LUẬN VĂN:
Xu thế phát triển tất yếu Ngành hàng
không dân dụng Việt Nam nói chung và
Cụm cảng hàng không miền Bắc và sân
bay quốc tế Nội Bài nói riêng Lời mở đầu
Hàng không Dân dụng Việt Nam là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, là nhịp
cầu nối liền Việt Nam và thế giới, là một trong những nhân tố đưa đất nước ta phát triển
ngang tầm với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm vừa qua
ngành Hàng không Dân dụng Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, thực sự
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Cảng hàng không là một trong ba thành phần cơ bản trong hệ thống Hàng không
Dân dụng quốc gia. Ngày nay, các Cảng hàng không đã trở thành những tổ chức kinh
doanh có quy mô lớn và được coi như những xí nghiệp công nghiệp phức hợp, nó cung
ứng đầy đủ, tiện lợi và an toàn các dịch vụ cho các Hãng hàng không, hành khách và
hàng hoá qua Cảng. Đến với Cảng hàng không ta như đến với một thành phố thu nhỏ.
Các Cụm cảng hàng không ở Việt Nam nói chung và Cụm cảng hàng không
miền Bắc nói riêng là những đơn vị thành viên của Cục Hàng không Dân dụng Việt
Nam. Cụm cảng hàng không miền Bắc là Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích
Huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển:
Sau khi giành thắng lợi trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bước
vào giai đoạn mới của cách mạng, trước yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước và
sẵn sàng nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, việc phải xây dựng ngành Hàng không Dân dụng
thành ngành vận tải ngày càng quan trọng. Do đó, ngày 11/02/1976 Chính phủ đã ra
Nghị định số 28/CP thành lập Tổng cục Hàng không dân dụng trên cơ sở Cục Hàng
không dân dụng. Đồng thời quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của ngành trong giai
đoạn mới và xác định rõ: Cơ quan Tổng cục Hàng không dân dụng là cơ quan trực
thuộc Chính phủ, hình thành một ngành độc lập, tách khỏi chức năng không quân vận
tải, xây dựng ngành Hàng không dân dụng ngày càng hoàn chỉnh, có hệ thống trên
phạm vi cả nước; thực hiện chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật của kế hoạch Nhà nước hàng năm;
đề xuất, trình Chính phủ về chủ trương, kế hoạch phát triển quan hệ về Hàng không dân
dụng với các nước trên thế giới và giao cho Bộ quốc phòng quản lý, tổ chức, chỉ đạo,
xây dựng.
Để phân rõ khu vực quản lý, điều hành hoạt động của máy bay dân dụng và phối
hợp hoạt động với không quân được chặt chẽ. Từ sau khi thành lập, Tổng cục Hàng
không dân dụng đã thành lập ba khu vực Cảng hàng không, sân bay dân dụng trong
phạm vi cả nước:
- Sân bay Tân Sơn Nhất quản lý, điều hành các sân bay thuộc các tỉnh miền
Nam.
- Sân bay Đà Nẵng quản lý, điều hành các sân bay thuộc các tỉnh miền Trung.
- Sân bay Gia Lâm quản lý, điều hành các sân bay thuộc các tỉnh miền Bắc.
Khu vực Cảng hàng không, sân bay miền Bắc do sân bay Gia Lâm quản lý, gồm
các sân bay: Vinh, Nà Sản, Điện Biên Phủ, Cao Bằng. Nhiệm vụ của khu vực sân bay
miền Bắc không có trách nhiệm quản lý bay đường dài, mà sự quản lý này do Cục Quản
lý bay (Cục tham mưu) - chỉ huy sở trung tâm của Tổng cục Hàng không dân dụng điều
hành từ Hà Nội đến Đà Nẵng. Còn từ Đà Nẵng trở vào giao cho chỉ huy sở của sân bay
Ngày 06/07/1998 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 113/1998/QĐ-TTg
chuyển đổi Cụm cảng hàng không sân bay miền Bắc thành Doanh nghiệp nhà nước hoạt
động công ích và lấy tên là Cụm cảng hàng không miền Bắc; Theo đó Cụm cảng Hàng
không miền Bắc có các chức năng, nhiệm vụ sau:
- Quản lý và khai thác các Cảng Hàng không khu vực miền Bắc (Cảng Hàng
không Nội bài, Cảng Hàng không Cát bi, Cảng Hàng không Vinh, Cảng Hàng không
Điện biên, Cảng Hàng không Nà sản), cung cấp các dịch vụ Hàng không và các dịch vụ
công cộng khác để phục vụ cho hoạt động bay của các Hãng Hàng không trong nước và
quốc tế được an toàn, hiệu quả.
Trải qua 20 năm hoạt động, mặc dù cơ sở vật chất ban đầu còn thiếu thốn, lại
chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhưng Cảng hàng không quốc tế Nội Bài vừa
khai thác, vừa xây dựng và trưởng thành, biết vận dụng khéo léo sức mạnh tổng hợp các
nguồn lực trong và ngoài nước đã đáp ứng được nhu cầu Hàng không dân dụng, hoàn
thành nhiệm vụ lịch sử. Đến nay Cảng hàng không quốc tế Nội Bài đã có được hệ thống
nhà ga hiện đại và hình thành dây chuyền đồng bộ để phục vụ an toàn cho những loại
máy bay dân dụng hiện đại nhất trên thế giới với lưu lượng hành khách mỗi năm tăng từ
3 đến 5%. Hiện tại, sân bay quốc tế Nội Bài có đường cất hạ cánh dài 3.200m, nhà ga
hành khách T1 đã hoàn thành giai đoạn 1 với công nghệ và trang thiết bị hiện đại có thể
phục vụ từ 2,5 đến 4 triệu hành khách / năm; đường cất hạ cánh 1B dài 3.800m đang
được khởi công xây dựng và sẽ hoàn thành vào năm 2003; có hai con đường chính nối
Cảng hàng không này với thủ đô Hà Nội là quốc lộ 2 và đường cao tốc Bắc Thăng Long
- Nội Bài. Cảng hàng không quốc tế Nội Bài nằm ở vị trí trung tâm của Miền Bắc Việt
Nam, có đường ôtô đi các tỉnh, diện tích đất đang sử dụng của Cảng là 352 ha, trong đó
có 107 ha dùng cho quân sự và dân dụng. Dự kiến đất quy hoạch sử dụng của Cảng đến
năm 2010 là 815 ha. Theo tiêu chuẩn phân cấp của ICAO thì cấp tiêu chuẩn của sân bay
Nội Bài hiện tại là 4E, tức là có thể tiếp nhận được loại máy bay B747 - 400.
II- Cơ cáu tổ chức bộ máy quản lý của
Cụm cảng hàng không miền Bắc
Nhiệm vụ của Trung tâm khai thác khu ga Nội Bài là quản lý, khai thác cơ sở hạ
tầng, mặt bằng trang thiết bị phương tiện được gia theo quy định của nhà nước và phân
cấp của Cụm cảng. Phối hợp với các cơ quan chức năng của nhà nước, các doanh
nghiệp khác hoạt động khai thác tại nhà ga đảm bảo khai thác dây chuyền công nghệ ga
hàng không an toàn. Cung ứng các dịch vụ hàng không và dịch vụ công cộng khác tại
khu vực ga hàng không theo quy định của nhà nước và phân cấp của Cụm cảng
b- Trung tâm Khai thác khu bay:
Nhiệm vụ của Trung tâm khai thác khu bay là quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng,
mặt bằng, trang thiết bị phương tiện được giao theo quy định của nhà nước và phân cấp
của Cụm cảng. Cung ứng các dịch vụ thông tin, khí tượng, dẫn đường, kéo dắt tàu bay
và các dịch vụ khác có liên quan đến hoạt động phục vụ bay trong khu vực được giao
quản lý và khai thác, điều hành kiểm soát các phương tiện phục vụ trong khu vực sân
đỗ tàu bay, đảm bảo an toàn và sự hoạt động nhịp nhàng đồng bộ theo quy định trong
khu bay
c- Trung tâm An ninh hàng không:
Nhiệm vụ của Trung tâm An ninh hàng không là quản lý, khai thác cơ sở hạ
tầng, mặt bằng, trang thiết bị, phương tiện được giao theo quy định của nhà nước và
phân cấp của Cụm cảng. Kiểm tra kiểm soát giám sát người và các phương tiện được
phép hoạt động, ra vào khu cách ly, khu hạn chế, sân đỗ tàu bay, nhà ga theo quy
định hiện hành. Bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối cho hoạt động bay và các hoạt động
khác tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài. Thực hiện thủ tục an ninh hàng không đối
với hành khách, hàng hoá, bưu kiện, bưu phẩm đi và đến tại Cảng hàng không quốc tế
Nội Bài.
d- Trung tâm Khẩn nguy Cứu nạn hàng không:
Nhiệm vụ của Trung tâm Khẩn nguy Cứu nạn hàng không là quản lý, khai thác
cơ sở hạ tầng, mặt đất, trang thiết bị phương tiện được giao theo đúng quy định của nhà
nước và phân cấp của Cụm cảng. Cung ứng các dịch vụ khẩn nguy cứu nạn hàng không
trong phạm vi Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và vùng phụ cận. Tham gia tìm kiếm
cứu nạn hàng không theo kế hoạch, yêu cầu của Uỷ ban TKCN quốc gia. Chỉ đạo phối
sinh thực hiện các hoạt động cung ứng dịch vụ hoặc sản xuất kinh doanh, hoạt động tài
chính tổ chức và nhân sự theo phân cấp của Cụm cảng.
h- Khối các ban quản lý dự án:
- Ban quản lý dự án nhà ga hành khách T1.
- Ban quản lý dự án 431: Dự án đầu tư, cải tạo, mở rộng Cảng hàng không quốc
tế Nội Bài.
3. Nhận xét:
Ưu điểm của quy mô này là nó đạt tính thống nhất trong mệnh lệnh, nâng cao
chất lượng các loại quyết định, giảm bớt gánh nặng cho người quản lý cao cấp, cũng
như quy định trách nhiệm cụ thể nếu như có sai lầm. Để cơ cấu thực sự phát huy ưu
điểm Cụm cảng hàng không miền Bắc đã chú ý:
- Khi thiết kế nhiệm vụ của các bộ phận chức năng đã chỉ rõ nhiệm vụ mà mỗi
bộ phận phải thực hiện cũng như mối quan hệ về nhiệm vụ giưã các bộ phận chức năng
với nhau trong điều lệ tổ chức hoạt động của Cụm cảng. Từ đó đã tránh được sự chống
chéo trong công việc và sự đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ phận.
Ngoài ra các bộ phận chức năng cũng đã trực tiếp chỉ đạo các bộ phận trực thuộc trong
quá trình thực hiện các kế hoạch thuộc phạm vi chuyên môn của mình. Đặc biệt trong
một số trường hợp được sự uỷ quyền của Tổng giám đốc Cụm cảng thì các bộ phận
chức năng này cũng đưa ra những quyết định cho lĩnh vực thuộc phạm vi chuyên môn.
III- đặc đIểm sản xuất kinh doanh
của Cụm cảng hàng không miền Bắc:
1. Ngành nghề sản xuất kinh doanh chủ yếu:
Quản lý, khai thác các Cảng hàng không trong khu vực, cung cấp các dịch vụ
hàng không và các dịch vụ công cộng khác để phục vụ cho hoạt động bay của các Hãng
hàng không được an toàn và hiệu quả, đảm bảo phục vụ vận tải hàng không dân dụng
và hàng không quân sự.
2. Sản phẩm, dịch vụ cung ứng:
- Dịch vụ mặt bằng quảng cáo.
- Dịch vụ khác.
2.2 Các loại dịch vụ kinh doanh, bao gồm:
- Dịch vụ cho thuê văn phòng.
- Dịch vụ quảng cáo.
- Cung ứng mặt bằng kinh doanh.
- Xuất nhập khẩu vật tư, trang thiết bị chuyên ngành.
- Dịch vụ vận chuyển hành khách.
- Dịch vụ du lịch, hướng dẫn tham quan.
- Dịch vụ suất ăn, quầy bar, căng tin, hàng lưu niệm, văn hoá phẩm.
- Dịch vụ thu đổi ngoại tệ.
- Khách sạn, nhà nghỉ.
- Dịch vụ giải trí tại nhà ga Hàng không.
- Khai thác, lọc, phân phối nước.
- Dịch vụ cung cấp nhiên liệu.
- Đại lý bán vé, đại lý hàng hoá.
- Bán hàng miễn thuế, hàng thương nghiệp
- Bốc xếp hàng hoá tại máy bay, kho hàng, nhà ga.
- Kho hành lý, hàng hoá, giao nhận hành lý
- Đóng gói hành lý, hàng hoá tại Cảng hàng không.
- Trung tâm giao dịch Hàng không.
- San lấp, làm sạch mặt bằng các công trình xây dựng chuyên ngành.
- Xây dựng, sửa chữa, bảo trì, lắp đặt, khai thác các công trĩnh xây dựng cơ bản
chuyên ngành Hàng không.
- Lắp đặt các trang thiết bị cho các công trình xây dựng, điện, điện tử, cơ khí
chuyên ngành, công trình dân dụng.
- Tư vấn, thiết kế các công trình xây dựng chuyên ngành Hàng không.
- Điều phối và hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
- Hoàn thiện công trình xây dựng.
Bảng số 2: Tốc độ tăng qua các năm
Đơn vị tính: Tỷ VNĐ
Chỉ tiêu
So sánh (%)
99/98 2000/99
1. Doanh thu 121,85 111,67
2. Chênh lệch thu chi 237,90 104,28
3. Nộp ngân sách 286,88 224,63
Nhận xét:
Từ bảng số liệu trên, ta thấy rằng: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Cụm cảng có xu hướng tăng giảm không đều trong 3 năm trở lại đây. Đặc biệt, trong đó
chỉ số tăng mức chênh lệch thu chi của năm 1999 so với năm 1998 đạt 237,90% tương
ứng với mức tăng tuyệt đối là:13.846.297.511 VNĐ. Nhưng sang năm 2000 các chỉ số
kết quả này có xu hướng giảm so với năm 1999. Có thể nói rằng, năm 1999 là một năm
đánh dấu bước ngoặt thành công của Cụm cảng. Vì hoạt động kinh doanh của Cụm
cảng đã bắt đầu đem lại lợi nhuận lớn.
Biểu đồ 3: Kết quả hoạt động kinh doanh của Cụm cảng từ 1998 - 2000 IV-đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
1. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của Cụm cảng hàng không miền Bắc:
Tổ chức bộ máy kế toán trong doanh nghiệp là tổ chức quá trình hoạt động của
bộ máy kế toán nhằm thực hiện có hiệu quả những yêu cầu của công tác kế toán.
Để phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh và đáp ứng yêu cầu quản lý công
ty đã lựa chọn sử dụng hình thức kế toán vừa phân tán, vừa tập trung để quản lý doanh
nghiệp. Có sự phân công nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy kế toán đào tạo bồi dưỡng
140000
160000
180000
TriÖu
VN§
1998 1999 2000
N¨ m
Tæng
doanh
thu
Tæng
chi phÝ
Chªnh
lÖch
thu chi
Kế toán trưởng
Kế toán
tổng
hợp
Kế toán
quyết
toán
chi phí
Kế toán
thủ quỹ
K
ế toán
K
Chứng từ
Nhật ký chung
Sổ cái tài
kho
ản
Bảng cân đối
th
ử
Báo cáo kế toán
Sổ chi tiết
tài kho
ản
Bảng tổng hợp
số dư chi tiết
Sổ quỹ Kết luận chung