BỌC NGOẠI' THƯƠNG
I
INH
ỉ Ế
Ni*OẠI
THƯƠNG
V
WầL
HIM
thực kiện ì
Nguyễn
Huyền
Lương
:
Nhật
2
-
K40F
.
KTNT
hướng dân :
PGS.TS.
Nguyễn
Nhu
Tiến
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH
hướng dn
:
Nguyễn
Huyền Lương
: Nhật 2
-
K40F
-
KTNT
:
PGS.TS.
Nguyễn
Như
Tiến
"TI
ú
HÀ NÔI
-
2005
Rủi ro và giảm
thiều
rủi
ro
trong
ký
kết
vả thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Ì
CHƯƠNG
loại rủi
ro 6
1.2.1.
Căn
cứ vào
tính
chất
của
rủi
ro
6
1.2.2.
Căn
cứ vào
phạm
vi
ảnh
hưởng
của
rủi
ro
7
Ì
.2.3
Căn
cứ vào khả
năng
bảo hiểm
7
1.2.4.
rủi
ro
trong
kí kết
và
thực
hiện
hợp đồng
XNK 19
CHƯƠNG
2:
RỦI RO
THƯỜNG
GẶP
TRONG
KÍ KẾT VÀ
THỰC
HIỆN
HữP
ĐỔNG
XNK 21
2.1.
Khái quát về họp đồng XNK 21
2.1.1.
Khái
niệm hợp
đồng
XNK 21
2.1.2.
Đặc
đàm phán
kí
kết
hợp
đồng
XNK 26
2.2.3.
Rủi
ro trong
vận chuyển
hàng
hoa
34
2.2.4.
Rủi
ro
bảo hiểm
37
2.2.5.
Rủi
ro
do chính
tr,
pháp
lý
38
Nguyễn Huyên Lương
-
Nhật 2
-
thương mại
46
2.3.
Nguyên nhân dẫn đến
rủi
ro
49
2.3.1.
Nguyên nhân khách
quan
49
2.3.2.
Nguyên nhân
chủ quan
51
2.3.2.
Ì.
Nguyên nhân
từ
phía nhà nước
51
2.3.2.2.
Nguyên nhân
từ
phía
doanh
nghiệp
CHƯƠNG
3:
CÁC
lý
ngoại
hối
64
3.1.3.
Hội
nhập
kinh tế
quốc
tế
là
hạn
chế
rủi
ro
65
3.
Ì
.4.
Tăng
cường
sổ
hỗ
trợ
của
các
tổ
chức,
cơ
quan
tại
các nước
đối
tác
70
3.2.2.
Doanh
nghiệp
phối
hợp hài hoa
với
các
cơ
quan,
tổ
chức,
các
bộ,
ngành
trong trao dổi
thông
tin
71
3.2.3.
Đẩy
mạnh
công tác tác
nghiệp,
mở
rộng
nghiệp
kinh
doanh
xuất
nhập
khẩu
75
3.2.6.
Xử
lý,
khắc
phục
hạn
chế hậu
quả
khi
rủi
rỏ
đã
xảy
ra
76
3.2.7.
Thành
lập hiệp hội
chủ
hàng
XNK 78
KẾT
LUẬN
giới,
trong
những
năm gần đây
Việt
Nam đã và đang dần dần mở
cửa, hội
nhập
với
khu vực và
quốc
tế.
Là
một
lĩnh
vực
quan
trọng
được các nước ưu tiên
trong
quan
hệ
kinh tế
quốc
tế,
hoạt
dộng
kinh
doanh
XNK như một thước
thương
mại trở
thành một nhu cầu
tổt
yếu của
đời sống
thương mại toàn cầu
với
sự
phát
triển
mạnh
mẽ của
khoa
học - công
nghệ.
Sau
đại hội
VI của
Đảng,
nhờ
sự đổi
mới
mạnh
mẽ
trong
tư duy
kinh tế,
giải
phóng sức
là
một
minh chứng
cho
dường
lối,
chủ
trương,
chính sách đúng đắn
của Đảng
và Nhà nước
ta.
Tuy
nhiên,
hoạt
động XNK không chỉ mang
lại
những
lợi
ích
kinh
tế
mà còn
tiềm
ẩn
nguy
cơ gây
rủi
ro,
gây
hoạt
động
kinh
doanh
XNK
trở
lên đa
dạng
hơn,
hiệu
quả
hơn
tuy
nhiên
rủi
ro cũng
phát
sinh
nhiều
hem,
phức
tạp
hơn,
nhổt
là
khi
nảy sinh
các mâu
thuẫn
về
rủi
ro mà VN đã gặp
phải
trong
thời
gian
qua,
chúng
ta
cần
nghiên cứu
rủi
ro
trong
kí
kết
và
thực
hiện
hợp đồng XNK một cách
tổng
quát
nhổt
cả về mặt
vi
mô và
vĩ
mô nhằm đưa
ra
các
Nhật 2
-
K40F
-
KTNT Ì
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và thục hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
thiết.
Với
cách nhìn như
vậy,
tác
giả lựa
chọn
đề
tài:
"Rủi ro
và
giảm
thiểu
rủi
ro trong
kí
kết
kết luận,
khoa
luận
được
chia
thành 3 chương:
- Chương
Ì:
Khái quát về
rủi
ro.
- Chương
2: Rủi ro
thường gỡp
trong
kí
kết
và
thực hiện
hợp đồng XNK.
- Chương 3: Một số
biện
pháp nhằm
giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
2
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và thục hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
CHƯƠNG
1:
KHÁI QUÁT VỀ RỦI RO
1.1. KHÁI NIỆM VẾ RỦI RO
1.1.1.
Khái niệm
rủi
ro
Trong
kinh
doanh,
bản thân mỗi
doanh
nghiệp
thường xuyên
phải
đưa
ra
các
quyết
định,
khách
quan,
tồn
tại
độc
lổp,
khách
quan
ngoài ý
muốn
của
doanh
nghiệp.
Hoạt
động
kinh
doanh
trong
xu
thế
mở
cửa
và
hội
nhổp
kinh tế
quốc
tế,
cùng
với
phải
nhổn
thức
rằng
cơ
hội
mở
ra
càng
nhiều
thì
rủi
ro
càng
lớn,
cùng
với
sự phát
triển
mạnh
mẽ các
loại
hình
kinh
doanh quốc
tế,
tính
chất
của
các
có
thể
đo
lường được". Theo
nhà
kinh
tế
học
Allan
Wilett:
"Rủi ro
là
bất
trắc
cụ
thể
liên
quan
đến
việc xuất hiện
một
biến
cố không
mong
đợi".
Đối
với Marilee
Hurt
MélCarty, một nhà nghiên
cứu
đó là tính
ngẫu
nhiên
của
rủi
ro song
chưa nêu
được
tấc
động,
hổu quả
của
rủi
ro.
Theo
nhà
kinh tế
học
Irving
Pfeffer
"Rủi
ro là một
tổng
hợp sự
ngẫu
nhiên có
thể
đo
lường
được
nhiên, gây
thiệt
hại
về
người
và
tài sản".
Nguyễn Huyền Lương
-
Nhật 2
-
K40F
-
KTNT 3
Rủi ro và giảm
thiều
rủi
ro
trong
ký
kết
và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
Theo
khái
niệm
rủi
ro
trong
bảo
hiểm
hiểm".
Hai
khái
niệm
về
rủi
ro
này đề
cập cọ
thể
hơn
về
rủi
ro
và
hậu quả của
nó
đồng
thời
đề
cập
đến
thiệt
hại
vật
chất
có
thể
đo
lường
quan
niệm
nêu
trên,
ta
có
thể
nêu khái
niệm
rủi
ro
như
sau
[1]:
Rủi
ro
là
những
tai
hoa,
tai
nạn,
sự cố
bất
ngờ,
ngẫu
nhiên
xảy
ra,
gây
gây ảnh
hưởng,
hậu quả
đối
với
con
người.
Do
đó,
nghiên
cứu
rủi
ro
và
đề
ra
các
biện
pháp
hạn
chế
là hoạt
động
cần
thiết.
1.1.2.
Khái
niệm
rủi
ro
lý,
sự
khác
biệt
về môi
trường
kinh
doanh,
chính
trị
và văn
hoa
Qua xem xét một
số
quan
niệm
về
rủi
ro cũng
như
xuất
phát
từ
thực
tế
khách
quan
trong
hoạt
động
làm giảm
hiệu
quả
kinh
doanh xuất
nhập khẩu.
1.1.3.
Đặc
điểm
rủi
ro
Từ
những
khái
niệm
nêu
trên,
ta
thấy
rủi
ro
nói
chung
và
rủi
ro
xuất
nhập
khẩu nói
riêng
giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và
thực hiện
hợp
đồng xuất
nhập khẩu
Rủi
ro
xuất
nhập khẩu
mang tính
bất
định,
người ta
chỉ có
thể
lường
trước
dược
rủi
ro
nhưng không
thể
đánh giá một cách chính xác về mức độ của
rủi ro,
người ta
phải
đề cập đến tính khả năng của
rủi
ro
nghĩa
là nó có
thể trở
thành
hiện thực
hoặc
không,
khả năng
rủi
ro
có
thể biến
thành
thế
này hay
thế
khác,
chỉ
có
thể
dự đoán nó xảy
ra
hay không
trong
trước
rủi
ro.
-
Rủi ro
có tính tương
lai.
Rủi
ro
có tính tương
lai
vì
khi
bàn đến
rủi
ro nghĩa
là nó chưa xảy
ra,
con người chỉ
dự
đoán,
đo
lường
trước
trong
tương
lai,
ở
thời
điểm
với
mỗi
giai
đoạn
nhất
định,
mỗi chủ
thể
doanh
nghiệp
cụ
thể, rủi
ro
mang tính riêng
biệt.
Hoạt
động
xuất
nhập khẩu
phụ
thuộc
vào sự phát
triển
của nền
kinh
tế
hàng
hoa, với
sự
tham gia
triển
của
nền
kinh
tế,
ví
dụ như
khi
nền
khoa học
kỹ
thuật,
công
nghệ
càng phát
triển,
kỹ
thuật
đóng
tầu hiện đại
hơn
với
những
con tàu an toàn
hơn, khắc phục
nhiều
hơn yếu
tố
rủi
ro thiên
trong
hoạt
động XNK so
với rủi
ro
kinh
doanh
nói
chung
có một
số
điểm
chú ý
sau:
Nguyễn
Huyên Lương
-
Nhật
2
-
K40F
-
KTNT
5
Rủi
ro và
giảm
thiểu
rủi ro
trong
nhiều
nhân
tố
khách
quan
và chủ
quan vì vậy
rủi
ro
XNK có
tần suất lớn
hơn.
Hai là:
Rủi ro
trong
hoạt
động XNK gắn
liền,
trực
tiếp
với
sự
biến
động
của
các nhân
tố
toàn cầu như
khủng hoảng,
suy thoái
doanh,
ngôn
ngữ,
luật
áp
dụng,
tập
quán thương
mại,
sự
di
chuyừn
hàng
hoa,
chứng
từ,
tiền
tệ thanh
toán
quốc
tế
Do
vậy,
các
loại
rủi
ro
xảy
ra
trong
chung
còn gặp
phải
những
rủi
ro
riêng.
Trong
hoạt
động
kinh
doanh cũng
như
trong
đời
sống
kinh
tế
xã
hội,
việc
phân
loại rủi
ro
là
hết
sức cẩn
thiết
dừ
hiừu
rủi
ro
Theo
căn cứ này
rủi
ro nói
chung
dược
chia
làm 2
loại.
Đó là
rủi
ro
thuần tuy
và
rủi
ro
suy đoán.
Rủi
ro
thuần tuy
là
những
rủi
ro
mang
lại
những
thiệt
thuần tuy
chỉ
có
viễn
cảnh
là
tổn
thất
hoặc
không còn
rủi
ro
suy đoán
viễn
cảnh
hứa
hẹn
việc kinh
doanh
sẽ
sinh
lòi hoặc
thua
lỗ.
Nguyễn
Huyên Lương
-
Nhật
2
-
ro
cơ bản và
rủi
ro
riêng
biệt:
-
Rủi ro
cơ bản là
rủi
ro
có ảnh
hưởng
đến toàn bộ nhóm
người
nào đó
trong
xã
hội.
Phần
lớn
rủi
ro
này
xuất
phát
từ
sự
tác
động tương hỗ về
ảnh
hưởng
đến một
số
cá
nhân,
tổ chức
mà không ảnh
hưởng
đến toàn bộ xã
hội.
Ví dụ như đắm
tàu,
cướp ngân
hàng,
hay cháy một nhà máy
Tuy
nhiên,
cách phân
loại
trên
chỉ
mang
tính tương
đối,
tuy
thuộc
vào
quan
niệm
làm
hai
loại.
Đó là
rủi
ro
có
thể
bảo
hiểm
và
rủi
ro
không
thể
bảo
hiểm.
-
Rủi ro
có
thể
bảo
hiểm:
Cách phân
loại
rủi
ro có
thể
bảo
hiểm
dựa
trên
hai
cơ sở
sau:
Một
là
chỉ
bảo
hiểm
cho
rủi
ro
hoàn toàn
ngẫu
nhiên,
rủi
ro
cố ý gây
ra
phải
bị
loại
trừ.
Hai
là
rủi
ro
có
thể
KTNT
7
Rủi
ro và
giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và
thực hiện
họp
đồng xuất
nhập khẩu
1.2.4.
Căn cứ vào nguyên nhân
sinh
ra
rủi
ro
Căn cứ vào nguyên nhân phát
sinh
rủi
ro,
ta
có
thể
chia
lửa,
tai
hoa
biển
-
Rủi ro
do các
tai
nạn
bất
ngờ
là
những
thiệt
hại
không
phải
do thiên
tai
gây
ra
mà do tác động
ngẫu
nhiên bên ngoài gây
ra
trên
biển,
trên
không,
trên
xã
hội
gây
nên
.như
rủi
ro
chiến tranh,
đình
công,
nổi
loạn
và các hành động
khủng
bố.
-
Rủi ro
do hành động riêng
lẻ
của con
người
gây nên như đào
bới
lòng
đất
gây
biến
động
địa
chấn,
quốc
tế,
môi trường
kinh tế
vĩ
mô, môi trường tác
nghiệp
gây
ra.
Sự
thiếu
ổn định các yếu
tố
này có
thể
dẫn đến
rủi
ro
cho các
doanh
nghiệp.
Bối
không
giống
như các
doanh
nghiệp
chỉ
kinh
doanh
vỳy,
những
rủi
ro
phát
sinh
từ
môi trường bên ngoài ngày càng
lớn.
Rủi
ro
điều
kiện tự
nhiên
Là
rủi
ro
do thiên
tai,
lũ
lụt,
hạn
hán,
dịch
bệnh
.tác
động xấu đến quá
trình sản
xuất, kinh
doanh
rủi
ro
trong
ký
kết
và thục hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
đang phát
triển
như
Việt
Nam. Tuy
nhiên,
chúng
ta
vẫn có
thể
phòng
ngừa
và
hạn chế
dược
những
rủi
ro
này.
Rủi
ro
về chính
trị,
pháp
quan chờc
năng của chính phủ có
thể tạo
nên sự
thay đổi,
xáo
trộn
môi trường
kinh
doanh của quốc
gia
tác động đến
lợi
nhuận
và
những
mục tiêu khác
của doanh
nghiệp.
Đây là
rủi
ro
mà các nhà
xuất
khẩu
cần
phải
chú ý vì trước
khi
xây
trị,
pháp
luật
xảy
ra
sẽ
làm đảo
lộn
mọi dự đoán của
doanh
nghiệp.
Trong
hoạt
động
kinh
doanh
XNK,
rủi
ro
chính
trị,
pháp lý
là
loại rủi
ro
khó
lường.
Một
số
loại rủi
tuyển
dụng
lao
động:
Sự
thay đổi
những
quy định về
quản
lý và
tuyển
dụng
lao
động,
ví dụ như
thay đổi
tiền
lương
tối thiểu,
lao
động nữ
hoặc
hạn
chế
lao
động nước ngoài.
- Lãi
suất:
Chính phủ có
thể
hoặc
bảo
trợ
một ngành nào
đó, quyền
phát
triển
hoặc
khai
thác
nguồn tài
nguyên hay cơ
hội kinh
doanh.
- Môi
trường,
sờc
khoe
và an
toàn,
những
quy định liên
quan
đến
kiểm
soát
chất
thải,
quy định về bảo vệ
sờc khoe cộng dồng.
trị
của
Editch
và H. G.
Koeglmayr
[19]
YẾU
TỐ
CHÍNH
TIÊU
THỨC
ĐIỂM
YẾU
TỐ
CHÍNH
TIÊU
THỨC
Thấp
nhất
Cao
nhất
Môi
trường
kinh
tế
chính
trị
1.
Sự
ổn
quốc gia
như
một
đối
tác
kinh
doanh
6. Sự
đảm
bảo
hiến
pháp
7.
Hiệu
quả của
quản
lý
hành chính
8. Những
mối
quan
hê
về
lao
đông
Hoàn
cảnh
kinh
tế
trong
Khả năng
của
thị
trường
vốn
nội
địa
15.
Lực
lượng
lao
động
chất
lượng
cao
16.
Khả năng thuê nhân công nược ngoài
17.
Nguồn năng
lượng
sần
có
18.
Những
tiêu
chuẩn về
ô
nhiễm
môi trường
19.
Những rào
cản về
đầu
tư
nược
ngoài
23.
Sự
tự
do
trong
thiết
lập
hay
cam
kết
về
hình
thức
công
ty
24.
Sự
bảo vệ cùa
luật
pháp
đối vợi
nhãn
hiệu
và
29.
VỊ
trí
tài
chính
quốc tế
30.
Những hạn
chế
trong
chuyển
đổi từ
đồng
nội
tệ
sang
ngoại
tê
(Nguồn:
Editch
và H.
G
Koeglmayr, "Country Risk Ratings"
Management
ỉnternations Review
-
số điểm
càng
cao
thì
luôn gặp
phải
những
rủi
ro
biến
động về mặt
kinh
tế.
Khi
lạm phát
xảy
ra
ở mức
cao thì
một hợp đồng
sinh
lợi
sẽ
không còn
ý
nghĩa.
Hơn
nữa,
do đặc
điểm
của
quá trình
kinh
doanh
đoái là
sự
không
chắc chắn
về giá
trị
của một
khoản
thu
nhập
hay chi trả
cho sự
biến
động
tỷ
giá gây
ra,
có
thể
làm
tổn
thất
đến giá
trị
dự
kiến
của hợp
đồng.
Trong
hoạt
so vói
tỷ
giá lúc ký
kết
hợp đồng thương
mại.
Nói cách
khác,
sự
thay
đổi tỷ
giá làm
thay đổi
giá
trị
kỳ
vọng của
các
khoản
thu
hoặc
chi ngoại tắ trong
tương
lai
làm
kết
quả
hoạt
động
kinh
nhầm đáng
tiếc,
có
thể
dẫn
đến
viắc
cóng
ty
mất
thị
phẩn
hay
khả
năng thâm
nhập
vào
thị
trường mục
tiêu.
Rủi
ro
về văn hoa thường
là
do:
- Không am
hiểu
về
phong
tục tập
động
kinh
doanh
XNK
Rủi
ro
trong
quá trình
chuẩn
bị
nguồn
hàng
xuất
khẩu,
chuẩn
bị hàng
xuất
khẩu
qua
nhiều
công
đoạn,
các
sản
phẩm hàng hoa thường qua
giai
đoạn
sản xuất,
chế
biến
trong
ký
kết
và thực hiện họp đồng xuất nhập khâu
không ổn định và
biến
động
tuy thuộc
vào mỗi
loại
hình và quy mô
hoạt
động
của
doanh
nghiệp.
Rủi ro
trong
đàm phán
Các phương
tiện
đàm phán chủ
yếu
trong
thương mại
quốc
tế
thường là
đàm phán
bằng
tiếp
(đàm phán qua thư
từ):
Rủi ro
có
thể
xẫy
ra
khi ta
chuẩn
bị kém về hình
thức
và
nội
dung hoặc
sự nhầm
lẫn
về ngôn
từ
làm
đối
tác
hiểu
nhẩm,
hiểu
sai
nội
dung
mà
ta
không thông
thạo,
tinh
tế
và
linh
hoạt
sẽ dễ bị
đối
tác
hiểu
nhầm,
từ
chối
hợp
tác
doanh
nghiệp
có
thể
mất đi
những
hợp đồng có
giá
tri.
- Hình
thức giao
dịch
trực
tiếp:
khi
soạn
thẫo
họp đồng
Quá trình
soạn
thẫo
hợp đồng là khâu
quan
trọng,
thực hiện
tốt
khâu
này
sẽ
giúp
doanh
nghiệp
có
thể
phòng
ngừa
và hạn
chế
nhiều
rủi
ro
trong
quá
trình
điều khoẫn
bẫo vệ
doanh
nghiệp
mình
khi
xẫy
ra
tranh
chấp
thương
mại. Đồng
thời
khi
soạn
thẫo
hợp
đồng,
doanh
nghiệp
cẩn chú ý
tới
thòi
gian thực hiện
hợp
dồng
tương
quan
với
giá cẫ của
của hợp
đồng,
không
đối chiếu
các
diều
khoẫn
ghi
trong
hợp đồng
với
Nguyễn Huyên Lương
-
Nhật 2
-
K40F
•
KTNT
12
Rủi
ro và
giảm
thiểu
rủi ro
trong
ký
kết
và
thực hiện
họp
người
mua thường xa
nhau,
thòi
gian vận
chuyển
lâu,
da
phần
hàng hoa hữu hình thường
vận
chuyển
bằng
đường
biển,
nhưng dù được vận
chuyển
bằng
phương
tiện
khác thì
cũng
khó tránh
khỗi
các trường hợp
tự
nhiên
bất
khả kháng. Tuy
nhiên,
nhập
khẩu
thường
chọn
những
điều
kiện với
chi
phí
nhập
hàng càng
thấp
càng
tốt,
đối với
người
xuất
khẩu
thì
ngược
lại
vì
vậy
họ
ít khi coi trọng
đến hậu quả
rủi
ro
có
thể
chủ
động
trong việc
chuẩn
bị giao
hoặc
nhận
hàng.
- Không nắm
vững
các khái
niệm
về
thời
gian
xếp
dỡ,
thời
gian
tàu đến
cảng
xếp,
dỡ
hàng,
do đó không chủ
dộng
giao
nhận
- Không nắm
vững
bị
đầy đủ
chứng
từ
cần
thiết
để
tiến
hành
kiểm
hoa,
thông
quan.
- Không thông báo đã
giao
hàng cho bạn hàng
biết
theo
quy định của
hợp
đồng.
- Không chủ động
trong việc
thuê
tàu,
nên các
doanh
nghiệp
Việt
Nam
nhập
khẩu
của
doanh
nghiệp. Bởi giao
nhận
là một
Nguyễn
Huyên Lương
-
Nhật
2
-
K40F
•
KTNT
13
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và thục hiện hợp đồng xuất nhập khẩu
trong
những
diều kiện
để giúp
doanh
ra
khi:
- Chứng
từ
xuất
trình không đúng như yêu cầu của bộ
chứng
từ,
ví dụ
như
trong
L/C yêu cầu
xuất
trình đơn bảo
hiểm
nhưng
lại
xuất
trình
giấy
chứng nhận
bảo
hiểm.
- Các
rủi
ro
bảo
hiểm
không
phải
tiền
bảo
hiểm
thấp
hơn yêu
cầu
trong
tín
dụng
thư.
-
Hiệu lực
hợp đồng bảo
hiểm
không
bắt
đầu vào đúng ngày trên
chứng
từ
vận
tải
thường là
sau
ngày
giao
hàng
ghi
trên
chứng
từ
thu
hồi
được vốn một cách đầy đủ và đúng hạn
hoặc
phải
chựu
các
chi
phí phát
sinh
không đáng có.
Ngày
nay,
cùng
với
sự phát
triển
của thương mại
quốc
tế,
sự phát
triển
của
hệ
thống
ngân hàng
với
sự hỗ
trợ
tích cực của các thành
có
thể
gặp
những
rủi
ro.
- Rủi
ro
thường gặp
trong
phương
thức
nhờ
thu
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán
trong
đó
người
bán sau
khi
hoàn thành
nghĩa
vụ
giao
hàng
hoặc cung
ứng
dựch
vụ cho khác
hàng,
và
thực hiện
hợp
đồng xuất
nhập khẩu
Có
hai
loại
nhờ
thu
là
nhờ
thu
trơn và nhờ
thu
kèm
chứng từ
[li]:
Nhờ
thu
trơn là phương
thức
trong
đó
người
bán uy thác cho ngân hàng
thu
hộ
tiền
của
nhất
là
đối với
các
doanh
nghiệp
xuất
khẩu
Việt
Nam vì nó không đồm bồo
quyền
lợi
cho
người
bán,
việc
nhận
hàng của
người
mua tách
rời
khâu
thanh
toán do đó
tiềm
ẩn
rủi
ro
rất
cao
trong
khi
không
biết
việc
giao
hàng của
người
bán có đúng hợp
đồng
hay không.
Phương
thức
nhờ
thu
kèm
theo
chứng
từ
là
phương
thức
trong
đó
người
bán uy thác cho ngân hàng
thu
hộ
tiền
ở
hàng. Nhờ
thu
kèm
chứng
từ có
hai
loại,
một là D/P
(Documents
Against
Payment
-
thanh
toán
đổi chứng
từ-
nhờ
thu
trồ
ngay)
người
mua
phồi
trồ
tiền
hối phiếu
thì
ngân hàng mới
giao
bộ
trồ
tiền
của
người
mua. Trường hợp này dùng cho
việc
bán
chịu ngắn
ngày
của người
bán cho
người
mua.
Các
rủi
ro
thường gặp
trong
phương
thức
nhờ
thu:
Người
mua từ
chối
không
nhận
hàng, không
nhận chứng
từ,
trung
gian
khống chế chứng
từ.
Người
bán gánh
chịu
chi
phí
khi
hàng
chuyển
về
nước.
Nguyễn
Huyên Lương
-
Nhật
2
-
K40F
-
KTNT
15
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
là
hình
thức
người nhập khẩu
trả
tiền
trước cho
người
xuất
khẩu
rồi
sau đó
người
xuất
khẩu
mới
tiến
hành
giao
hàng.
Do
vậy,
rủi
ro
gần
như không có
đối
với
nguôi
xuất
trả
sau:
Phương
thức
này đòi
hựi
người
xuất
khẩu
phải giao
hàng cho
người nhập khẩu
trước,
sau
đó
người nhập khẩu
mới chuyển
tiền
để
thanh
toán.
Do
vậy,
rủi
ro
đối với
các nhà
xuất
khẩu
là
nhập khẩu trì
hoãn
hoặc
gặp khó khăn về
tài
chính.
Người nhập khẩu từ
chối
nhận
hàng
khi
giá cả
thị
trường đang
giảm
và vì
thế
sẽ
không
thực
hiện
việc
thanh
toán.
-
Rủi
ro đối
với
phương
thức thanh toán
định cho
người
thứ
ba
(người huống
lợi
số
tiền
của
thư
tín
dụng)
hoặc chấp nhận
hối phiếu
do
người
thứ
ba ký phát
trong
phạm
vi
số
tiền
đó
khi
người
này
xuất
trình cho ngân hàng một số
chứng từ
hoa
được
giao,
ngân hàng không
chịu
trách
nhiệm
xác
minh
tính chân
thực
của
chứng
từ
và không
chịu
trách
nhiệm về số
lượng
và
chất
lượng
hàng được
giao.
Phương
thức thanh toa
tín dụng chứng
từ
là
phương
cập.
Tuy
nhiên,
L/C không
phải
là phương
thức
tuyệt
đối
an toàn
cho
cả
người
xuất
khẩu
và
người nhập khẩu.
Rủi
ro đối với
người
nhập khẩu
Ngân hàng
tiến
hành
trả tiền
cho
người
hưởng
lợi
dựa
Do
vậy,
nếu có sự
giả
mạo
trong
việc
xuất
trình
chứng
từ giả
để
nhận
được
thanh
toán thì
người
mua
phải bồi
hoàn
lại
số
tiền
cho ngân hàng phát hành thư
tín dụng
đã
trả
cho
người
hưởng
việc
kiểm
tra
hàng
hoa.
Khi
cần
thiết
có sự
thay
đồi
về các
điều khoản
trong
hợp
đồng,
người
mua
phải
sửa
đồi
các
điều khoản
trong
L/C. Như
vậy,
thời
gian giao
hàng có
thể
toán,
như
vậy
họ
cũng
không
nhận
hàng
được.
Rủi
ro đối với
người xuất khâu
Rủi
ro
do tín
dụng
giả,
không
kiểm
tra
thư
tín dụng cẩn
thận.
Người
mua cố tình mở thư
tín dụng
khác
với nội
dung
thoa thuận
không
thể
chấp nhận được.
Thời
hạn
hiệu lực
L/C quá
ngắn
không đủ cho
người
xuất
khẩu
tập
hợp
đủ
chứng
từ
đế
xuất
trình.
Ị
T
H ư v
•
<•>'.
Loại
thư
tín dụng
không đúng như
thoa thuận.
thanh
toán
đối với
người
bán.
1.2.7.
Rủi
ro
khác
Rủi ro
do
thiếu
vốn
Đây là
rủi
ro thường gặp ở các
doanh
nghiệp
Việt
Nam. Để
tham gia
một
cách tích cực và có
hiệu
quẩ vào thương mại
quốc
tế,
các
doanh
nghiệp
giữ thị
trường dẫn
tới
thị
phần
của
doanh
nghiệp
ngày càng bị
thu hẹp. Việc
thiếu
vốn còn làm cho quá
trình
thực
hiện
các hợp đồng
xuất
nhập khẩu
không đẩm bẩo.
Rủi ro
do
thiếu
thông
tin
Trong
thời
đại
bùng nổ của
khoa
học công
thông
tin
thì sẽ gây khó khăn
trong việc
ra
quyết
định
kinh
doanh
và có
thể
gây ra
những
tổn
thất rất lớn.
Rủi ro
do
thiếu
thông
tin
thường xẩy
ra dưới
các hình
thức
như
sau:
-
Thiếu
thông
tin
xuất
các sẩn phẩm trên
thị
trường
thế
giới.
-
Thiếu
kiến
thức
về
thị
trường mà
doanh
nghiệp
tác
nghiệp.
Rủi ro
do
thiếu
trình độ chuyên môn
nghiệp
vụ
Rủi
ro
do
thiếu
trình độ chuyên môn
nghiệp
vụ là
trong
ký
kết
và thực hiện
họp
đồng xuất nhập khâu
Phân
loại
và
định
dạng
rủi
ro
là bước
quan
trọng
để
giúp
doanh
nghiệp
lựa
chọn
đúng các
biện
pháp phòng
tránh,
hạn
chế
rủi
ro
XNK nói
riêng,
rủi
ro
là
nguy
cơ
thường
trực
và
khách
quan,
thường
xuyên de dọa
làm
tổn hại
đến
hiệu
quả
kinh
doanh.
Mục tiêu của mọi
doanh
nghiệp
là
tỗi
da
hoa
lợi
nhuận, song
và
đưa
ra
hướng
giải
quyết
một cách chủ động
nhất.
Để
tỗi
đa hoa
lợi
nhuận,
Doanh
nghiệp
phải
xem
xét
tất
cả mọi
yếu
tỗ từ
khâu sản
xuất
đến
khâu
lưu
thông phân
phỗi
hàng
đó
trở
nên
phức
tạp
hơn, nguy
cơ
dự
đoán
sai nhiều
hơn. Mặt
khác,
hiệu
quả của
hoạt
động
kinh
doanh
không
chỉ
đơn
thuần
là so sánh
kết
quả
và
chi
phí
mà
còn
dạng
rủi
ro
đồng
thời
đưa
ra
các
biện
pháp hạn
chế,
phòng
trừ.
Khi
rủi
ro
xảy
ra, giải
quyết
hậu quả của
nó
đỗi với
các bên ảnh
hưởng
trong
quá trình thương
lượng,
mua
bán không
chỉ dừng
pháp hạn
chế
rủi
ro
là
cần
thiết
dể
chứng minh chủ
thể
tránh được trách
nhiệm
dân sự.
Trong
xu
thế
mở
cửa
và
hội
nhập,
các
doanh
nghiệp
đều
có xu
hướng
phất
triển
là vươn
Nguyền Huyên Lương
-
Nhật
2
•
K40F
-
KTNT
19
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và thực hiện họp đồng xuất nhập khâu
Tóm
lại,
rủi
ro
trong
hoạt
động
kinh
doanh
XNK là một yếu
tố
tất
yếu
thể
là nguyên nhân gây
tổn
thất
trong
hoạt
động XNK là cứn
thiết.
Điều
này không chỉ góp
phứn
để cá
nhân,
doanh
nghiệp
đó
hoạt
động
kinh
doanh
hiệu
quả
hơn,
mà còn góp
phứn
đẩy
mức
nhận
thức
và lý
Rủi ro và giảm
thiểu
rủi
ro
trong
ký
kết
và thục hiện
hợp
đồng xuất nhập khẩu
CHƯƠNG
2:
RỦI
RO THƯỜNG GẶP
TRONG
KÍ KẾT VÀ
THỰC
HIỆN HỢP ĐỔNG XNK
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HỢP ĐỔNG XNK
2.1.1.
Khái niệm hợp
đồng
XNK
Hợp đồng
xuất
nhập
khẩu
còn
gọi
là
xuất
khẩu
(Bên
bán)
có
nghĩa
vụ
chuyển
vào
quyền sở hữu cổa
một bên khác
gọi
là
Bên
nhập
khẩu
(Bên Mua)
một
tài
sản
nhất
định,
gọi
là hàng
hoa;
Bên Mua có
nghĩa vụ nhận
hàng và
trả tiền
hàng.
Mua
(bên
nhập
khẩu).
Họ
có
trụ
sở
kinh
doanh
ở
các
nước
khác
nhau.
Bén Bán
giao
một
giá
trị
nhất
định,
và,
để
đổi
lại,
Bên Mua
phải
trả
một
định
(speciíic
goods)
và cũng
có
thể
là
hàng đồng
loại
(generic
goods).
(d)
Khách
thể
cổa hợp
đồng
này
là
sự
đi
chuyển quyền sở hữu
hàng hoa
(chuyển
chổ hàng
hoa).
Đây
là
sự khác
biệt
so
khác
với
hợp đồng
mua
bán
trong
nước
ở
những
điểm
sau
đây:
Nguyễn Huyền Lương
-
Nhật
2
-
K40F
-
KTNT
21