ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
Đề tài:
NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
CỦA NHNN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007-2011
Fed : Cục dự trữ liên bang
BOT : Ngân hàng Thái Lan.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 3
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng 16
Sơ đồ 1.2. Cơ chế tác động của OMO qua lãi suất 16CHƯƠNG 2
Bảng 2.1. Số lượng thành viên thị trường mở qua các năm 44
Bảng 2.2. Tình hình hoạt động NV thị trường mở 6 tháng
đầu năm 2011 49
Bảng 2.3. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51
Bảng 2.4. Doanh số giao dịch nghiệp vụ thị trường mở qua các năm 52
Biểu đồ 2.1. Lượng tiền NHNN hút ròng 9 tuần liên tục 4/5
đến hết 1/7 /2011 50
Biểu đồ 2.2. Lượng tiền cung ứng ròng qua nghiệp vụ thị trường mở 51
Biểu đồ 2.3. Bơm ròng trên thị trường mở năm 2011 theo tháng 53
Biểu đồ 2.4. Số dư trên thị trường mở năm 2011 và đầu năm 2012 54
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT. 2
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, BẢNG BIỂU 3
MỤC LỤC 4
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I. 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN
HÀNG TRUNG ƯƠNG 10
1.1. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ - MỘT CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 10
1.1.1. Khái niệm về chính sách tiền tệ 10
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ 10
1.1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng) 11
1.1.2.2. Mục tiêu điều hành 11
1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian 11
1.1.2.2.2 Mục tiêu hoạt động 11
1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ 12
1.1.3.1. Dự trữ bắt buộc 12
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu 12
1.1.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở 13
1.1.3.4. Lãi suất 13
1.1.3.5. Hạn mức tín dụng 14
1.1.3.6. Tỷ giá hối đoái 14
1.2. NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở 15
1.2.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng 15
1.2.2.2. Về mặt giá - Tác động qua lãi suất 16
1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM 17
1.2.3.1. Ưu điểm 17
1.2.8.1.1. Dự báo về vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng 26
1.2.8.1.2. Các quy định về nghiệp vụ thị trường mở 26
1.2.8.2. Các nhân tố khách quan 27
1.2.8.2.1. Trình độ phát triển của thị trường tiền tệ quốc gia 27
1.2.8.2.2. Hàng hoá thị trường mở do các ngân hàng nắm giữ 28
1.3. KHẢO CỨU SỰ VẬN HÀNH NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA
MỘT SỐ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT
NAM 28
1.3.1. Sự vận hành OMO của NHTW các nước phát triển 28
1.3.1.1. Ngân hàng Nhật Bản 28
1.3.1.2. Cục dự trữ liên bang Mỹ 29
1.3.2. Sự vận hành OMO của Ngân hàng Thái Lan 30
1.3.3. Sự vận hành OMO của Ngân hàng quốc gia Ba Lan 32
1.3.4. Một số kiến nghị đối với Việt Nam 33
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 6
CHƯƠNG II. 36
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 36
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP
VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 36
2.1.1. Sự cần thiết ra đời nghiệp vụ thị trường mở trong điều hành chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước 36
2.1.1.1. Hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ thấp 36
2.1.1.2. Sự tồn tại của các thị trường chứng khoán nợ 37
2.1.1.3. Xu thế hội nhập kinh tế 38
2.1.2. Quá trình hình thành và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nghiệp vụ thị
trường mở 38
2.1.2.1. Khuôn khổ pháp lý cho sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở 38
HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2007 ĐẾN NĂM 2011. 47
2.2.1. Tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 49
2.3.2. Đánh giá tình hình hoạt động nghiệp vụ thị trường mở 55
2.3.2.1. Kết quả đạt được: 55
2.3.2.2. Một số hạn chế 56
2.3.2.3. Nguyên nhân 57
2.3.3. Một số đề xuất 58
DANH MụC TÀI LIệU THAM KHảO 62
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 63
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 64
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 8
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính sách tiền tệ là một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng
trong quá trình điều hành các hoạt động của nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách tiền
tệ thực sự có ý nghĩa và thể hiện đúng vai trò vị trí của mình hay không lại phụ
thuộc vào quá trình sử dụng các công cụ để thực thi chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương. Để thực hiện vai trò và trách nhiệm đã được quy định tại Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã sử dụng các
công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường
mở.
Sau một thời gian dài chuẩn bị về hàng lang pháp lý, trang thiết bị, nhân lực,
… nghiệp vụ thị trường mở đã được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức
khai trương vào ngày 12/7/2000. Trải qua hơn 11 năm hoạt động, nghiệp vụ thị
trường mở đã được thực hiện an toàn, góp phần quan trọng vào việc điều tiết và
kiểm soát lượng tiền cung ứng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, cũng như các
công cụ chính sách tiền tệ khác của Ngân hàng nhà nước, nghiệp vụ thị trường mở
đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Số lượng các tổ chức tín dụng tham gia ít, doanh
nước Việt Nam giai đoạn 2007 đến năm 2011.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Hồ Hữu Tiến và các thầy cô khác trong
khoa TC-NH, Trường ĐHKT Đà Nẵng đã hướng dẫn tận tình và luôn em trong
suốt thời gian làm Đề án. SVTH
Tán Anh Kha
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 10
là trọng tâm hoạt động của một NHTW.
1.1.2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Nội dung của CSTT thể hiện thông qua việc thiết kế hệ thống mục tiêu của
CSTT trong từng thời kỳ bao gồm các mục tiêu tổng quát và hệ thống mục tiêu điều
hành.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 11
1.1.2.1. Mục tiêu tổng quát (mục tiêu cuối cùng)
Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước. Sự điều chỉnh lượng tiền cung
ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ sở đó góp phần tăng
trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ngoài các mục tiêu vĩ mô trên, một số nước
còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế phát triển đặc
thù quốc gia. Tuy nhiên do tính chất mâu thuẫn giữa các mục tiêu nên NHTW
không thể theo đuổi tất cả các mục tiêu trên trong một khoảng thời gian nhất định.
Điều này buộc NHTW phải có sự lựa chọn và ưu tiên cho những mục tiêu quan
trọng trong từng thời kỳ mặc dù mục tiêu ổn định giá cả luôn là mục tiêu dài hạn
của NHTW.
1.1.2.2. Mục tiêu điều hành
Các mục tiêu chính sách trên chỉ là mục tiêu cuối cùng mà các CSTT nhắm
tới. Đây là các mục tiêu mang tính định tính nên để tạo điều kiện thuận lợi trong quá
trình điều hành CSTT, các NHTW đều xây dựng hệ thống mục tiêu điều hành mang
tính định lượng cụ thể hơn.
Mục tiêu điều hành là các biến số tiền tệ có tác động mạnh theo một chiều
nhất định đến mục tiêu cuối cùng (mục tiêu chính sách) của CSTT. Căn cứ vào sự
phát triển và diễn biến của thị trường tiền tệ, NHTW các nước đều lựa chọn các
mục tiêu điều hành của CSTT. Mục tiêu điều hành của CSTT bao gồm mục tiêu
trung gian và mục tiêu hoạt động.
1.1.2.2.1 Mục tiêu trung gian
1.1.3. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
Để thực hiện CSTT theo các mục tiêu đã xác định trong từng thời kỳ, NHTW sử
dụng một số công cụ CSTT nhằm tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi
suất (chi phí) vay vốn. Công cụ CSTT là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi
NHTW nhằm tác động trực tiếp tới các mục tiêu hoạt động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới mục tiêu trung gian, từ đó đạt được các mục tiêu cuối cùng của CSTT.
1.1.3.1. Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc (DTBB) là số tiền mà các NHTM buộc phải duy trì trên một
tài khoản tiền gửi tại NHTW trong một thời kỳ nhất định. DTBB được tính trên cơ
sở tỷ lệ DTBB do NHTW quy định đối với từng loại tiền gửi cấu thành nên nguồn
vốn hoạt động của một ngân hàng. Tỷ lệ DTBB do NHTW quy định và được xác
định bằng một tỷ lệ % nhất định trên tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại
NHTM. Tỷ lệ DTBB được áp dụng có phân biệt đối với các loại tiền gửi có thời
hạn khác nhau, quy mô và tính chất hoạt động của NHTM.
DTBB tác động tới cung ứng tiền tệ bằng cách gây ra thay đổi số nhân cung
ứng tiền tệ. Tỷ lệ DTBB tăng lên sẽ làm giảm số tiền gửi được nâng đỡ bởi một
mức nhất định của cơ số tiền tệ và dẫn đến việc thu hẹp cung ứng tiền. Mặt khác,
tỷ lệ DTBB giảm xuống sẽ dẫn đến một sự tăng lên của cung ứng tiền tệ do việc
tạo thêm tiền gửi gấp nhiều lần. Việc quy định tỷ lệ DTBB do NHTW quyết định
tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của nền kinh tế.
1.1.3.2. Chính sách chiết khấu
Chiết khấu là một trong những hình thức cho vay của NHTW đối với các NHTM.
Khi cấp một khoản tín dụng cho NHTM, một mặt NHTW đã làm tăng lượng tiền cung
ứng, mặt khác tạo cơ sở cho các NHTM tạo bút tệ cũng như khai thông được năng lực
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 13
thanh toán của họ.
Chính sách chiết khấu bao gồm các quy định về hạn mức chiết khấu, lãi suất chiết
khấu và điều kiện cho vay của NHTW đối với các ngân hàng. NHTW cho vay ngắn hạn
suất của các ngân hàng, NHTW điều chỉnh các lãi suất của mình, từ đó tác động đến lãi
suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, cuối cùng sẽ tác động đến lãi suất huy động,
cho vay của các ngân hàng. Ngoài ra, NHTW có thể quản lý trực tiếp lãi suất của các
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 14
TCTD đối với nền kinh tế thông qua quy định các mức lãi suất cụ thể về cho vay và huy
động. Tuy nhiên hình thức quản lý trực tiếp lãi suất này chỉ phù hợp tại các nước có hệ
thống tài chính tiền tệ chưa phát triển, và xu hướng chung là giảm dần sự quản lý trực
tiếp này.
1.1.3.5. Hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là một trong những công cụ can thiệp trực tiếp của NHTW để
khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của hệ thống tổ chức tín dụng cung ứng cho
nền kinh tế đảm bảo mức tăng trưởng của tổng phương tiện thanh toán theo mục tiêu đề
ra. Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các ngân hàng phải tôn trọng
khi cấp tín dụng cho nền kinh tế. Mức dư nợ quy định cho từng ngân hàng căn cứ vào
đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, trong định hướng cơ cấu kinh tế và trong giới hạn
tổng dư nợ tín dụng dự tính của toàn bộ nền kinh tế trong một thời gian xác định.
Hạn mức tín dụng được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống
chế tổng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Do vậy cơ chế tác động của nó mang tính
áp đặt của NHTW đối với hệ thống ngân hàng.
1.1.3.6. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan giữa sức mua của đồng nội tệ và đồng ngoại tệ,
hay có thể nói là giá cả của đồng tiền này đo bằng một đồng tiền khác. Tỷ giá vừa
phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa biểu hiện quan hệ cung cầu ngoại tệ. Đến
lượt mình, tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, có tác
động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
Chính sách tỷ giá tác động nhạy bén và mạnh mẽ đến sản xuất, xuất nhập khẩu hàng
hoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế, vốn đầu tư và dự trữ của
quốc gia.
Xét về mặt hình thức, thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán
nợ cả ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên khác với các khái niệm có phạm vi và loại
hình công cụ rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường
mở ở các nước khác nhau lại khác nhau về phạm vi, loại hình công cụ và thời hạn
của các công cụ giao dịch trên thị trường. Đối với một số nước, hàng hoá giao dịch
trên thị trường mở chỉ gồm các GTCG ngắn hạn và đối tác tham gia chỉ là các
TCTD. Khi đó, thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Đối với nước
khác như Mỹ, Đức thì các GTCG dài hạn cũng có thể giao dịch, khi đó thị trường
mở bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Điều đó có nghĩa là các giới
hạn, quy định khác nhau về hàng hoá và đối tác tham gia OMO với NHTW sẽ quyết
định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước.
1.2.2. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
Thông qua hoạt động mua, bán các GTCG trên thị trường mở, NHTW đã tác
động trực tiếp đến dự trữ của các ngân hàng và ảnh hưởng gián tiếp đến các mức lãi
suất trên thị trường, từ đó tác động trực tiếp đến các mục tiêu của chính sách tiền tệ
cả về mặt giá và mặt lượng.
1.2.2.1. Về mặt lượng - Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Hành vi mua bán các GTCG trên thị trường mở của NHTW có khả năng tác
động ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua ảnh hưởng đến
tiền gửi của các ngân hàng tại NHTW (nếu các NHTM là đối tác tham gia OMO) và
tiền gửi của khách hàng tại hệ thống ngân hàng (nếu các khách hàng là đối tác tham
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 16
gia OMO).
Sơ đồ 1.1. Cơ chế tác động của OMO tới dự trữ ngân hàng
Khi NHTW thực hiện bán GTCG cho các ngân hàng thì tiền gửi của ngân
NHTW
bán
GTCG
Dự trữ
NH
giảm
Dự trữ mở
rộng cho
vay giảm
Khối
lượng TD
giảm
MS
giảm
Cung TPKB
tăng
NHTW bán
TPKB
Dự trữ NH
giảm
Đầu tư
giảm
Cung của quỹ
cho vay giảm
Lãi suất ngắn
hạn tăng
góp phần làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng.
1.2.3. Ưu điểm và nhược điểm của nghiệp vụ TTM
1.2.3.1. Ưu điểm
Nghiệp vụ TTM có nhiều ưu điểm hơn so với các công cụ khác của CSTT:
- Nghiệp vụ TTM xảy ra theo sáng kiến của NHTW và vì vậy NHTW kiểm
soát quy mô của nó một cách hoàn toàn. Sự phát triển như vậy không thể đạt được
khi sử dụng các nghiệp vụ khác, ví dụ cho vay chiết khấu, trong đó NHTW có thể
khuyến khích hoặc cản trở các Ngân hàng vay chiết khấu thông qua việc thay đổi lãi
suất chiết khấu, nhưng không thể kiểm soát khối lượng cho vay chiết khấu.
- Nghiệp vụ TTM vừa linh hoạt, vừa chính xác. Nó có thể được sử dụng với
bất kì quy mô nào. Nếu NHTW muốn có sự thay đổi nhỏ trong dự trữ hoặc cơ sở
tiền tệ, nghiệp vụ TTM có thể giúp nó đạt được mục tiêu này thông qua bán hoặc
mua một lượng nhỏ chứng khoán. Ngược lại nếu nó muốn có sự thay đổi rất lớn
trong dự trữ hoặc thay đổi tiền tệ, thì công cụ nhiệp vụ TTM cũng mạnh đủ để làm
điều đó thông qua việc mua hoặc bán một lượng CK rất lớn.
- Nghiệp vụ TTM có thể dễ dàng đảo ngược. Nếu phạm phải một sai lầm nào
đó trong nghiệp vụ TTM, NHTW có thể sửa chữa ngay. Nếu NHTW cho rằng lãi
suất vốn liên bang quá thấp do đã mua quá nhiều trên TTM, nó có thể ngay lập tức
sửa đổi tình trạng này bằng cách thực thi việc bán trên TTM.
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 18
- Nghiệp vụ TTM có thể được thực hiện một cách nhanh chóng. Nó không gắn
với bất kỳ độ trễ hành chính nào. Khi NHTW quyết định thay đổi cơ sở tiền tệ hoặc
dự trữ, nó chỉ cần ra lệnh cho các CK nhà buôn thực hiện và hoạt động giao dịch
ngay lập tức được thực hiện.
1.2.3.2. Nhược điểm
- Vì ảnh hưởng của nghiệp vụ TTM đến cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác động
ngược chiều nên dự trữ của Ngân Hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các
hoạt động mua, bán CK của NHTW. Chẳng hạn, dòng tiền chảy ngược chiều của
hiện OMO thường xuyên và hiệu quả, lãi suất thị trường mở có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc định hướng, chỉ đạo lãi suất thị trường và qua đó NHTW có thể hạn
chế những biến động của lãi suất thị trường.
OMO là một công cụ CSTT có tính chủ động cao. OMO do NHTW chủ động
khởi xướng, khác với các nghiệp vụ cho vay hỗ trợ vốn khác của NHTW thường do
các ngân hàng có nhu cầu vay vốn chủ động khởi xướng. Như vậy, NHTW có thể
chủ động thực hiện OMO theo định kỳ hoặc vào các thời điểm cần thiết. OMO có
thể được thực hiện linh hoạt xét trên góc độ về khối lượng cũng như thời gian giao
dịch. NHTW có thể thực hiện OMO ở quy mô lớn/nhỏ (khối lượng mua bán GTCG
lớn/nhỏ) với thời hạn dài/ngắn tuỳ theo quyết định mua/bán GTCG.
OMO có thể khắc phục được những hạn chế của các công cụ kiểm soát tiền tệ
trực tiếp và các công cụ gián tiếp khác. Các giao dịch OMO có tính hai chiều, qua
đó NHTW có thể bơm thêm tiền vào lưu thông hoặc rút tiền từ lưu thông, trong khi
công cụ TCV chỉ có thể bơm thêm tiền vào lưu thông. Mặt khác, với công cụ OMO,
NHTW có thể chủ động hơn trong việc điều tiết lưu thông, không phụ thuộc nhiều
vào ý muốn chủ quan của NHTM như trong công cụ TCV. Qua việc tính toán và dự
báo vốn khả dụng cũng như lượng tiền cung ứng, NHTW có thể biết chính xác được
khối lượng tiền cần bơm thêm hoặc rút về từ lưu thông.
1.2.4.2. Đối với các đối tác của ngân hàng trung ương
Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong cơ chế thị trường ngày càng đa
dạng dẫn đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn khả dụng cần phải chủ động và linh
hoạt hơn. Hiện nay trong cơ cấu nguồn vốn của các ngân hàng, tiền gửi không kỳ
hạn và có kỳ hạn với thời gian dưới 12 tháng thường chiếm tỷ trọng từ 60-70%. Vì
vậy, vấn đề cấp bách hiện nay đối với các ngân hàng là làm thế nào để sử dụng vốn
linh hoạt hiệu quả và giải quyết được khó khăn tạm thời về vốn khả dụng trong thời
gian ngắn, không gây ách tắc trong thanh toán cũng như đáp ứng nhu cầu tăng
trưởng tín dụng.
Thị trường mở là nơi các đối tác của NHTW được chủ động tham gia mua bán
GTCG với NHTW và lãi suất thực sự là mang tính thị trường. Thông qua thị trường
phần thúc đẩy các thị trường tài chính phát triển. Từ đó, tạo điều kiện cho các trung
gian tài chính thu hút vốn trong nền kinh tế và thay đổi thói quen tiết kiệm, tiêu
dùng của các hộ gia đình trong nền kinh tế.
Thị trường mở có sự gắn kết chặt chẽ với các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị
trường nội tệ liên ngân hàng. Sự phát triển của thị trường mở tác động mạnh đến sự
hoàn thiện và phát triển của thị trường liên ngân hàng.
Mặt khác, hiện nay Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập vào
nền kinh tế thế giới. Việt Nam phải thực hiện các cam kết yêu cầu của các tổ chức
tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế hay các quốc gia phát triển, trong đó có yêu
cầu về cải cách hệ thống ngân hàng và nâng cao tính minh bạch trong các hoạt động
của NHTW. Tại các quốc gia phát triển hay các quốc gia trong khu vực Đông Nam
á đều sử dụng OMO trong điều hành CSTT để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính vì vậy, việc sử dụng OMO là một điều kiện cần thiết để hội nhập nền kinh tế
vào khu vực và thế giới.
1.2.5. Thành viên nghiệp vụ thị trường mở
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 21
Thị trường mở là một thị trường có tính chất mở nên các thành viên thị trường
rất đa dạng với các mục đích khác nhau. Nhìn chung, mọi nhà đầu tư đều có thể là
đối tác giao dịch với NHTW trong các giao dịch OMO nếu thoả mãn những tiêu
chuẩn cụ thể của NHTW ở các nước. Các tiêu chuẩn này nhằm mục đích: (i) Các
đối tác phải đảm bảo độ tin cậy nhất định và (ii) Việc giao dịch với các đối tác phải
có hiệu quả xét trên khía cạnh can thiệp của NHTW. Thông thường, thành viên
OMO bao gồm:
1.2.5.1. Ngân hàng trung ương
NHTW là người tổ chức, xây dựng và vận hành hoạt động của thị trường mở
theo các mục tiêu CSTT. NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại
OMO và tần suất sử dụng OMO. NHTW tham gia thị trường thông qua việc mua
bán các GTCG nhằm tác động đến dự trữ của hệ thống ngân hàng để đảm bảo khả
nhiều nước, 70% giao dịch can thiệp của NHTW trên thị trường mở được thực hiện
thông qua các nhà giao dịch sơ cấp. Khi đó, NHTW chỉ thực hiện mua bán GTCG
với các nhà giao dịch sơ cấp. Và để thực hiện được vai trò này, các nhà giao dịch sơ
cấp phải có nguồn vốn đủ mạnh đáp ứng yêu cầu quy định của NHTW và phải sẵn
sàng thực hiện vai trò người tạo lập thị trường trong tất cả các phiên đấu thầu tín
phiếu kho bạc.
1.2.6. Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở
Các loại GTCG được sử dụng trong các giao dịch OMO ở các nước có khác
nhau. Tại Anh, Mỹ, OMO được hiểu là nghiệp vụ mua bán các chứng khoán Chính
phủ của NHTW nhưng chủng loại các GTCG của Chính phủ được sử dụng lại
phong phú hơn ở một số nước khác như Nhật Bản, úc, Pháp. Hơn nữa, tại một số
nước chỉ cho phép các GTCG ngắn hạn được sử dụng trong OMO, nhưng tại một số
nước khác thì các GTCG dài hạn cũng được sử dụng làm hàng hoá của OMO. Như
vậy, OMO không giới hạn cụ thể về chủng loại cũng như thời hạn các GTCG giao
dịch, nhưng bao gồm những loại chủ yếu sau:
1.2.6.1. Tín phiếu kho bạc
Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục
đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính. Thời hạn của tín
phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng. Đây là loại hàng hoá chủ yếu của OMO ở hầu
hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii)
Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của
NHTW với mức độ và quy mô khác nhau.
Việc sử dụng tín phiếu kho bạc trong OMO có một số ưu điểm nhất định. Khi
NHTW bán tín phiếu kho bạc thay cho việc phát hành tín phiếu NHTW để thực
hiện CSTT thắt chặt thì gánh nặng về thực hiện CSTT sẽ chuyển sang ngân sách và
được thể hiện rõ ràng trên số liệu ngân sách. Mặt khác khi thị trường tiền tệ chưa
phát triển, số dư tín phiếu kho bạc lại khá lớn thì việc sử dụng tín phiếu kho bạc để
thực hiện CSTT sẽ giảm rủi ro của việc phân tách thị trường.
1.2.6.2. Tín phiếu ngân hàng trung ương
Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công
một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Thời hạn của CD có thể từ 7 ngày đến 7 năm
nhưng thường là ngắn hạn. CD được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do
các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút
tiền gửi trước hạn.
1.2.7. Phương thức giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
1.2.7.1. Các loại giao dịch của nghiệp vụ thị trường mở
Có 2 loại giao dịch trên thị trường mở là giao dịch không hoàn lại (mua bán
hẳn) và giao dịch (mua bán) có kỳ hạn.
1.2.7.1.1. Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn)
Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn) là các giao dịch mua bán GTCG của
NHTW theo phương thức mua đứt, bán đoạn trên cơ sở giá thị trường. Theo phương
thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho
Đề án môn học: Tài chính tiền tệ GVHD: T.S Hồ Hữu Tiến
SVTH: Tán Anh Kha - 35k15.2 Trang 24
NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch. Do vậy tác động của
giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn.
1.2.7.1.2. Giao dịch mua bán có kỳ hạn
Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm
thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược.
Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một
thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó. Repos đảo
ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ
bán lại vào một ngày xác định trong tương lai. Thông thường, Repos và Repos đảo
ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn
khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt. Giao dịch theo hợp đồng Repos thực
chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị
trường cao.
Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong OMO do các lý
do: (i) Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng