LUẬN VĂN: Nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam doc - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Nguồn gốc của lợi nhuận và vai
trò của nó đối với sự phát triển
kinh tế của Việt Nam
Lời mở đầu

Dân tộc Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những dân tộc có
truyền thống yêu nước sâu sắc. Nhân loại đã biết đến chúng ta với những kỳ tích
chặn đứng vó ngựa trường chinh bách chiến bách thắng của quân Mông Cổ, với
chiến công Điện Biên Phủ với chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là những trang sử hào
hùng của dân tộc ta trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

i. các quan điểm trước mác về lợi nhuận:
1. Quan điểm của trường phái trọng thương:
Trường phái này ra đời từ giữa thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 17 trong điều kiện
chế độ phong kiến bị tan rã và chủ nghĩa tư bản thực hiện tích luỹ nguyên thuỷ của
tư bản. Họ là những nhà kinh tế học đầu tiên đi tìm nguồn gốc, đi tìm lợi nhuận
trong lưu thông. Họ đã sống trong thời đại tư bản tư nhân và ngoài tư bản tư nhân
ra, họ không biết một hình thái tư bản nào khác, họ cũng không biết một hình thức
lợi nhuận nào khác ngoài lợi nhuận thương nghiệp. Vì tư bản thương nghiệp chỉ
hoạt động trong lưu thông nên không thấy làm lạ gì họ chỉ chú ý đến lưu thông.
Theo họ lợi nhuận thương nghiệp là kết quả do lưu thông, mua bán trao đổi sinh
ra, là do kết quả của việc mua rẻ bán đắt mà có.
2. Quan điểm của trường phái trọng nông:
Trường phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu các hiện tượng kinh tế
từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Đây là một bước tiến bộ so với trọng
thương. Trong phái trọng nông là các nhà kinh tế học Pháp thế kỷ 18 nhưng họ
vẫn nêu ra được một lý luận đúng đán về lợi nhuận. Tư tưởng của họ là: sản phẩm
thặng dư, do đó cả lợi nhuận nữa cũng được tạo ra trong nông nghiệp. Vì vậy, họ
chỉ coi lao động trong nông nghiệp là lao động sản xuất, còn mọi lao động khác -
không những trong thương nghiệp mà cả trong nông nghiệp đều bị họ coi là lao
động không sinh lợi.
3. Quan điểm của trường phái cổ điển Anh:
Các nhà kinh tế chính trị cổ điển anh như: Adam Smith và David Ricardo
đều phân tích lý luận về lao động. Trene thực tế họ coi lợi nhuận là kết quả của lao
động thặng dư. Nhưng họ không trình bày nguyên lý đó một cách rõ ràng, chưa
nêu ra được một lý luận hoàn chỉnh về lợi nhuận.
+ Theo Adam Smith, lợi nhuận tham gia vào việc hình thành giá trị với tư
cách một nhân tố hình thành giá cả nhưng chưa nêu được nguồn gốc của lợi
nhuận.
trị sử dụng không phải là mục đích. Giá trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật
mang giá trị trao đổi. Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá
trị trao đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra một
hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất và giá trị sức lao
động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là muốn sản xuất ra giá trị thặng dư.
Để hiểu rõ quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, người ta nghiên cứu bài toán sau
đây:
Chi phí TBCH để sản xuất, gồm có chi phí về tư bản bất biến và tư bản khả
biến, tức là những chi phí về tư liệu sản xuất và tiền lương công nghiệp. Đối với tư
bản hàng hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo tư bản đã chi phí, đối với xã hội hàng
hoá đáng giá bao nhiêu là tính theo lao động đã hao phí. Bởi vậy, những chi phí
TBCN để sản xuất ra hàng hoá, thấp hơn giá trị của hàng hoá ấy, tức là thấp hơn
những chi phs sản xuất thực tế. Chỗ chênh lệch giã giá trị hay chi phí sản xuất thực
tế và chi phí sản xuất TBCN, là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm không. Để
hiểu rõ hơn quá trình này, ta nghiên cứu bài toán sau:
Giả định để sản xuất 10kg bông, giá trị 10.000đ. Để biến số bông đó thành
sợi, một công nhân phải làm việc trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2.000đ. Giá
trị sức lao động trong một ngày của công nhân là 6.000đ, trong một giờ lao động
công nhân tạo ra một giá trị là 1.000đ, cuối cùng ta giả định rằng: "Trong quá trình
sản xuất toàn bộ bông biến thành sợi". Vậy nếu người công nhân làm việc trong 6
giờ thì không tạo ra giá trị thặng dư. Tuy nhiên, sức lao động mà nhà tư bản phải
trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra cho nhà tư bản là hai đại lượng
khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến trước khi mua sức lao động trong ngày. Việc
sử dụng sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản. Trên thực tế, nhà tư bản
bắt công nhân làm việc hơn 6 giờ, giả sử là 12 giờ trong 1 ngày.
Chi phí sản xuất TBCN Giá trị của sản phẩm mới (20 kg sợi)
- Tiền mua bông là 2.000đ

tư bản, đã chứng minh công thức của nhà và giá trị thặng dư là do công nhân sáng
tạo ra bị nhà tư bản chiếm không. Nếu xét trên góc độ kinh tế, giá trị thuộc về nhà
tư bản nhưng giá trị sử dụng lại thuộc về xã hội. Do đó, công nhân càng tạo ra
nhiều giá trị thặng dư thì xã hội càng nhiều của cải. Nếu công nhân không tạo ra
giá trị thặng dư người tư bản không được gì, sản phẩm xã hội không tăng lên, kinh
tế không phát triển. Chính vì thế, giai cấp tư bản tim thấy lao động thặng dư là một
phát minh vĩ đại để tạo ra bước tăng trưởng kinh tế và chính lòng khao khat lao
động thặng dư bằng mọi cách đã làm cho nền kinh tế phát triển nhảy vọt từ khi họ
lên nắm địa vị thống trị. ở bề ngoài xã hội thì không có giá trị thặng dư mà chỉ có
lợi nhuận thôi.
2. Lợi nhuận.
Giá trị của hàng hoá sản xuất tong xã hội TBCN, ba gồm ba bộ phận: 1-
Giá trị của tư bản bất biến (c) (một phần giá trị máy móc, nhà xưởng, giá trị của
nhiên liệu, ). 2- Giá trị khả biến(v). 3- Giá trị thặng dư (m): Lượng giá trị của
hàng hoá là do số người lao động xã hội cần thiết đẻ sản xuất ra hàng hoá quyết
định. Nhưng nhà tư bản không hao phí lao động vào sản xuất hàng hoá, mà chỉ bỏ
tư bản vào đó thôi.
Chi phí tư bản chủ nghĩa đẻ sản xuất hàng hoá, gồm có những chi phí về đầu
tư bản bất biến và tư bản khả biến (c+v), tức là những chi phí về tư liệu sản xuất
và tiền lương công nhân. Đối với nhà tư bản, hàng hoá đánh giá bao nhiêu là tính
theo tư bản đã chi phí, đối với xã hội, hàng hoá đánh giá bao nhiêu là tính theo lao
động đã hao phí. Bởi vậy những chi phí tư bản chủ nghĩa đẻ sản xuất hàng hoá,
thấp hơn giá trị sản xuất thực tế (c+v+m). Chỗ chênh lệch giữa giá trị hay chi phí
sản xuất thực tế và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giá trị thặng dư (m) mà
nhà tư bản chiếm không.
Khi nhà tư bản hàng hoá do xí nghiệp của mình sản xuất ra, thì giá trị thặng
dư biểu hiện bằng số thừa ngoài chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa. Khi xác định

vẫn có lợi nhuận. Bởi vì chừng nào có giá bán của hàng hoá còn cao hơn chi phí
sản xuất của nó, dù giá bán thấp hơn giá trị của nó thì bao giờ cũng vẫn thực hiện
được một bộ phận giá trị thặng dư chứa đựng trong đó. Như vậy, lợi nhuận là một
phạm trù trong lưu thông. Nhà tư bản thu được lợi nhuận nhiều hay ít phụ thuộc
vào giá trị hàng hoá. Lợi nhuận xoay quanh giá trị thặng dư cũng như giá cả dao
động quanh giá trị nhưng tổng giá trị thặng dư bằng tổng lợi nhuận cũng như tổng
giá trị bằng tổng giá cả.
Tóm lại, sự khác nhau giữa lợi nhuận giá trị thặng dư cũng giống như sự
khác nhau giữa giá trị và giá trị trao đổi. Lợi nhuận là sự thể hiện, tức là "hình thái
biến tướng" của giá trị thặng dư. Và cũng như khi nghiên cứu giá trị, thoạt tiên
Mác gạt bỏ hình thái giá trị của nó, tức giá trị trao đổi. Chỉ sau khi lần mò vết tích
của giá trị, Mác mới trở lại giá trị trao đổi. ở đây cũng thế, thoạt tiên Mác nghiên
cứu giá trị thặng dư mà không đả động gì đến các hình thái của nó, Mác chỉ giải
thích thực chất của giá trị thặng dư, xét xem nó được sản xuất như thế nào và ai
sản xuất nó. Chỉ sau khi nghiên cứu như thế, Mác mới chuyển sang nghiên cứu
hình thái của nó tức là nghiên cứu lợi nhuận. Nhưng lúc này phạm vi sản xuất sang
một bên và chuyển sang phạm vi lưu thông, vì giá trị thặng dư chỉ chuyển hoá
thành lợi nhuận trong lưu thông. Như vậy, Mác đã chỉ ra rằng: giá trị thặng dư
biểu hiện thực chất của phương thức sản xuất TBCN. Còn lợi nhuận là một trong
những "hình thái cụ thể" mà dưới hình thái đó tư bản hiện ra ở bề mặt của xã hội.
3. Tỷ suất lợi nhuận:
Đối với người chủ xí nghiệp thì mức lãi của xí nghiệp TBCN cao hay thấp
là do tỷ suất lợi nhuận quyết định. Tỷ suất lợi nhuận là biểu hiện tỷ số giữa giá trị
thặng dư và tổng tư bản (P' = m/k.100%). Ví dụ: nếu tư bản ứng trước là 20.000$,
nếu lợi nhuận hàng năm là 40.000$ thì tỷ suất lợi nhuận là 40.000/20.000 x 100%
= 20%,
Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận được hoàn thành ở sự

tranh với nhau kịch liệt. Họ muốn đầu tư vào những ngành sản xuất có triển vọng
thu được nhiều lợi nhuận hơn trong khi theo đuổi lợi nhuận cao, tư bản chuyển từ
ngành này sang ngành khác, kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân
và tiến hành phân phối lao động và tư bản sản xuất giữa các ngành sản xuất
TBCN.
Giả sử trong xã hội có ba ngành: Ngành da, ngành dệt và ngành chế tạo
máy móc, với số tư bản bằng nhau, nhưng cấu tạo hữu cơ thì khác nhau. Tư bản
ứng trước trong mỗi ngành ấy là 100 đơn vị (thí dụ là 100 triệu đồng đô la). Tư
bản của ngành da gồm 70 đơn vị là tư bản bất biến và 30 đơn vị là tư bản khả biến;
tư bản của ngành dệt gồm có 80 đơn vị là tư bản bất biến và 20 đơn vị là tư bản
khả biến; và tư bản của ngành chế tạo máy móc gồm có 90 đơn vị là tư bản bất
biến và 10 đơn vị là tư bản khả biến. Giả sử tỷ suất giá trị thặng dư trong cả ba
ngành đều như nhau: 100%. Như thế thì giá trị thặng dư tạo ra trong ngành da sẽ là
30 đơn vị, trong ngành dệt là 20 và tỏng ngành chế tạo máy móc là 10. Giá trị của
hàng hoá trong ngành thứ nhất sẽ là 130, trong ngành thứ hai là 120, trong ngành
thứ ba là 110, và trong toàn bộ cả ba ngành là 360 đơn vị.
Nếu hàng hoá bán ra theo giá trị của nó, thì tỷ suất lợi nhuận trong ngành da
sẽ là 30% ((30/100).100), trong ngành dệt là 20% ((20/100).100), trong ngành chế
tạo máy móc là 10% ((10/100)/100). Phân phối lợi nhuận như thế thì sẽ rất có lợi
đối với các nhà tư bản thuộc ngành da, nhưng không có lợi đối với các nhà tư bản
thuộc ngành chế tạo máy móc. Khi ấy thì các chủ xí nghiệp ngành chế tạo máy
móc sẽ đi tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Và họ sẽ thấy ngành da là nơi có lợi hơn cả.
Thế là họ chuyển tư bản ở ngành chế tạo máy móc sang ngành da. Kết quả là số
lượng hàng hoá sản xuất ra trong ngành da sẽ tăng lên, sự cạnh tranh tất nhiên sẽ
sâu sắc thêm và sẽ bắt buộc các chủ xí nghiệp của ngành này phải giảm giá hàng
hoá của họ xuống, điều đó sẽ đi đến chỗ hạ thấp tỷ suất lợi nhuận. Trái lại, trong
ngành chế tạo máy móc, số lượng hàng hoá sản xuất ra sẽ ít đi, và sự thay đổi
tương quan giữa cung và cầu sẽ giúp cho các chủ xí nghiệp nâng cao được giá
hàng cuả họ lên và do đó tỷ suất lợi nhuận cũng tăng lên.


thấp nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn số dư
dôi ra không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích
luỹ phát triển sản xuất, củng cố và tăng cường vị trí của mình trên thị trường.
+ Ngày nay, để thu được nhiều lợi nhuận, nhà tư bản sẽ không đầu tư nhiều
vốn để thuê lao động mà đầu tư vào máy móc hiện đại, tự động khi mà lợi nhuận
thu được phải tưong xứng với lợi nhuận bình quân xã hội, mặc dù giá trị được tạo
ra trong đó có giá trị thặng dư nhỏ hơn nhiều so với giá trị của hàng hoá. Vì vậy
lợi nhuận nhà tư bản thu được trong điều kiện tiến bộ kỹ thuật, tự động hoá là do
sự chuyển hoá giá trị thặng dư được tạo ra trong xã hội dưới hình thức giá trị thặng
dư siêu ngạch được sau đi bù lại giữa các nhà tư bản.
Việc áp dụng rộng rãi máy móc hiện đại, tự động trong điều kiện ngày nay
đã khiến không ít người đặt câu hỏi rằng: "Phải chăng trong các dây chuyền sản
xuất tự động đó không còn bóc lột tư bản và chính máy móc đã sáng tạo ra lợi
nhuận?".
2. Lý luận về máy móc tạo ra lợi nhuận:
Trước hết, ta cần khảng định rằng, máy móc và hệ thống máy móc dù có
tinh vi, hiện đại đến đâu cũng chỉ là sản phẩm lao động của con người. Con người
không thể chế tạo được một động cơ vĩnh cửu. Trong dây chuyền sản xuất tự
động, giá trị thặng dư được tạo ra không chỉ là sản phẩm của lao động quá khứ mà
vẫn cần tới lao động hiện tại. Mác viết rằng: "Lao động biểu hiện ra không phải
chủ yếu với tư cách là lao động được nhập vào quá trình sản xuất nữa, mà là chủ
yếu với tư cách là một loại lao động trong đó con người ngày càng đứng sang bên
cạnh với chức năng giám sát, điều khiển, sáng tạo mà máy móc không làm nổi".
Lợi nhuận siêu ngạch mà nhà tư bản thu được khi áp dụng máy móc hiện
đại hơn so với các nhà tư bản khác chẳng qua chỉ là sự phân phối lại giá trị thặng
dư sẵn có trên phạm vi toàn xã hội. Do áp dụng máy móc hiện đại nên lao động ở
đây có năng suất cao hơn thì giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn. Song trên thị trường

sau:
1. Lợi nhuận công nghiệp:
Về bản chất là phần giá trị do công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm không
và phần gtr này bán trên thị trường thu được một số tiền lời sau khi trừ đi chi phí
sản xuất. Ngày lao động của công nhân (giả sử là 8 giờ) được chia ra làm hai phần:
Một phần làm ra giá trị tương đương với số tiền lương của anh ta và làm ra giá trị
thặng dư. Vì thèm muốn lợi nhuận nên nhà tư bản công nghiệp luôn tìm cách tăng
phần thời gian lao động thặng dư như tăng giờ làm, tăng năng suất lao động (giảm
thời gian lao động tất yếu). Thời gian lao động thặng dư càng nhiều thì càng thuộc
về nhà tư bản và sẽ thu được lợi nhuận càng cao. Như vậy, lợi nhuận công nghiệp
là hình thái gần nhất, dễ thấy nhất với giá trị thặng dư và lợi nhuận công nghiệp là
động lực mạnh mẽ nhất để phát triển sản xuất.
2. Lợi nhuận thương nghiệp:
Trong lưu thông, trao đổi không tạo ra giá trị nhưng nhà tư bản thương
nghiệp làm nhiệm vụ lưu thông hàng hoá, làm cho hàng hoá được bán đi nhanh
hơn. Tư bản thương nghiệp thực hiện khâu tiêu thụ cho tư bản công nghiệp. Vì thế,
họ phải thu được một phần lợi nhuận mà nhà tư bản thương nghiệp chiếm được.
Về thực chất, lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được sáng tạo
ra trong lĩnh vực sản xuất mà nhà tư bản công nghiệp nhường cho nhà tư bản
thương nghiệp. Sở dĩ nhà tư bản công nghiệp thường cho nhà tư bản thương
nghiệp một phần giá trị thặng dư trong lúc họ luôn khao khát, thèm muốn nó là bởi
vì: Nhà tư bản thương nghiệp rất am hiểu thị trường, khách hàng do đó giúp cho
hàng hoá bán đi nhanh hơn, tốc độ chu chuyển nhanh hơn nên nhà tư bản công
nghiệp rảnh tay để sản xuất. Do đó vai trò quan trọng như vậy, nhà tư bản công
nghiệp phải nhường một phần giá trị thặng dư cho nhà tư bản thương nghiệp. Lợi
nhuận thương nghiệp là sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hoá. Điều đó
không có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp bán giá cao hơn giá trị mà là họ mua

ruộng đất dưới hình thái địa tô TBCN. Như vậy, địa tô TBCN là một phần giá trị
thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ đi một phần lợi nhuận bình quân của nhà tư
bản kinh doanh ruộng đất.
Phần ii
Vai trò đối với sự phát triển kinh tế
của Việt Nam

i. vai trò của lợi nhuận đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam :
1. Lợi nhuận là động lực đối với sự phát triển kinh tế của Việt
Nam:
Con người bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm, là nhân tố hàng đầu và
quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Đã là con người thì nhu cầu
và hành động của họ trước hết là nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình. Vì
vậy, động lực của sự phát triển là nhu cầu của mỗi thành viên trong xã hội.
Xét về mặt kinh tế, động lực chính là nhu cầu vật chất, lợi ích vật chất của
con người, trong đó quyền sở hữu và quyền hưởng thụ là những khía cạnh khác
nhau của lợi ích.
Khi đã thừa nhận đặt con người vào vị trí trung tâm thì vấn đề cốt lõi là
phải đảm bảo lợi ích cá nhân, thoả mãn các nhu cầu chính đáng và ngày càng tăng
của mỗi cá nhân, coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
nói chung.
Trong nền kinh tế thị trường, cái mà nhà sản xuất kinh doanh quan tâm
trước hết là lợi nhuận và hiệu quả sản xuất kinh doanh được thể hiện chủ yếu ở lợi
nhuận nhiều hay ít. Lợi nhuận là nhân tố chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với
phí tổn sản xuất.
Trong lịch sử có nhiều nhà kinh tế quan niệm rằng lợi nhuận chính là sự trả
công cho những ai dám "mạo hiểm" vay vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh và

môi trường gay go quyết định lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm ra
phương pháp sản xuất tối ưu nhất, giảm tối thiểu mức chi phí sản xuất, tăng năng
suất lao động để giảm giá thành sản phẩm, giành thắng lợi trong cạnh tranh, thu
được nhiều lợi nhuận. Do vậy, khoa học và công nghệ mới tiên tiến được ứng
dụng ngày càng nhiều. Đây chính là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng
sản xuất xã hội.
c. Lợi nhuận góp phần nâng cao mức sống cho nhân dân.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất kinh doanh ngoài phần thu
nhập là tiền lương, còn khoản thu nhập khác, đó là lợi nhuận và phần ngày ngày
càng tăng lên, chiếm ưu thế trong tổng thu nhập. Tổng thu nhập là mỗi người lao
động nói chung, mỗi nhà sản xuất kinh doanh nói riêng có được vừa phản ánh kết
quả lao động của mỗi người, vừa phản ánh kết quả lao động của tập thể với tư cách
là một chỉnh thể. Để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế cần phải phát huy
tối đa sức sáng tạo của các nhà sản xuất kinh doanh giỏi và thạo với cơ chế thị
trường. Muốn vậy, cần không ngừng nâng cao thu nhập (trong đó có lợi nhuận)
của họ.
Thực tế cho thấy đời sống của người công nhân ở các nước tư bản phát
triển đã được cải thiện nhiều hơn thời Mác sống. ở những nước này, lực lượng sản
xuất rất được quan tâm, thúc đẩy góp phần tăng năng suất lao động xã hội. Do đó,
giá cả tư liệu sinh hoạt giảm xuống. Với đồng lương cố định, người công nhân có
thể mua được nhiều vật phẩm tiêu dùng hơn, do đó đời sống của họ được cải thiện
hơn. Ngoài ra do khối lượng thặng dư thu được quá lớn, với tốc độ nhanh để tránh
sự phản ứng của người lao động và quần chúng nhân dân, và để che đậy sự bóc lột
tàn bạo ấy, các nhà tư bản cũng phải bỏ ra một phần giá trị thặng dư thu được để lo
cho đời sống dân sinh xã hội.
Như vậy, lợi nhuận góp phần nâng cao mức sống cho người dân phải hăng
say lao động, nâng cao hiệu quả công việc hơn nữa hay nói cách khác đây chính là

Chính giá cả thị trường là bàn tay vô hình để điều chỉnh quan hệ cung cầu và giúp
chúng ta lựa chọn, quyết định.
+ Sản xuất như thế nào nghĩa là do ai và những tài nguyên nào với hình
thức công nghệ nào, phương pháp sản xuất nào. Sau khi đã lựa chọn được cần sản
xuất cái gì, các chính phủ, các nhà kinh doanh phải xem xét việc làm thế nào để
chi phí ít nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trường để thu được lợi nhuận cao nhất.
Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm, lựa chọn các đầu
vào để sản xuất ra đầu ra nhanh nhất, sản xuất được nhiều nhất, chất lượng cao với
chi phí thấp nhất.
+ Sản xuất cho ai tức là đòi hỏi phải xác định rõ ai sẽ là đối tượng để sản
xuất, đối tưỡng nào mà tiêu thụ được hàng hoá sản xuất ra để từ đó đạt đến lợi
nhuận. Tiếng gọi của lợi nhuận cao sẽ làm cho các nhà kinh tế có mặt khắp mọi
nhu cầu chứ không phải làm một mặt hàng nhất định.
Ba vấn đề đó phải được giải quyết trong mọi xã hội dù là một nước
XHCN hay là một nước công nghiệp TBCN, một công xã, một bộ tộc, một địa
phương, một ngành, một doanh nghiệp hay thậm chí cả một đàn ong mật.
b. Tổ chức tiêu thụ hàng hoá dịch vụ:
Bán hàng hoá trên thị trường cũng là ảnh hưởng đến lợi nhuận cao hay
thấp, một nhà kinh tế là một ông chủ phải xem xét nhu cầu của thị trường trong
nước và thế giới để cân nhắc hàng hoá của mình. Đó là nhu cầu có khả năng thanh
toán và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp, nhu cầu đó càng lớn thì tạo ra lợi
nhuận càng cao. Cung và cầu trên thị trường luôn biến đổi đòi hỏi người sản xuất
phải xử lý kịp thời và điều chỉnh đúng đắn. Nếu cung < cầu thì trước khi bán giá
cao thì phải xem xét đến quy mô doanh nghiệp, số lượng hàng hoá trên thị trường,
phán đoán Nếu cung > cầu thì nên ngừng ngay sản xuất và di chuyển sang ngành
khác.
c. Tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp:
Bây giờ là tài lãnh đạo và phán đoán của doanh nghiệp sẽ định hướng cho
các kế hoạch, phưong án sản xuất nhằm thu được lợi nhuận. Cái này còn phụ thuộc
từ từng cá nhân lãnh đạo nưhng vài trò của họ cực kỳ quan trọng trong việc một

chủ sở hữu duy nhất bản quyền về một loại thuốc quý, hay bạn là người duy nhất
kiếm được giấy phép lắp đặt đường cáp vô tuyến trong thành phố, bạn có thể tăng
giá cao hơn chi phí biên, hạn chế mức cung, và thu được lợi nhuận độc quyền từ
việcđầu tư của mình.
3. Các phương pháp tăng lợi nhuận:
Thực sự là thiếu sót nếu không đề cập đến cách tăng lợi nhuận. Làm thế nào
để tăng lợi nhuận? Đó là câu hỏi đặt ra đối với bất kỳ ai làm kinh tế nhưng đê trả
lời một cách cụ thể thì khó trả lời. Nhưng có những cái chung nhất để trả lời câu
hỏi đó:
- Phải luôn luôn nắm vững thị hiếu khách hàng, tâm lý người mua. Ngành
tiếp thị cho thấy rằng khách hàng luôn ưa chuộng những sản phẩm có tính chất
lượng - hình thức giá rẻ. Bởi thế muốn thắng trên cạnh tranh cần phải thoả mãn ba
yếu tố đó trong sản phẩm. Đầu tư vào khoa học kỹ thuật là cách tốt nhất để làm
được điều đó.
Các doanh nghiệp, các nhà kinh tế phải tránh tình trạng tồn kho, ứ đọng,
các nhà quản lý phải tính toán sao cho vừa phải phù hợp để khỏi tiền "chết" trong
hàng hoá. Phải giải được bài toán "đầu vào - đầu ra" từ đó cung ra thị trường số
lượng hàng hoá hợp lý nhằm luôn luôn tạo ra cung cầu. Vấn đề là họ phải hiểu,
nắm bắt được tương đối cầu của khách hàng và thời thế.
Ngành marketing là đóng vai trò quan trọng trong việc bán sản phẩm, nhất
là những khi mà doanh nghiệp chưa có uy tín, chưa phổ biến. Tuy nhiên quảng cáo
phải có sức thuyết phục, phải có phần hợp lý tránh tình trạng quảng cáo hiện thực.
Ngày nay, khách hàng là những người hết sức nhạy cảm, có nhiều thông tin chính
xác cho nên chất lượng mới là yếu tố quan trọng để được chữ "tín". Bởi thế
marketing phải luôn luôn đi sát thực tế sản phẩm.
Một điều nữa - hết sức quan trọng - đó là tài cá nhân của người lãnh đạo,
các ông chủ phải biết tính toán nên đầu tư vào đâu, số lượng bao nhiêu, làm như

nạn lao động xảy ra, tỷ số công nhân chết tăng lên.
- Việc áp dụng máy móc để tăng lợi nhuận làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, gây ra
một áp lực lớn đối với thị trường lao động. Điều đó khiến bọn chủ xí nghiệp giảm
tiền lương xuống và định mức tiền lương thấp hơn giá trị của sức lao động rất
nhiều. Vì vậy, trong khi các nhà tư bản ngày càng giàu có thì đời sống của người
công nhân ngày càng bần cùng. Điều đó càng làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tư
bản và giai cấp vô sản càng sâu sắc.
- Ngày nay trong nền sản xuất hiện tại việc chạy theo lợi nhuận kéo theo việc áp
dụng nhiều máy móc - kỹ thuật hiện đại làm cho môi trường xung quanh trở lên ô
nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến cạn kiệt; gây nên nhiều bệnh tật cho
con người hiện nay, các nhà tư sản đổ xô vào các nước đang phát triển để chia sẻ
hết gánh nặng này. Họ xuất sang các nước này những phương tiện kỹ thuật lạc
hậu, gây ô nhiễm, tận dụng tài nguyên và nguồn nhân lực phong phú của các nước
này. Nhân dân ở các nước đang phát triển do vậy bị bóc lột triệt để. Điều đó làm
cho mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và đang phát triển ngày càng thêm
sâu sắc.
Ngoài ra, việc chạy theo lợi nhuận cũng làm cho một số cá nhân cũng làm
cho một số cá nhân, doanh nghiệp tìm mọi cách để chốn thuế, giamr thuế, buôn
lậu, làm hàng giả, … gây ảnh hưởng đến ngân sách Nhà nước và tính mạng của
con người.
Để thu được lợi nhuận tối đa các doanh nghiệp đã liên kết với nhau, dẫn
đến tình trạng độc quyền . Các tổ chức độc quyền lợi dụng ưu thế của mình để quy
định giá cả, thu được lợi nhuận cao hơn. Do vậy, đã phá vỡ thế cạnh tranh hoàn
hảo, gây nên tình trạng mất hiệu quả của kinh tế.
Tóm lại, lợi nhuận bên cạnh vai trò to lớn của mình còn có những nhược
điểm nhất đinh. Ngày nay, nhiều người tỏ ra rất phẫn nộ khi đề cập đến danh từ lợi
nhuận. Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ định những tác động to lớn mà lợi


1. Thực trạng về vấn đề ở nước ta.
a. Thời kỳ trước năm 1986.
Đây là cả một thời kỳ Nhà nước chưa đưa các doanh nghiệp hoạt động
trong mối quan hệ trực tiếp với thị trường . Mọi hoạt động của các đơn vị kinh
doanh đều dựa vào Nhà nước: kinh phí Nhà nước cấp, sản xuất kinh doanh vị
lỗ được Nhà nước bù; sản xuất, tiêu thụ sản phẩm được Nhà nước đảm nhiệm.
Lợi nhuận chưa được coi là động lực chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Vì vậy, trong nền kinh tế luôn xảy ra tình trạng “lãi giả
lỗ thật, lỗ giả lãi thật”. Như vậy Nhà nước chưa nắm được nguồn vốn của các
doanh nghiệp và từ đó buông lỏng khâu quản lý nó. Mặt khác do việc chưa
đánh giá và xác định lợi nhuận một cách có căn cứ nên các đơn vị luôn tìm mọi
thủ đoạn, mọi cách để được hưởng cao nhất, còn Nhà nước bị thiệt nhiều hơn.
Trong thời gian này, do quá nhấn mạnh phát triển kinh tế quốc dân và phát
triển nó một cách tràn lan, không có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành, các
doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp có điều kiện khả năng làm ăm tốt, có khả
năng thu được lợi nhuận cao với các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, thậm
chí luôn thua lỗ. Với cơ chế quản lý phân phối “lỗ Nhà nước bù, lãi Nhà nước
thu”, chúng ta đã chưa coi lợi nhuận với tư cách là hình thức thu nhập đối với
người sản xuất kinh doanh. Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đó, cơ
chế hình thành và phân phối lợi nhuận không được tiến hành trên cơ sở những
căn cứ khoa học và khách quan, điều đó đã gây ra sự bất bình đẳng lớn với các
đơn vị sản xuất kinh doanh, làm mất đi động lực thúc đẩy đòn bẩy lợi nhuận,
tạo ra một tư tưởng ỷ nại ngày càng lớn vào Nhà nước, làm mất đi tính chủ
động sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh.
b. Thời kỳ năm 1986 đến nay.
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status