ụ
TRƯỜNG
ĐẠI
HỌC
NGOẠI
THƯƠNG
KHOA
KINH TE
NGOẠI
THƯƠNG
FOREIGN
TTCílĐE UNIVERSITY
KHÓA
LUẬN TỐT NGHIỆP
(Đềiàh
NHỮNG
ĐIỂM MỚI VỀ CHÊ
ĐỊNH
THƯƠNG NHÂN
TRONG
LUẬT
THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM NĂM 2005
Sinh
viên
thực
hiện
:
NỘI
-
2005
Mò
i
((tin
ổn.
Chế định thương nhân nói riêng và pháp
luật
thương mại
Việt
Nam nói
chung
là một đề tài
phức
tạp
và
rộng
lớn.
Việc
nghiên cứu
thấu
đáo
cũng
như
đưa ra
những
giải
pháp cụ
thể
này
xin
được góp một
phần
nhỏ vào sự xem xét đó.
Được
sự cho phép của Khoa
Kinh
tế Ngoại
Thương - Trường
Đại
học
Ngoại
Thương - Hà
Nội,
người
viết xin
được
chọn
vấn đề "Những điểm mới
về Chế định thương nhân trong Luật Thương mại
Việt
Nam năm 2005" làm
đề tài
khoa
luận
tốt
nghiệp
cho mình.
Do khả năng có hạn,
học Ngoại
Thương - Hà
Nội,
đặc
biệt
là sự giúp đỡ
tận
tình và chu đáo của
GS.TS.NGƯT Nguyền Thị Mơ
- với
tư cách là giáo viên
hướng
dẫn.
Người
viết
xin
trân
trọng
cảm ơn Trường
Đại
học
Ngoại
Thương, Hả
Nội
và Khoa
Kinh
tế Ngoại
Thương đã
tạo
mọi
Chế
định thương nhân
trong Luật
Thương
mại
Việt
Nam
năm
2005
MỤC LỤC
LÒI
NÓI
ĐẦU
CHƯƠNG Ì - NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH THƯƠNG NHÀN THEO
LUẬT
THƯƠNG
MẠI
VIỆT
NAM NĂM
2005
4
ì. KHÁI NIỆM VÊ THƯƠNG NHÂN 4
1.
Thương nhân
và
vai
trò
của
thương nhân
trong
số
nước
11
li. LUẬT THƯƠNG MẠI VIỆT NAM NẤM 2005 VÀ CHẾ ĐỊNH THƯƠNG
NHÂN
22
1.
Vài nét về sự
ra
đòi
của Luật
Thương mại
năm
2005
22
2.
Thương nhân
và
vị trí,
vai
trò
của chế
định
thương nhân
trong
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005
cục của Luật
Thương mại
năm
2005
khi
quy
định
chế
định
thương nhân
32
li. NHŨNG ĐIỂM MỚI TRONG NI DUNG VÊ CHẾ ĐỊNH THƯƠNG NHÂN
CỦA LUẬT
THƯƠNG
MẠI NĂM
2005
35
1.
Những
điểm
mói
trong
cách
hiểu
về thương nhân
35
2.
Những
điểm
mói
mới
trong
cách quy định về
quyền
và
nghĩa
vụ của
thương nhân 53
4.
Những
điểm
mới
của Luật
Thương mại năm
2005
về
hoạt
động
thương mại
của
thương nhân nước ngoài
tại
Việt
Nam 67
CHƯƠNG 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ÁP DỤNG TRONG THỰC TẾ NHỮNG
QUY
ĐỊNH
VỀ CHẾ
ĐỊNH
THƯƠNG NHÂN
hướng
dẫn
cho
thương nhân để họ có
kiến
thức
và
kinh
nghiệm
thực
tiễn
để
thực
thi
nhanh
chóng và đúng
luật
81
3.
Thúc đẩy công tác tư
vễn,
giải
thích
luật
84
4.
Tăng
cường
công tác
kiểm
pháp,
cụ
thể là
Chế
định
thương nhân
trong
Luật
Thương
mại
năm
2005
86
2.
Cần
nhanh
chóng
thực
thi
và
thực
hiện
nghiêm túc
những
quy
định
về Chế
định
thương nhân
trong
JC7QICĨ
Những
điểm mói
vé Chế
định
thương nhân
trong
Luật
Thương
mại
Việt
Nam
năm 2005
LỜI
NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Văn
kiện Đại hội
Đảng toàn
quốc
lần thứ
IX đã đề ra
chiến
lược phát
triển
năm
2001-2010
với
mục tiêu
tổng
con
người,
năng
lực
khoa
học và công
nghệ,
kết
cấu hạ
tầng,
tiềm lực kinh tế
quốc
phòng, an
ninh
được tăng cường,
thể
chế
kinh
tế
thị
trường định hướng xã
hội
chủ
nghĩa
được hình thành về cơ
bản,
vị
thế
của
nước
như quá trình
hội
nhập
kinh tế
là tự do hoa thương mại.
Trong
quá trình
tự
do hoa thương
mại, việc
xây
dựng
và hình thành hệ
thống
pháp
luật
là một
nhiệm
vụ
hết
sức
quan
trọng
và là cơ sọ để
thực
hiện hội
nhập.
Yêu cầu
đặt ra
là hệ
thể thấy
rằng
pháp
luật
thương mại
Việt
Nam đã có
những
bước
tiến
lớn
và vô cùng
quan
trọng.
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm 1997 được Quốc
hội
thông qua tháng 5 năm 1997 (có
hiệu lực
từ Ì tháng Ì năm
1998)
là một
thành
tựu
quan
trọng trong
công tác
lập
thống.
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm 2005
ra đời với việc
sửa
đổi
khá
nhiều
trong
chế định thương
(Văn
kiện
Đại hội
Đảng loàn quốc
lẩn thứ
IX
-
Đàng Cộng sản
Việt
Nam. NXB Chính
trị
quốc
gia
năm
2001).
(Vũ ư/tattỉt
7fỉu'tì'iifẬ
Ì
vậy,
việc
nghiên
cứu,
tìm
hiểu
và đánh giá
những
điểm
mới của
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
2005
vừa mới ban hành quy định về Chế
định
thương nhân - một
chế
định thương mại
quan
trỷng
của
Luật
Thương
mại,
để
từ
đó
thực
2005"
đã
được
chỷn
làm
chủ
đề
của khoa
luận
tốt
nghiệp
này.
Mục đích nghiên cứu
Mục đích cùa
khoa
luận
này
là
tìm
hiểu nội
dung
cơ bản của
chế
định
thương nhân
trong
Luật
Thương mại năm
2005, cũng
như phân tích
quả
chế
định
thương nhân nói riêng và Pháp
luật
Thương
mại
năm
2005
nói
chung.
Đôi tượng và phạm
vi
nghiên cứu
Đối
tượng
nghiên cứu của
khoa
luận
là các quy định về thương nhân.
Phạm
vi
nghiên cứu
của khoa
luận
giới
hạn ở
những
quy định và
nội
điểm
của chủ nghĩa
Mac-Lênin
về
Chủ
nghĩa
duy
vật biện
chứng
và chủ
nghĩa
duy
vật lịch sử, kết
hợp
chật
chẽ với
tư
tưởng
Hồ Chí
Minh
và các
quan
điểm
của
Đảng
Cộng Sản
Việt
Nam. Khoa
luận
được hoàn
JCtí'íĩ'tiự
2
Mép.:
MJJU
-
OÍ40T)
-
Những
điểm
mói
vé Chế
đinh thương nhân
trong
Luật
Thương mại
Việt
Nam
năm 2005
Bố cục của khoa luận
Ngoài
lời
cảm
ơn,
lời
nói
đầu,
mục
lục,
và
danh
Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005.
-
Chương
IU:
Một
số giải
pháp để áp
dụng
trong
thực
tế
những
quy định
về chế
định
thương nhân
trong
Luật
Thương
mại
Việt
Nam năm
2005.
(Vũ &hatth
'3ùư&nụ
Thương nhản
và
vai
trò của thương nhân
trong
nền
kinh
tê
thị
trường
Thời
kỳ sơ
khai
của xã
hội
loài
người,
hoạt
động chủ yếu
chỉ
là săn bắn,
hái
lượm,
làm
ra sản phẩm nhằm
phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng của
nội
bộ
công xã nguyên
được
củng
cổ
và mở
rộng
quy mô.
Việc
trao
đổi
hàng hoa không còn mang
tính
chất
phổ
biến
là
ngẫu
nhiên như trước nữa
mà nó
dẩn dần được chuyên
môn
hoa,
"sự
trao
đổi giữa
những
người
sản
xuất
riêng
biệt
thời
với
những
biến đổi
trên,
một
tầng lớp
người
mới
trong
xã
hội
đã hình
thành.
Họ
không
trực
tiếp
sản
xuất
ra
sản
phẩm nhưng
lại
có
tác động
mạnh
mẽ
tới
sản
sản xuất
phụ
thuộc
vào mình về mặt
kinh tế;
họ
tự
đứng
ra
làm kẻ
trung
gian
không
thể
thiếu
được
giữa hai
người
sản
xuất
và bóc
lột
cả
hai"'
2
'.
Đó
chính là
tầng lớp
thương nhân.
NXB
Sự
thật
1984,
tr 254.
r
ỉ)ũ Ợltimìi
"3ôttfí'itụ
4
Những
điểm
mối
về Chế
đinh thương nhân
trong
Luật Thương mại
Việt
Nam
năm
2005
mình
trong
xã
hội.
"Hàng hoa không
những chuyển từ
tay
người
này
sang tay
kháng
trong
xã
hội,
đó chính
là các nguyên nhân cơ bản làm phát
sinh
Nhà nước và Pháp
luật.
Như
vậy,
chúng
ta
có
thể thấy rằng hoủt
động thương mủi
cũng
như các
thương nhân đã
xuất hiện trong
xã
hội
loài
người từ
thời
kỳ cổ
đủi.
Tuy vậy,
trong
thời
Tuy
nhiên,
trong
thời
kỳ này có
thể
pháp
luật
dân sự
vẫn
có
vai
trò ưu
thế
hơn so
với
các
tập
quán thương
mủi.
Với
sự
phát
triển
mủnh
mẽ
của
hoủt
động thương
mủi, từ
bộ hơn.
Nhũng quy
tắc
nghề
nghiệp trong
quan
hệ
giữa
các thương nhân ban đẩu là
những
tập
quán thương
mủi
lưu
truyền giữa
các
vùng,
từ đời
này
sang
đời
khác.
Người
ta
gọi
đó
là
pháp
luật
của các thương
tính ổn định và
thống nhất.
Với
sự phát
triển
của phương
thức
sản
xuất
tư bản chủ
nghĩa,
sự
vận
động
của
các
quan
hệ hàng hoa -
tiền
tệ
ngày càng
mủnh
mẽ,
quan
hệ thương mủi
cũng
không
ngùng được mở
rộng
về phủm
lập
để
điều chỉnh
một
cách có
hiệu
quả một
loủi
quan hệ đủc
thù và
phổ
biến -
quan
hệ thương
mủi.
Hoủt
động thương mủi
cũng
như các thương nhân
cũng
đã
xuất hiện
khá lâu
đời
ở Châu Á, qua các thòi kỳ đã có các bước phát
triển
đáng lưu
ý.
Tuy nhiên do
những
cảng")
nên chưa
đạt
được sự phát
triển
nhảy
vọt
như ờ Tây Âu. Pháp
luật
các
quốc
gia
Châu Á
thời
phong
kiến
hầu như không có quy định riêng về
quan
hệ thương
mại,
chỉ điều
chỉnh
các
quan
hệ dân sự
dưới
hình
thức
Luật
hình
triển
của
hoạt
động thương mại
và sự
ra đời
của
tầng
lớp
thương nhân.
Trong
hình thái
kinh tế
xã
hội
cộng
sản
nguyên thúy, lực lượng sản
xuất
thấp
kém, nền
kinh
tế
mang
tính
chất
tự
nhiên,
tự
cung,
nhau
trong
xã
hội
xuất
hiện.
Cùng
với
quá trình đó,
tiền
tệ
đã phát
sinh
và
tạo
điều
kiện
cho sự
ra đời
một
nghề
mới
trong
xã
hội
-
nghề
buôn bán
trao đổi
hàng hoa. Những
mại.
Lúc bấy
giờ,
khái
niệm
thương mại được
hiểu
đơn
thuần
là buôn
bấn, tức
là
chỉ
thuần
tuy
là
việc
mua hàng hoa
với
mục đích để bán
lại
(chứ
không tiêu dùng) nhằm hưấng
lợi
nhuận
trên cơ sấ chênh
lệch
giá mua bán.
Với
sự
kỳ sơ
khai
cho đến
giai
đoạn
chế độ
phong
kiến.
Tuy
vậy,
chúng vẫn chỉ là các
tập
quán thương mại
thiếu
tính
thống
nhất
và ổn
định.
Khi
mầm mông
quan
hệ sản
xuất
tư bản chủ
nghĩa
xuất
hiện trong
lòng xã
hội
Thương
mại
Việt
Nam
nám
2005
triển
và
trở
nên
phức
tạp.
Tầng
lớp
thương nhân
trở
thành một đẳng
cấp
có
thế
lực
trong
xã
hội,
nghề
thương mại
trở
thành một
nghề
độc
Luật
dân
sự
không
thể
điều
chỉnh
một cách có
hiệu
quả.
2. Pháp
luật
thương mại - Cơ sở pháp lý
điều
chỉnh
hoạt
động cốa thương
nhân
Trong
quan
hệ thương
mại,
chố
thể
chố yếu và không
thể
thiếu
là
các
thương
động này về mặt chố
quan,
các thương nhân cần
phải
nắm
vững
các
nghiệp
vụ thương
mại,
về mặt khách
quan,
họ cần có các
quy tắc
rõ
ràng,
ổn
định,
thống nhất
và công
bằng
để
điều
chỉnh
các hành
vi,
hoạt
động
cốa bản
thân
động
thương mại sẽ
trở
nên hỗn
loạn,
hệ số
rối
ro
trong
mọi
quan
hệ thương
mại
sẽ cao
dẫn đến
hậu quả
bất
lợi
cho
xã
hội
nói
chung
và
kinh
doanh
thương
mại
nói riêng.
Như
bình đẳng cho
tất
cả các thương nhân
khi
tham
gia
thương
trường.
Trong
nền
kinh
tế thị
trường,
các
hoạt
động thương mại
bất
hợp pháp như
buôn bán hàng
giả, trốn
thuế,
canh-tranh
hợp
pháp
có
nhiều
cơ
hội
nảy
sinh.
một
tất
yếu,
không
thể
tránh
khỏi.
Trong
điều
kiện
thương
mại
ngày càng phát
(Vù
^Ịhanh
*3tm'ơnạ
7
Mứu!
QOja
-
Jí4<yj) - OC7Qirj
Những
điểm
mối về Chế
định thương nhân
trong
Luật
Thương mại
Việt
Nam năm
bạc. Đối
với
các thương nhân,
tranh
chấp
kéo dài còn
có
thể
ảnh hưởng bất
lợi
đến uy tín
kinh
doanh
của họ. Chính vì vậy mà
thương nhân luôn mong muốn thoát
ra khỏi
vòng
tranh
chấp
càng
nhanh,
càng
ít
tốn
kém càng
tốt.
Nộm
bột
được nhu cầu
trên,
Nam.
Giao
dịch
giữa
các thương nhân được
điều chỉnh
trước
hết bởi
các quy phạm đạo
đức, phong
tục,
tập
quán, thông
lệ,
thói
quen
kinh
doanh
trong
các phường
hội.
Đâu đó
cũng
có
những giả
thuyết
rằng
nguồn
gốc pháp
luật
địa vị
pháp lý riêng
biệt,
và vì vậy không có
luật
riêng cho họ.
Các
giao
dịch
thương mại đương nhiên đã
diễn
ra từ
rất
sớm,
song
về cơ bản,
chúng chỉ
trở
thành
đối
tượng
điều chỉnh
của pháp
luật
phong
kiến
phương
Đông
dưới
khía
quan
hệ sản
xuất
đa
dạng
cần được pháp
luật
điều
chỉnh
phù
hợp.
Hiến
pháp
Việt
Nam năm 1992 công
nhận
sự
tổn
tại
của
nhiều
loại
hình chủ
thể
đại
diện
cho các thành
phần
kinh tế
khác
Do các
quan
hệ sản
xuất
và
kinh
doanh
thay
đổi
về số lượng
cũng
như
chất
lượng như
vậy,
ngành
(Vũ ưỉiem/t
7ôưfíttợ
8
Mép:
Qhju -
OC40D
- DCVQIV
Những diêm mói
về
Chế định thương nhân
trong
Luật Thương mại
Việt
Nam
luận
này,
song
có thể
cũng
là cơ
hội
để suy
nghĩ
về một
cuộc
cải
cách căn bản tư duy pháp lý
hiện
chưa
theo kịp
những
chuyển
dịch
cơ
cấu
kinh
tế
đang
diễn ra
ở nước
ta.
Luật
Thương mại đã đưừc Quốc
hội
Việt
Nam. Qua hơn 7 năm
thực
hiện,
Luật
Thương mại năm 1997 đã có
những
tác động tích cực đến
đời
sống
kinh
tế
- xã
hội
của
Việt
Nam,
từng
bước
đưa
hoạt
động thương mại vào nể
nếp,
khuyến
khích và phát
triển
hoạt
động
thương mại hừp
pháp,
đòi
hỏi
phải
sửa
đổi
vì
nhiều
lý
do,
trong
đó có
thể
kể đến các lý do cơ bản sau
đây:
Một
là:
Hoạt
động thương mại
tại
Việt
Nam
trong
những
năm qua đã
phất
triển
mạnh
mẽ. Tuy nhiên,
nhiều hoạt
động trên
hoạt
động thương mại mới
xuất hiện
hoặc
các
doanh
nghiệp
đang
có nhu cầu
thực hiện
nhưng
hiện
chưa có quy định pháp
luật
điều
chỉnh
cụ
thể,
trong
khi
những
chế định
chung
của
Luật
Thương mại năm 1997 không áp
dụng
đưừc (ví dụ
hoạt
động nhưừng
mói vé
Chế
đinh thương nhân
trong
Luật
Thương
mại
Việt
Nam
năm
2005
thương mại đa
dạng
và
phong
phú,
từng
bước
tiếp
cận
với
trình độ
quốc
tế
đã
đặt ra
yêu cầu cần
phải
sửa
đổi Luật
là
Hiệp
định
thương mại
Việt
Nam - Hoa Kỳ
(BÁT).
Hiện
nay
Việt
Nam
cũng
đang
thực
thi
các cam
kết
trong
ASEAN
và đẩy
mạnh
việc
đàm phán
gia
nhập
Tổ
chức
Thương mại Thế
giới
(WTO)
Thương mại năm 1997 chưa phù hứp, không thể
hiện
kịp thòi các quy định của BTA và WTO,
thiếu
cơ sở pháp lý cho
việc
thực
hiện
các cam
kết
trong
BTA nói riêng và quá trình
hội
nhập
kinh
tế
quốc
tế
nói
chung
(ví dụ còn một số quy định mang tính phân
biệt
đối
xử chưa hứp
lý,
thiếu
quy định liên
quan
đến một số vấn đề
quan
tế,
theo
quy định của
Luật
Thương mại năm 1997
cũng
chưa tương thích
với
điều
ước và
tập
quán thương
mại
quốc
tế
đã đưức
thừa
nhận
rộng
rãi trên
thế
giới
như Công ước Viên năm
1980
về mua bán hàng hoa
quốc
tế,
tập
quán
theo Incoterms,
hệ
ngoại
thương của
Việt
Nam.
Ba
là:
Từ
khi
có
Luật
Thương mại năm 1997
tới
nay,
nhiều
văn bản quy
phạm pháp
luật
mới đã đưức ban hành
hoặc
đã và đang đưức sửa
đổi,
bổ
sung
cho
phù hứp
với
sự phát
triển
của
Luật Thương mại
Việt
Nam
năm
2005
thích
với
Pháp
Lệnh Trọng
tài Thương mại về khái
niệm
hoạt
động thương
mại )
Ngoài
ra, việc
soạn
thảo
Bộ
Luật
Dân sự
(sửa đổi) với
mục tiêu xây
dựng những
quy định
chung về
hợp đồng
cũng
đặt ra
yêu
đổi,
bổ
sung
hợp
đồng
Do
đó,
Luật
Thương mại
chỉ củn
quy định
những
nội
dung
mang
tính
chuyên ngành
về
hợp đồng
trong
lĩnh
vực
thương
mại,
trong
đó
chủ yếu
là
hợp
đồng
khẳng
định
rằng
việc
có
những
điều về
chính sách thương
mại
trong
Luật
Thương mại năm 1997
là
một bước
đột
phá
trong việc
chuyển
hướng
trong
các chính sách thương mại của
Việt
Nam
khi
nền văn hoa của chúng
ta chuyển sang
cơ chế
thị
trường.
Tuy
của
từng
thòi
kỳ
trong khi
luật
lại
không
thể
chế hoa
cụ
thể
các chính sách đó.
Vì
những
lý do
trên,
Luật
Thương
mại
năm 1997
củn
phải
sửa
đổi
nhằm
nâng
cao
tính
khả
hệ mua bán
quốc
tế
ngày càng phát
triển
mạnh
mẽ,
việc
tìm
hiểu
kinh
nghiệm
xây
dựng
hệ
thống
pháp
luật
thực
định
của
các nước
về
thương
mại
với
các
chế
định
cụ
Việt
Nam
với
các nước ngày càng phát
triển
mạnh,
trong
khi
đó
các quy định về mua bán
quốc
tế theo
luật
các nước và
Việt
Nam
lại
khác
nhau
ở khá
nhiều
vấn đề, vì vậy
việc
nghiên cứu hệ
thống
pháp
luật
thương
mại
của các nước càng
Việt
Nam. Trên cơ sở
đó,
giúp chúng
ta
có được
những
kiến
nghị
hợp lý và có
tính khử
thi trong việc
xây
dựng
và hoàn
thiện
pháp
luật
về thương mại
Việt
Nam.
Chế định thương nhân
theo
pháp
luật
thương mại của các nước chủ yếu
gồm các
nội
dung
chính sau đây:
trong
pháp
luật
thương mại một số
nước.
3.1 Khái niệm thương nhân
3.1.1
Khái
niệm
về
thương nhăn theo
pháp
luật thương
mại
của
Pháp
Chế định thương nhân là một
trong
những
thành
tựu
trong
công tác
lập
pháp về thương mại của Pháp.Trong Bộ
Luật
Thương mại sửa
đổi
năm
2000
này đã được các
luật
gia
Pháp
(cũng
như
luật
gia
các nước
khấc)
phân tích và
01
Hoàn
thiện
pháp
luật
về thương mại và hàng
hửi
trong
điêu
kiện Việt
Nam
hội
nhập
kinh
tế.
PGS.TS
Nguyên Thị Mơ, NXB
Chinh
trị
quan,
dựa vào
quan
niệm
khách
thể:
Bộ
luật
1807 áp
dụng
cho các thương nhân nhưng
lại
định
nghĩa
các
thương nhân
trong
quan
hệ
với
các hành
vi
thương
mại.
Theo
định
nghĩa
này, một chủ
thể
được công
động đó đem
lại
thu
nhập
chính để thương
nhân
hoặc
gia
đình
họ có
nguồn
sinh
sống.
- Thứ
ba:
Hành
vi
thương mại đó được
thực hiện
nhân
danh
mình và vì
lợi
ích của bồn thân. Như
vậy,
những
người
làm công,
thực hiện
hành vi
mặc
dù họ
thực hiện
những
hành
vi
thương mại vì
lợi
ích của công
ty
nhưng họ
phồi
chịu
trách
nhiệm
vô hạn về
những
khoồn
nợ của công
ty
và
khi
công
ty
được
hổi
vực
bằng
biện
pháp tư pháp thì bồn thân họ
phồi thực hiện
những
hành
vi
thương mại mà công
việc
đó còn
phồi
là
nghề
nghiệp
thường xuyên của
họ<».
Như
vậy, theo
pháp
luật
của Pháp, khái
niệm
thương nhân được xác
định
theo
bồn
chất
cùa hành
vi
thương
mại.
Cùng
với
Thương mại
Việt
Nam. trường
Đại
học
Luật
Hà
Nội,
NXB Công An Nhân Dân. Hà Nội -
2001,tr.52
r
Oũ @hantt
'Jôưtíttạ
13
Móp: Qhju
-
3C40<T)
-
OCĨJQl<3
Những
điểm
mối
về
Chế đinh thương nhân
trong
Luật
Thương mại
Việt
Nam
năm
sư,
luật
sư,
bác
sĩ ),
những người
làm
công và
nói chung những
người
được
trả
công không
phải
là
thương nhân"
1
.
Các quy định trên đây
của
Pháp
về
thương nhân đem
lại
một cách
hiứu
khá
rõ
ràng
về
coi
là
thương
nhân,
đều được pháp
luật
bảo
vệ.
Cần
phải
nhấn
mạnh
rằng,
định
nghĩa
thương nhân
trong
pháp
luật
thương
mại
của
Pháp
bao
trùm
cả
các thương nhân
là
thứ
nhân và thương nhân
vi
thương
mại
đứ làm
chuẩn
pháp lý cho
nghề
nghiệp
của
người
được
coi
là
thương nhân.
3.1.2 Khái niệm thương nhăn theo pháp luật thương mại của Đức
Ớ
Đức,
Bộ
Luật
Thương mại
lấy
tiêu chí chủ
thứ
làm
điứm
mấu
chốt,
nên các quy định về thương nhân khá
phức
tạp.
mua bán
hàng hoa
giấy
tờ
có giá
trị;
sản
xuất (chế
tạo
hoặc
cải tiến
hàng
hoa cho người
khác;
dịch
vụ bảo
hiứm,
ngân
hàng;
dịch
vụ vận
chuyứn
hàng hoa và hành
khách;
đại
lý và kho
vận; đại diện
và môi
giới
thương
mình)
không
phụ
thuộc
họ có
đãng
ký vào
danh
bạ thương
mại
hay không.
"'
Francis
Lemeunier,
Nguyên lý và
thực
hành
Luật
Thương
mại, Luật
kinh
doanh.
NXBCTQG,
Hà
nội 1993).
121
Giáo trình
Luật
Thương mại
Việt
Bộ
Luật
Thương
mại
nhưng do họ có đăng ký vào
danh
bạ
thương mại nên họ có tư cách thương
nhân.
Tuy
nhiên,
Bộ
Luật
Thương mại
chia
nhóm này thành
hai
trưòng hợp:
+ Trường hợp đăng ký
bắt
buộc:
đó
là những
người
kinh
doanh
thủ
công
hoặc
kinh
phải
có
nghĩa
vụ
(bắt
buộc)
đăng ký vào
danh
bạ thương
mại.
+ Trường hợp đăng ký
tự
nguyện:
những
người
kinh
doanh
trong
lĩnh
vực
nông
nghiệp,
lâm
nghiệp
có
quyền
(chứ
không có
nghĩa
vụ)
ty
thương
mại.
Do
hình
thức
pháp lý mà các công
ty
thương mại
cũng
được
gọi
là thương nhân
không phụ
thuộc
vào
việc
công
ty
có
kinh
doanh
thương mại hay
không.
Các
công
ty
này bao gồm: công
ty
hợp
là
những
người
có
hoạt
động
kinh
doanh
thương
mại
(có
thực hiện
các
giao
dịch
quy định
tại
khoản
2
Điều
Ì Bộ
Luật
Thương
mại)
nhưng do cách
thức
và phạm
vi
kinh
doanh
phần )
nhưng họ
cũng
bình đẳng
với
các thương nhân đầy đủ.
-
Ngoài
ra
pháp
luật
của
Đức còn quy định một trường hợp
gọi
thương
nhân
giả
tạo.
Đó là
những
người
về bản
chỏt
không
phải
là thương nhân
(không
thuộc
các
thuộc
tưởng
họ là thương nhân và
thiết
lập
các
quan
hệ,
vì
vậy,
họ
phải
được
đối
xử như
là
một thương nhân.
Như
vậy,
ở
Đức,
thương nhân có
thể xuất
phát
từ
tính đương nhiên do
nghề
nghiệp
hay đăng ký vào
danh
bụ thương mụi
4 Bộ
Luật
Thương mụi
Nhật
Bản năm
2002
quy
định:
-
Thuật
ngữ "thương nhân" được sử
dụng
trong
Bộ
luật
này dùng để chỉ
những
người
thực hiện
nhân
danh
bản thân mình các hành
vi
thương mụi như
nghề
nghiệp.
- Nhũng
người
thực hiện
việc
các hành
vi
thương mụi như một
nghề
nghiệp.
Điều
này
cũng
được
áp
dụng
đối với
công
ty
có bản
chất
được nói
tụi
Điều
52
khoản
2.
Điều
5 bổ
sung
quy
định:
trong
trường hợp vị thành niên
thực hiện
thực hiện
hành
vi
thương mụi như là một
nghề
nghiệp
của mình. Hành
vi
đó
phải
được
thực hiện
nhân
danh
thương nhân để
tránh nhám
lẫn với
những
người
làm thuê cho thương nhân. Ngoài
ra,
hành
vi
mua bán hàng hoa hay hành
vi
sản
xuất
-
khai
thác được xem là hành vi
công
ty
- Bộ Tư pháp
CHLB
Đức
u)
Giáo
trinh
Luật
Thương mụi
Việt
Nam. trường
Đụi
học
Luật
Hà
Nội,
NXB Công An Nhãn Dân. Hà
Nội
-
2001.tr.54.
(Vũ Ưỉiem/t
7ôưfíttợ
16
Mép
í
QOja
- JC4(yT) - DCCĩQVTỈ
Những điểm mói
về
gia
vào
hoạt
động
kinh
doanh.
3.1.4 Khái niệm thương nhân theo pháp luật thương mại Hoa Kỳ
Bộ
Luật
Thương mại
Thống
nhất
của Hoa Kỳ (Uniíorm
Commercial
Code
-
viết tứt
là UCC) năm 1952 quy định thương nhân là
"người
tiến
hành
hoạt
động
kinh
doanh
hàng hoa các
loại
thông qua công
việc
lâu dài của
và
tổ
chức'
3
';
"hàng
hoa"
ở đây bao gồm mọi
thứ
được
trao
đổi
tại thời
điểm
xác định
theo
hợp
đồng'
4
'.
Như
vậy,
ucc
cũng
đồng
nhất
quan
điểm
với
Bộ
thứ
hai,
ucc
đặt ra
yêu cầu cho thương nhân về kỹ năng
đối với
hàng hoa mà mình
kinh
doanh,
nghĩa
là
phải
có một
trình
độ,
kỹ
năng,
hiểu
biết
nhất
định
mới
trở
thành thương
nhân.
Mặc dù không chính
thức
quy
định
đó
được
quy
định
trên
cơ
sở
các
nội
dung
cơ
bản của
Luật
dân
sự,
ngoài
ra
còn có các quy
định
riêng,
mở
rộng
hay hạn
chế
năng
lực
hành
vi
thương mại
trong
các quy
'
a
Điều 2
-
104 -
ucc.
r
— •-T;-\
"> Điều Ì - 102 - ucc. THƯ Vỉ
r-
ti
Ị
(,,
Điều2-105-UCC.
TS.ÌCA;
Oi'— .ị
(Vũ
Qhanh
7ốưtì,iụ
Lỉ
,1|7
Mạn
-
OC4ƠV
-
3t®OV3
Những
điểm mối
về
Chế
các hành
vi
thương mại độc
lập.
Những
người
chưa đủ 18
tuổi
và
những người
đủ 18
tuổi
nhưng chưa được thoát
quyền đều
không có nâng
lực
hành
vi
thương
mại.
Những
người
làm một số
nghề
nhất
định như công
chức,
luật
sư,
nhân viên
tự
do mà
điều
lệ
tổ
chức nghề
nghiệp
đó cấm đoán
cũng
không
được
kiêm
nghiệm nghề
kinh
doanh
thương
mại.
Những
người
là nghệ
sĩ trong
một số
trường
hợp
nhất
định
không được hành
nghề
thương
mại.
nhất
định
đối với
năng
lực
pháp
luật
thương
mại.
Theo
Bộ
Luật
dân sự
Nhật Bản, người
đủ 20
tuổi
trở
lên được
coi
là
người
thành niên có đầy đủ năng
lực
hành
vi
trừ
một sô trường hợp bị mất
năng
lực
hành
tham
gia kinh
doanh hoặc
được phép
trở
thành thành viên
có trách
nhiệm
vò hạn
của
công
ty
trong
phạm
vi
khả năng cùa thành viên đó
thì cũng
được
coi
là
có năng
lực
hành
vi
thương
mại.
Theo
pháp
luật
của Thái
diện
hợp pháp
hoặc
theo lệnh
cho
phép
của
Tòa án
khi
có
lợi
cho
vị
thành niên
đó. Người
có hạn
chế về
thể
chất
hoặc
tinh
thần
có
thể
bị
toa
án tuyên
là
không có
khả
2005
nom châm sóc.
Người
đàn bà có
chồng
có toàn
quyền
trong
phạm
vi
tài sản
riêng của mình.
Trong
trường hợp
người chồng
có thái độ
minh
thị
hay mặc
thị
công
nhận
sự
kinh
doanh
riêng của
người
vợ
từ
khối
khi
chỉ
hướng
đến nhằm công
khai
hoa về mặt pháp lý và
đặt
ra nghĩa
vụ tài chính của thương nhân
đối
với
Nhà nước mà không nhằm
vào
việc
tạo lập quyền
hoạt
động thương
mại.
Ví dụ
điển
hình như pháp
luật
của
Pháp quy
định,
đối với thể
nhân
đãng
ký
trong
chứng tỏ quyển
kinh
doanh
thương mại
đối
vối
thể
nhân đã được xác
lập
trước
thời
điểm
đăng ký
kinh
doanh
thương mại.
Pháp
luật
của Thái Lan
cũng
có
những
quy định tương
tự.
Tuy
từng
trường
hợp,
luật
pháp của các
lập,
đặc
biệt
là các
thủ tục quảng
cáo
(đối
với
pháp
nhân là công
ty
hay
tổ
hợp vì
lợi
ích
kinh tế)
hay
trong
thời
hạn 15 ngày kể
từ
ngày bụt đầu
hoạt
động
hoặc
ngày
khai
trương
trụ
thương nhân có trách
nhiệm
phải
khai
báo để
ghi
vào sổ.
U)
Giáo trình
Luật
Thương mại
Việt
Nam, trường
Đại
học
Luật
Hà
Nội,
NXB Công An Nhân Dân. Hà Nội -
2001.tr.
60.
l2)
Sdđ,
tr.61.
19
Những
điểm
mói về Chế đinh thương nhân
trong
Luật
nhân
phải
đăng
ký
vào sổ đăng
ký
thương mại
khi bắt
đầu
kinh
doanh
và
khi
có
sự
thay đổi
hay chấm
dểt
hoạt
động thương mại
(Bộ
Luật
Thương mại
và
Luật
những
ngoại
lệ
đặc
biệt
doanh
phải
đăng
ký
với
phòng
đãng
ký
thương
mại
trong
vòng 30 ngày
sau
khi
bắt
đầu
kinh
doanh.
Các công
ty
đăng
ký
tại
địa
phương,
các
hội
kinh
doanh
thông thường (cóng
thể
nhân,
pháp nhãn
thương mại nước ngoài
kinh
doanh
ở
Thái Lan
cũng bắt buộc
phải
đãng
ký.
Việc thay
đổi,
chấm
dểt
hay
phá
sản
cũng
phải
được
ghi
nhận
vào
nội
dung
văn bản đăng
ký
thương
Thương
mại và
pháp
lý
kinh
doanh
-
Viện
nghiên
cểu
KHTTGC,
UB
Vật giá
Nhà nước
1989).
-
Ở
Đểc,
việc
đăng ký vào
danh
bạ thương
mại
tuy thuộc
vào
loại
hình
thương nhân. Danh
bạ
thương mại
bạ thương mại
là
điều
kiện
pháp lý
cần
thiết
để công
nhận doanh
nghiệp
có
tư
cách pháp
nhân.
Khi
thương nhân
bị
phá
sản thì
Toa án
cũng
ghi
vào
sổ
ghi
những
quyết
định
về
việc