa
học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính,
mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ,
truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi
lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, của con người
1
.
Công nghệ thông tin là động lực nòng cốt và xung kích của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, dẫn dắt nhân loại bước vào kỷ
nguyên trí tuệ.
Các tiêu chuẩn đánh giá an toàn công nghệ thông tin và an toàn
thông tin theo Uỷ ban Cộng đồng Châu Âu đưa ra gồm 8 tiêu chí:
.
1.1.7. Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia
Kết cấu hạ tầng thông tin quốc gia là hệ thống các mạng truyền
thông, máy tính, các cơ sở dữ liệu, các phương tiện điện tử dân dụng, sẵn
sàng đưa đến những lượng thông tin to lớn với mọi hình thức thể hiện, sử
dụng mọi lúc và ở bất kỳ đâu, do đó nó tạo ra những phương thức hoạt
động hoàn toàn mới cho con người.
1
Ban Từ điển. Từ điển an toàn thông tin Anh - Việt và Việt – Anh. Nxb. Khoa học và
kỹ thuật, H., 2001, tr. 117.
22
Cơ sở dữ liệu thủ tục hành chính trên Website:
http://csdl.thutuchanhchinh.vn là một trong những thành tố của kết
cấu hạ tầng thông tin quốc gia.
1.1.8. Hành chính
Thuật ngữ “hành chính” xuất phát từ tiếng Latinh “Administratio” là
quản lý, lãnh đạo.
Theo từ điển tiếng Pháp, thì “hành chính” là hoạt động quản lý, điều
hành các công việc hàng ngày của cơ quan nhà nước bằng pháp luật, là dịch
vụ công.
Theo Đại từ điển tiếng Việt
1
, hành chính thuộc phạm vi quản lý của
Nhà nước theo luật định, thuộc về công văn, giấy tờ, kế toán trong cơ quan
nhà nước.
Trong Hành chính học đại cương, các tác giả lại có cách định nghĩa
khác. Theo nghĩa rộng, hành chính là những biện pháp tổ chức và điều
hành của các tổ chức, các nhóm, các đoàn thể, hợp tác trong hoạt động của
giải theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính là một quá trình thay đổi cơ
bản lâu dài, liên tục cơ cấu quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt động có
ý thức của bộ máy nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các bộ phận và
cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và xã hội. Đồng thời, phối hợp
các nguồn lực để tạo ra hiệu lực và hiệu quả quản lý các sản phẩm phục vụ
nhân dân thông qua các phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực. Theo
cách phân tích này, cải cách hành chính là những thay đổi được xây dựng
có chủ định nhằm cải tiến cơ bản các khâu trong hoạt động quản lý của bộ
máy nhà nước như lập kế hoạch, cải cách thể chế, tổ chức, công tác cán bộ,
tài chính công, điều hành, phối hợp, kiểm tra và đánh giá.
Theo nghĩa hẹp, cải cách hành chính là quá trình thay đổi nhằm nâng
cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ và phương
24
pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới
trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính nhà nước.
Trong các tài liệu của Liên Hợp Quốc về cải cách hành chính thì đó
chính là những cố gắng có chủ định nhằm đưa những thay đổi cơ bản vào
hệ thống hành chính nhà nước thông qua những cải cách có hệ thống hoặc
các phương thức để cải tiến ít nhất một trong bốn yếu tố cấu thành của nền
hành chính công: 1. Thể chế; 2. Cơ cấu; 3. Đội ngũ công chức; 4. Tiến
trình.
Ở nước ta, căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp
hành Trung ương Khoá VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp
hành Trung ương Khoá X, có thể hiểu cải cách hành chính là trọng tâm của
công cuộc tiếp tục xây dựng và kiện toàn Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, bao gồm những thay đổi có chủ định nhằm hoàn thiện thể
chế của nền hành chính; cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành của bộ máy hành
chính các cấp và đội ngũ cán bộ công chức để nâng cao hiệu lực, năng lực