LUẬN VĂN:
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty xe máy- xe đạp
Thống Nhất
Lời Nói Đầu
Trong những năm qua, cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN, đòi hỏi chúng ta cũng phải đổi mới hệ thống các công cụ quản lý kinh tế sao cho
phù hợp. Và công cụ kế toán cũng không nằm ngoài sự thay đổi đó. Bởi vì:
Xét ở tầm vĩ mô, kế toán là công cụ điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân.
Xét ở tầm vi mô, kế toán là công cụ điều hành và quản lý các hoạt động sản xuất kinh
doanh, các hoạt động kinh tế tài chính ở doanh nghiệp.
Các thông tin kế toán là nguồn số liệu đáng tin cậy và hữu ích cho việc ra quyết định
Bộ công nghiệp nặng quản lý. Đến năm 1969 khi Bộ công nghiệp nặng tách ra thành 2 bộ:
Bộ cơ khí luyện kim và Bộ điện than thì xí nghiệp xe đạp Thống Nhất thuộc Bộ cơ khí luyện
kim, với nhiệm vụ chính: sản xuất một số phụ tùng như vành sắt cỡ 650, ghi đông, nan hoa
, và trực tiếp lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh chủ yếu phục vụ cho các cán bộ nhà nước.
Trong lịch sử phát triển của mình, công ty đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và biến đổi,
có thời kỳ xe đạp Thống Nhất là biểu tượng của chất lượng xe đạp Việt Nam nhưng cũng có
thời kỳ nhãn hiệu xe đạp Thống Nhất đã bị lãng quên.
Trước năm 1986, khi nền kinh tế nước ta còn đang trong thời kỳ bao cấp, công ty sản
xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước khoảng 8000 xe/1 năm với số lượng công nhân
viên là 1500 người. Thời kỳ đó, việc cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất của xí nghiệp do
nhà nước cấp và việc tiêu thụ phân phối sản phẩm sản xuất ra cũng do nhà nước đảm nhiệm.
Xí nghiệp ở trong tình trạng hoàn toàn bị động.
Sau 18 năm hoạt động (1960-1978) trực thuộc bộ cơ khí- luyện kim, xí nghiệp xe đạp
Thống Nhất đã tách ra và chuyển về chịu sự quản lý của sở công nghiệp Hà Nội, và nằm
trong liên hiệp xí nghiệp xe đạp Hà Nội. Xí nghiệp xe đạp Thống Nhất cùng với các xí
nghiệp khác trong liên hiệp hạch toán phụ thuộc và không có tư cách pháp nhân.
Đến năm 1981, uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định thành lập Liên Hiệp các
xí nghiệp xe đạp, nhằm quản lý các xí nghiệp xe đạp và phụ tùng xe đạp độc lập trong đó có
xí nghiệp xe đạp Thống Nhất. Lúc này xí nghiệp đã trở thành một đơn vị hạch toán độc lập
và có đầy đủ tư cách pháp nhân, xí nghiệp có nhiệm vụ: sản xuất khung xe, vành xe, ghi
đông, pô tăng và nồi trục giữa xe đạp
Để phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, ngày 29/09/1993
UBND thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 556 / QĐ- UB cho phép xí nghiệp xe
đạp Thống Nhất đổi tên thành công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất. Công ty có nhiệm vụ
chính là sản xuất một số phụ tùng xe đạp, xe máy và lắp ráp hoàn chỉnh các loại xe đạp
nhằm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Ngoài ra, công ty còn được phép kinh
2000: 1.187.000 / 1 người / 1 tháng
Ngoài ra công ty cũng đang chuẩn bị một số dự án với nước ngoài như: xây dựng và
kinh doanh khách sạn, mở văn phòng đại diện kinh doanh xuất nhập khẩu xe máy và phụ
tùng với các nước Nhật Bản, Đài Loan Phần II: Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất
I/ Đặc điểm chung:
1. Chức năng và nhiệm vụ:
Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất là một doanh nghiệp nhà nước có đầy đủ tư cách
pháp nhân, tự hạch toán kinh tế độc lập, được mở tài khoản riêng và có con dấu riêng theo
qui định của nhà nước, nằm trong liên hiệp các xí nghiệp xe đạp- xe máy Hà Nội (LIXEHA)
và được nhà nước giao cho các nhiệm vụ chính sau:
+ Sản xuất và buôn bán một số phụ tùng xe đạp, xe máy như: khung xe; vành xe; ghi
đông; pô tăng; cọc yên; hộp xích; chắn bùn; bàn đạp; mayơ Dựa trên các chi tiết mua ngoài
và sản xuất, công ty tiến hành lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh và cung cấp ra thị trường.
+ Xây dựng một số nhà xưởng, cửa hàng, văn phòng đại diện cho các doanh nghiệp
khác thuê.
+ Cũng như các doanh nghiệp khác, công ty phải thực hiện các chức năng tổng hợp
như: làm nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước; từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
sản xuất kinh doanh để hoàn thành kế hoạch do cấp trên giao; tạo công ăn việc làm và tăng
thu nhập cho đội ngũ công nhân viên chức. Hiện công ty đang cố gắng sẽ đạt chứng chỉ chất
lượng sản phẩm ISO 9002 vào tháng 2 năm 2002.
của công ty và khách hàng thuê nhà đất, mặt bằng của công ty. Số lượng khách hàng thường
xuyên mua sản phẩm của công ty hiện có khoảng hơn 200 khách hàng, được phân bố rộng
khắp đất nước chủ yếu tập trung ở các tỉnh từ miền Bắc trung bộ trở ra phía Bắc như: Quảng
Ngãi, Hà tĩnh, Thanh Hoá, Hà tây, Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái Hiện nay do nhu cầu xe
đạp ở thành phố giảm sút nên số lượng khách hàng phần đông tập trung ở tỉnh lẻ và nông
thôn. Công ty chủ yếu là bán buôn ngay tại kho cho các khách hàng.
Do công ty nằm ở vị trí đẹp, 2 mặt tiếp xúc với 2 phố lớn, diện tích đất sử dụng không
hết nên công ty đã cho một số khách hàng thuê mặt bằng để làm văn phòng đại diện, cửa
hàng như: công ty YAMAHA, công ty HONDA và một số cửa hàng tư nhân khác.
Hiện nay, thị trường xe đạp ở Việt Nam đang ở trong tình trạng người bán thì nhiều mà kẻ
mua thì ít, có rất nhiều chủng loại xe đạp hấp dẫn được sản xuất trong nước cũng như được nhập
từ nước ngoài. Chính vì vậy, công ty đang gặp phải rất nhiều đối thủ cạnh tranh: trong nước phải
kể đến các công ty như: công ty xe đạp Xuân Hoà, công ty xe đạp Vi Ha ; nước ngoài có 1 số
nước như: Nhật, Trung Quốc,
Vì lẽ đó mà phương châm của công ty là: luôn coi sự cạnh tranh gay gắt kia là thử
thách cần vượt qua để tồn tại. Công ty luôn cố gắng tìm kiếm nguồn nguyên vật liệu mới để
nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm; tích cực tìm kiếm và mở rộng thị
trường tiêu thụ cho các sản phẩm của công ty.
4. Một số chỉ tiêu về tài chính của công ty:
Bảng 2: Một số chỉ tiêu về tài sản và nguồn vốn năm 2000 của công ty
xe máy- xe đ
ạp Thống Nhất:
Đơn vị: 1000đ
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Chênh lệch
Mức TL %
Tổng tài sản: 11.643.214 14.946.913 3.303.699 128%
6. Kế hoạch năm 2002 của công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất:
Bảng 4: Kế Hoạch Năm 2002
Chỉ tiêu Đvị ước TH 2001 KH 2002 So sánh 2002
(%) 2001
I. Giá tri SX CN 1000 27.966.199 31.882.199 114
II. Sản phẩm chính
- Xe đạp các loại xe 56.000 63.800 114
- Vành đôi 42.000 47.800 114
- Ghi đông c 54.000 61.600 114
- Pô tăng - 50.000 57.000 114
- Đèo hàng - 33.000 37.600 114
- Linh kiện bộ 61.000 69.500 114
III. Tổng DT 1000 41.098.144 47.000.671 114
Trong đó: DTCN - 31.098.144 35.429.671 113,9
DV - 10.000.000 11.571.000 115
IV. Nộp ngân sách - 1.500.000 1.700.000 114
V. Thu nhập bq - 1.182,392 1.182,392 100
VI. Lao động TX người 323 368 114
VII. Tổng vốn đầu tư ( thực hiện đầu
Chia theo nguồn: 1000 11.314.400 50.000.000 tư trong năm
- Nguồn vay - 11.000.800 20.000.000 2002 và 2003)
- Vốn tự có + khác - 313.600 30.000.000
II/ Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và bộ máy quản lý ở công ty xe đạp- xe máy
Phân xưởng cơ dụng (phân xưởng phụ): có nhiệm vụ sửa chữa toàn bộ hệ thống máy
móc, thiết bị trong toàn công ty khi có sự cố hỏng hóc, thực hiện bảo dưỡng thường xuyên
theo định kỳ, tổ chức sản xuất các loại chi tiết sản phẩm được công ty giao cho như: rắc co,
các loại chân trước, chân sau ,chịu trách nhiệm thiết kế chế tạo toàn bộ hệ thống khuôn gá
trong toàn công ty. Ngoài ra, phân xưởng còn có nhiệm vụ chịu trách nhiệm toàn bộ khâu
lắp đặt bảo dưỡng hệ thống an toàn điện của công ty.
Công ty còn tổ chức một phân xưởng chế thử, phân xưởng này có nhiệm vụ nghiên cứu
chế tạo thử các loại xe đạp kiểu mới, giúp công ty đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu
thi trường.
Sơ đồ 1: Qui trình công nghệ sản xuất: Phân xưởng mạ
Phân xưởng linh kiện
Phân xưởng khung
Nguyên
Vật liệu Phân xưởng sơn Phân xưởng Kho thành
Lắp ráp phẩm
Phân xưởng cơ dụng
Phân xưởng chế thử Giám đốc PGĐ kỹ thuật PGĐ kinh doanh
Phòng công Phòng Ban kiến Phòng Phòng
Nghệ tài vụ thiết cơ tổ chức kinh doanh
bản HC PX PX PX PX PX PX PX
Chế thử cơ dụng khung sơn linh kiện mạ lắp ráp III/ Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất:
1. Tình hình tổ chức- nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty xe
máy- xe đạp Thống Nhất:
Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất là một doanh nghiệp có quy mô vừa, địa bàn
hoạt động sản xuất kinh doanh tập trung tại một điểm. Do đó, công ty tổ chức công tác kế
toán theo hình thức nhật ký chứng từ, hạch toán theo quý, thực hiện kế toán hàng tồn kho
theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phòng kế toán có chức năng thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế phục
vụ cho công tác quản lý. Qua đó kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất như: việc
thụ thành phẩm, đôn đốc việc kiểm tra thanh toán kịp thời, theo dõi các khoản phải thu,
phải trả khách hàng và tiến hành thanh toán công nợ với khách hàng.
+ Một kế toán thanh toán với nhà cung cấp: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu chi
tiền mặt, thanh toán công nợ đối với nhà cung cấp và ngân sách nhà nước.
+ Một thủ quĩ: Có nhiệm vụ cùng với kế toán thanh toán, kế toán tiêu thụ, kế toán
ngân hàng tiến hành thu chi tiền mặt theo dõi các khoản thu, chi, tồn quỹ tiền mặt tại đơn
vị.
Mỗi bộ phận, mỗi kế toán đều có chức năng, nhiệm vụ riêng song giữa họ lại có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình. Ví dụ: kế
toán nguyên vật liệu với kế toán thanh toán; kế toán tiêu thụ với kế toán ngân hàng và thủ
quỹ; kế toán tổng hợp và kế toán trưởng với tất cả các bộ phận còn lại.
Sơ đồ 3: Tổ chức bộ máy kế toán của công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất:
Kế toán trưởng Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Thủ
NVL và Ngân hàng; Tổng hợp Tiêu thụ thanh toán quỹ
TSCĐ TL + BHXH
2. Hình thức ghi sổ kế toán:
Công ty đang áp dụng hình thức nhật ký chứng từ. Đây là hình thức sổ kế toán được áp
dụng phổ biến và phù hợp với doanh nghiệp quy mô vừa và lớn. Kỳ hạch toán áp dụng theo
quý. Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Kế toán thuế GTGT
theo phương pháp khấu trừ. Hệ thống sổ tại công ty gồm: sổ chi tiết, sổ tổng hợp.
Công ty hiện đang sử dụng các nhật ký chứng từ số 1, 2, 4, 5, 9, 10 ; các bảng kê số 1,
2, 3, 11; các bảng phân bổ số 1, 2, 3, bảng cân đối số phát sinh và một số sổ chi tiết như: sổ
Ghi chú:
: Ghi trong tháng.
: Ghi cuối quý.
: Quan hệ đối chiếu.
Phần III. Các nghiệp vụ kế toán chủ yếu tại Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất:
Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất là một đơn vị sản xuất kinh doanh, hạch toán độc
lập, việc không ngừng nâng cao doanh thu, giảm chi phí, tăng lượng hàng bán ra, tạo hiệu
quả kinh tế cao đang trở thành vấn đề quan trọng của công ty. Để nắm vững được công tác
kế toán thực tế của công ty, chúng ta cần quan tâm đến các nghiệp vụ kế toán cơ bản sau.
1. Nghiệp vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Tài khoản sử dụng: TK 1541 “ chi phí sxkd dd” ở PX linh kiện, PX mạ, PX khung,
PX sơn. TK 154.2.1 “ cp sxkd dd” ở PX cơ dụng. TK154.2.2 “ cp sxkd dd” ở đội vận tải.
TK 155 “ thành phẩm nhập kho”. TK 621 “ chi phí NVL tt”. TK 622 “ chi phí nhân
công tt”. TK 627 “ chi phí sản xuất chung”.
Công việc này do kế toán tổng hợp đảm nhiệm. Sau khi nhận tài liệu về phân bổ chi
phí sản xuất từ kế toán nguyên vật liệuvà TSCĐ, kế toán tiền lương, kế toán thanh toán,
kế toán tổng hợp sẽ tập hợp các chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi
phí sản xuất chung vào tài khoản 1541 “ chi phí SXKD dở dang” để tính ra tổng giá thành
thực tế các loại sản phẩm bằng công thức:
Tổng Z ttsp = GT sp dd + CP sxkd _ các phát sinh _ GT sp dd
hoàn thành đầu kỳ tt trong kỳ giảm cp sxkd cuối kỳ
Dựa trên tổng giá thành thực tế và giá thành kế hoạch từng loại ( do phòng KD lập),
sẽ tính ra giá thành thực tế từng loại sản phẩm bằng phương pháp hệ số giá như sau:
Z tt từng loại SP = Z kh từng loại x hệ số giá
thành phẩm đã tiêu thụ trong kỳ.
Sơ đồ 6: Hạch toán nghiệp vụ bán hàng vào tài khoản:
TK 531 TK511 TK111, TK112, TK 131
DT hàng bán bị trả lại DT từ bán hàng
TK 3331
Thuế GTGT đầu ra 3. Nghiệp vụ kế toán TSCĐ:
Tài khoản sử dụng: TK 211 “ nguyên giá TSCĐ”. TK 214 “ hao mòn TSCĐ”. TK
133“ thuế GTGT đầu vào”. TK 821 “ chi phí bất thường”. TK241 “chi phí XDCB dd”.
Khi có phát sinh nghiệp vụ tăng giảm tài sản cố định, kế toán ghi chép vào NKCT số
9 và lập bảng trích và phân bổ khấu hao TSCĐ.
Nguyên tắc đánh giá TSCĐ là theo nguyên giá.
Công ty áp dụng phương pháp tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng:
Nguyên giá của TSCĐ
Mức khấu hao năm =
Thời gian sử dụng
Sơ đồ 7: Hạch toán nghiệp vụ kế toán TSCĐ:
TK241, 111, 112, 341 TK211 TK821
NG TSCĐ tăng thanh lý, nhượng bán TSCĐ
GT vật tư mua vào phân bổ cp NVL cho đt sử dụng
TK 133
Thuế GTGT đầu vào 5. Nghiệp vụ kế toán tiền lương:
Tài khoản sử dụng: TK334 “ phải trả CNV”, TK 338 “ phải trả phải nộp khác”,
TK622 “ chi phí nhân công trực tiếp”, TK 641 “ chi phí bán hàng”, TK642 “ chi phí quản
lý doanh nghiệp”
Công ty trả lương cho CNV 2 kỳ trong 1 tháng. Kỳ 1 vào ngày 15 hàng tháng tạm
ứng trước. Kỳ 2 vào ngày 30 hàng tháng, căn cứ vào bảng chấm công, kế toán lương lập
bảng thanh toán lương, và thanh toán khoản lương còn lại cho CNV trong công ty.
Phương pháp trả lương với NV làm quản lý tính theo lương thời gian còn với công nhân
sản xuất tính theo lương sản phẩm. Kế toán lương có liên hệ chặt chẽ với phòng tổ chức
tổng hợp về các vấn đề liên quan đến BHXH, BHYT, KPCĐ. Sau đó kế toán lương sẽ lập
bảng phân bổ tiền lương cho các đối tượng tập hợp chi phí.
Sơ đồ 9: Hạch toán nghiệp vụ kế toán tiền lương: TK 111 TK334 TK 622, 627,641, 642
Thanh toán cho người LĐ tính lương phẩi trả người lđ
TK338( 3382, 3383, 3384) 6%
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ 19%