Lời mở đầu
Dân tộc Việt Nam đợc thế giới đánh giá là một trong những dân tộc có
truyền thống yêu nớc sâu sắc. Nhân loại đã biết đến chúng ta với những kỳ
tích chặn đứng vó ngựa trờng chinh bách chiến bách thắng của quân Mông
Cổ, với chiến công Điện Biên Phủ với chiến dịch Hồ Chí Minh. Đó là những
trang sử hào hùng của dân tộc ta trong lịch sử hàng nghìn năm xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Còn hiện nay - trớc ngỡng cửa thế kỷ XXI - Việt Nam là
một đất nớc thuộc nhóm nghèo nhất thế giới thu nhập bình quân đầu ngời ch-
a đầy 300 USD chúng ta đang đứng trớc nguy cơ tụt hậu. Sự thật đó để lại
trong lòng mỗi chúng ta những cảm xúc sâu sắc. Tại sao vậy? Đó là vì kinh
tế có những yêu cầu và quy luật riêng của nó. Những chiến thắng trên mặt
trận không thể làm ra đợc những chiến công về kinh tế, sách lợc chiến trờng
không thể là chiến lợc về kinh tế. Một thời gian chúng ta đã ngộ nhận xem
lợi nhuận là cái gì xấu xa, là phạm trù không có ở CHXH. Sản xuất là chỉ để
phục vụ chứ không vì mục tiêu lợi nhuận. Ngày nay, trong thời kỳ quá độ lên
CHXH, chúng ta đang vận hành đất nớc theo cơ chế thị trờng trong nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc thì lợi nhuận
chính là quan toà công minh nhất là để phán xét sự tồn tại phát triển của mọi
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì thị trờng sẽ loại doanh nghiệp đó ra khỏi sân
khấu kinh tế, và nếu ngợc lại thì doanh nghiệp đợc tiếp tục phát triển, lợi
nhuận phải thực sự từ năng suất chất lợng - hiệu quả trong sản xuất - kinh
doanh chân chính từ tài năng quản lý sản xuất kinh doanh hiện đại mà tạo ra
giá trị lợi nhuận cả về kinh tế văn hoá - một truyền thống và cốt cách ngời
Việt Nam. Hơn bao giờ hết, lợi nhuận là sự sống còn của doanh nghiệp, là
động lực phát triển, bởi thế em chọn đề tài :
"Nguồn gốc của lợi nhuận và vai trò của nó
đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam"
Đây là một tiểu luận nhỏ song đó cũng là một bài viết có tính khoa
học và logic cao. Tuy nhiên với kiến thức ít ỏi của mình em không thể tránh
khỏi những khiếm khuyết trong tiểu luận nên em mong nhận đợc sự bổ sung,
phê phán của thầy. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã cung cấp phần
t cách một nhân tố hình thành giá cả nhng cha nêu đợc nguồn gốc của lợi
nhuận.
+ Ricardo đã đi xa hơn Smith. Theo ông, lợi nhuận và tiền công là 2
bộ phận của giá trị lao động tạo nên. Ông đã đa ra một số kết quả quan trọng
là: lợi nhuận và tiền công đối lập nhau. Sự tăng hay giảm của một trong hai
yếu tố đó đều sẽ gây ra sự giảm hay tăng của yếu tố kia. Từ đó, Ricardo cũng
khẳng định việc tăng hay giảm lợi nhuận hoặc tiền công không có ảnh hởng
2
gì đến giá cả mà chỉ ảnh hởng đến sự phân phối giá trị giữa công nhân với
các nhà t bản. Vậy, Ricardo đã quy lợi nhuận thành giá trị thặng d. Tuy
nhiên, Ricardo vẫn không nêu ra đợc khái niệm giá trị thặng d. Khi nói đến
năng suất lao động, ông không coi đó là nguyên nhân quyết định của lợng
giá trị thặng d mà thôi. Nh vậy, Ricardo đã bỏ qua giá trị thặng d và chỉ quan
tâm đến hình thái học của nó: lợi nhuận, lợi tức, lợi tô, những cái mà ông đã
quy về nguồn gốc của chúng, về lao động không đợc trả công. Sai lầm của
Ricardo ở chỗ coi chủ nghĩa t bản là một hình thức t bản của nền sản xuất xã
hội nên ông đã có nhiều luận điểm sai lầm và mâu thuẫn. 1 - Mức tăng của
lợi nhuận phụ thuộc vào mức tăng của năng suất lao động, nhng Ricardo
lại hoàn toàn không hiểu rõ thực chất của lợi nhuận ở chỗ: Một mặt lợi
nhuận là hình thái biến tớng của giá trị thặng d, mặt khác nó là hình thái
đặc biệt của giá trị thặng d. 2 - Lợi nhuận và tiền công là hai bộ phận của
cùng một giá trị do lao động quyết định.
Nhìn chung, các nhà kinh tế cổ điển đã chuyển việc nghiên cứu các
hiện tợng kinh tế từ lĩnh vực lu thông sang lĩnh vực sản xuất nên họ đã xây
dựng khoa kinh tế chính trị học với t cách là một môn khoa học. Do không
hiểu đợc đặc điểm của nền sản xuất t bản chủ nhgiã nên họ không thể giải
quyết cả vấn đề t bản lẫn vấn đề lợi nhuận. Chỉ có Mác, sau khi nghiên cứu
nền sản xuất t bản chủ nghĩa nh là sự thống nhất giữa hai giai đoạn sản xuất
t bản chủ nghĩa và gia đoạn lu thông t bản chủ nghĩa mới quy đợc lợi nhuận
thành giá trị thặng d tức là nghiên cứu lợi nhuận dới hình thái chung nhất của
trớc khi mua sức lao động trong ngày. Việc sử dụng sức lao động trong ngày
đó thuộc về nhà t bản. Trên thực tế, nhà t bản bắt công nhân làm việc hơn 6
giờ, giả sử là 12 giờ trong 1 ngày.
Chi phí sản xuất TBCN Giá trị của sản phẩm mới (20 kg sợi)
- Tiền mua bông là 2.000đ
- Hao mòn máy móc 4.000đ
- Tiền mua sức LĐ trong 1 ngày
- Giá trị của bông đợc chuyển vào sợi
- Giá trị máy móc đợc chuyển vào sợi 4.000đ
- Giá trị LĐ của CN tạo ra trong 12 giờ LĐ:
1 ngày 6.000đ
30.000đ
1.000đ x 12 = 12.000d
36.000đ
Nh vậy, toàn bộ chi phí của nhà t bản để mua t liệu sản xuất và sức lao
động là 30.000đ. Trong 12h lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới
(20 kg sợi) có giá trị bằng 36.000đ, lớn hơn giá trị ứng trớc của nhà t bản.
36.000đ - 30.000đ = 6.000đ. Vậy 30.000đ ứng trớc chuyển hoá thành
36.000đ, đợc một giá trị thặng d là 6.000đ. Vậy tiền đã biến thành t bản.
Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng d.
Thông qua việc nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng d trên, ta
thấy rằng giá trị sản phẩm mới đợc sản xuất ra có 2 phần:
+ Giá trị cũ: Giá trị những t liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của ngời
công nhân mà đợc bảo tồn và duy chuyển vào giá trị của sản phẩm mới
(24.000đ).
+ Giá trị mới: Giá trị do lao động trừu tợng của công nhân tạo ra trong
quá trình lao động (6.000đ).
4
Nh vậy, giá trị thặng d là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do công nhân tạo ra và bị nhà t bản chiếm không.
xác định mức thu nhập của xí nghiệp, nhà t bản so sánh số thừa đó với số t
bản ứng trớc tức là tổng t bản đã bỏ vào sản xuất. Giá trị thặng d, khi so sánh
với tổng t bản, thì biểu hiện thành hình thức lợi nhuận. Vì giá trị thặng d bị
đem so sánh không phải với t bản khả biến mà với toàn bộ t bản cho nên chỗ
5
khác nhau giữa t bản bất biến dùng vào việc mua t liệu sản xuất và t bản khả
biến dùng vào mua sức lao đọng bị xoá mờ đi. Do đó mà sinh ra cái bề ngoài
giả dối khiến cho ngời ta tởng lầm rằng: lợi nhuận là do t bản đẻ ra. Nhng sự
thật thì nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng d, và giá trị thặng d chỉ là do
lao động của công nhân sáng tạo ra trong quá trình sử dụng lao động, mà giá
trị của nó thể hiện ở t bản khả biến. Lợi nhuận là giá trị thặng d so sánh với
số t bản đã bỏ vào sản xuất; nhìn bề ngoài giá trị thặng d có vẻ là kết quả của
số t bản ấy. Vì vậy Mác gọi lợi nhuận là hình thức biến tớng của giá trị thặng
d. Và nh vậy, hình thức lợi nhuận đã che dấu quan hệ bóc lột bằng cách tạo
ra quan niệm sai lầm rằng: lợi nhuận là do chính bản thân t bản đẻ ra. Chính
các hình thức quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa đã lam lu mờ và che giấu
thực chất bóc lột của nó.
Nếu gọi lợi nhuận là p, thì công thức GT = c + v + m = k + m sẽ
chuyển hoá thành GT = k + p hay giá trị hàng hoá = chi phí sản xuất + lợi
nhuận vậy, lúc thoạt nhìn ta thấy rằng p và m cùng là một. Tuy nhiên giữa lợi
nhuận và giá trị thặng d không phải là hoàn toàn thống nhất mà giữa chúng
cũng có sự khác nhau.
Về mặt chất: giá trị thặng d phản ánh nguồn gốc sinh ra từ t bản lu
động, là biểu hiện của lao động thặng d; còn lợi nhuận đợc xem là toàn bộ t
bản ứng trớc đề ra. Giá trị thặng d là biểu hiện của quan hệ giai cấp; còn lợi
nhuận biểu hiện mối quan hệ giữa vật với vật.
Về mặt l ợng: nếu hàng hoá bán đúng giá trị của nó thì ngời ta đã thực
hiện đợc một lợi nhuận rồi. Lợi nhuận đó bằng giá trị thừa ra ngoài chi phí
sản xuất hàng hoá, tức là bằng toàn bộ giá trị thặng d chứa đựng trong giá trị
của hàng hoá (m = p). Nhng nhà t bản có thể bán hàng hoá dới giá trị của nó
trị thặng d thành lợi nhuận đã nằm trong việc chia giá trị của hàng hoá thành
chi phí sản xuất kinh tế tăng thêm ngoaì chi phí sản xuất, nhng sự chuyển
hoá đó đợc biểu hiện một cách độc lập và đặc thù trong tỷ suất lợi nhuận. Tỷ
suất lợi nhuận biểu hiện tỷ số giữa số tăng thêm nói trên với tổng t bản. Do
đó, nó củng cố ấn tợng cho rằng lợi nhuận là "con đẻ" của TBCN.
Dới chế độ TBCN, mức độ bóc lột lao động của ngời khác mang hình
thức tăng giá trị, biểu hiện ở tỷ suất giá trị thặng d, nh vậy sẽ không tránh
khỏi việc phải chuyển tỷ suất giá trị thặng d thành tỷ suất lợi nhuận bởi vì cả
bản thân giá trị lẫn mức tăng giá trị đều chỉ có thể hiện trong lu thông. Nhng
tỏng lu thông còn có sự khác nhau giữa t bản khả biến và t bản bất biến, giá
trị của hàng hoá chia ra thành chi phí sản xuất và số tăng thêm ngoài chi phí
sản xuất. Do đó trong biểu thức về mức độ, bóc lột tỷ số giữa giá trị thặng d
với t bản khả biến (m/v), đã chứa đựng sự chuyển hoá tỷ số ấy thành tỷ số
giữa giá trị thặng d với tổng t bản (m/(c/v)) hay (m/không trên thực tế, các
nhà t bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm nhiều hơn đến
tỷ suất lợi nhuận. Bởi vì tỷ suất lợi nhuận cho biết nhà t bản đầu t vào đâu thì
có lợi. Đối với nhà t bản nếu P' = 100% thì đầu t khắp nơi, nếu P' = 200% thì
7
sẽ bất chấp cả pháp luật và còn nếu P' = 300% thì treo cổ nhà t bản vẫn cứ
làm.
Do đó, tỷ suất lợi nhuận không chỉ là mục tiêu theo đuổi mà còn là
động lực chính, là yếu tố để cạnh tranh, là sự thèm khát vô hạn. Trên thực tế
thì tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp tuỳ thuộc vào nhiều nhana tố khách quan
nh tỷ suất giá trị thặng d, tiết kiệm t bản bất biến, cấu tạo hữu cơ, tốc độ chu
chuyển, Bởi thế, các nhà t bản đầu t vào Việt Nam đang tập trung vào
những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, thu lợi nhuận nhanh nh chủ nghĩa khai
thác, du lịch.
3. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
Trong cuộc đấu tranh giành chỗ đầu t có lợi nhất, các nhà t bảnh cạnh
tranh với nhau kịch liệt. Họ muốn đầu t vào những ngành sản xuất có triển
suất lợi nhuận cũng tăng lên.
Tình trạng sụt giá trong ngành da và lên giá trong ngành chế tạo máy
móc, sẽ tiếp diễn cho đến khi nào tỷ suất lợi nhuận trong cả ba ngành xấp xỉ
bằng nhau mới thôi. Điều đó sẽ xảy ra khi mà hàng hoá của cả ba ngành đều
bán theo giá 120 đơn vị (130 + 120 + 110)/3).
Lợi nhuận bình quân của mỗi ngành, trong những điều kiện ấy, sẽ là
20 đơn vị. Lợi nhuận bình quân là một lợi nhuận bằng nhau của những số t
bản bằng nhau bỏ vào các ngành sản xuất khác nhau.
Việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và việc biến giá trị thành giá cả
sản xuất càng che dấu thêm quan hệ bóc lột, càng che dấu thêm nguồn gốc
làm già thực sự của bọn t bản. thực ra thì sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình
quân có nghĩa là phân phối lại giá trị thặng d giữa các nhà t bản trong các
ngành sản xuất khác nhau. Nhà t bản thuộc ngành có cấu tạo hữu cơ t bản
cao, chiếm đoạt đợc một phần giá trị thặng d do các ngành có cấu tạo hữu cơ
t bản thấp sáng tạo ra. Bởi vậy, công nhân không những bị nhà t bản thuê
mình bóc lột, mà còn bị toàn bộ giai cấp các nhà t bản bóc lột. Toàn bộ giai
cấp các nhà t bản đều quan tâm đến việc nâng cao mức độ bóc lột công nhân,
vì điều đó làm tăng thêm tỷ suất lợi nhuận bình quân. Nh Mác đã vạch rõ, tỷ
suất lợi nhuận bình quân thay đổi tuỳ theo mức độ bóc lột của toàn bộ t bản
đối với toàn bộ lao động.
iii. quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợi
nhuận:
1. Quan điểm của các nhà kinh tế t sản hiện đại về lợi nhuận:
Các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: Lợi nhuận là lợng dôi ra của
doanh thu so với chi phí. Trong đó, doanh thu của một hãng là số tiền mà nó
kiếm đợc qua việc bán hàng hoá hoặc dịch vụ trong một giai đoạn nhất định,
vì dụ nh một nặm. Chi phí của hãng là những phí tổn phải chịu khi sản xuất
ra hàng hoá hoặc dịch vụ trong thời kỳ đó.
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Để cung cấp hàng hoá cho thị trờng, các nhà sản xuất phải bỏ
lao động ở đây có năng suất cao hơn thì giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn.
Song trên thị trờng giá bán hàng hoá cùng lại vẫn theo giá thị trờng nên nhà
t bản có máy móc hiện đại hơn sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận siêu ngạch hơn.
Thực tế, trên quy mô thị trờng thế giới, các nhà t bản phát triển sản xuất bằng
máy móc hiện đại và đem bán hàng hoá tại các nớc kinh tế chậm phát triển
đã thu đợc lợi nhuận khổng lồ khó có thể hình dung đợc. Lợng lợi nhuận siêu
ngạch mà một nhà t bản thu đợc là do phần lợi nhuận của các nhà t bản khác
mất đi mà thôi. Nếu mọi cơ sở sản xuất đều trang bị máy móc hiện đại nh
nhau thì hiện tợng lợi nhuận siêu ngạch sẽ biến mất và ngời tiêu dùng đ-
10
ợc lợi vì giá cả hàng hoá đợc hạ thấp. Nhng chỉ khi cần một nhà t bản
nào đó áp dụng máy móc hiện đại hơn và thu đợc lợi nhuận siêu ngạch
thì lập tức dẫn đến sự cạnh tranh để rồi sớm hay muộn sẽ làm triệt tiêu
lợi thế cá biệt, triệt tiêu lợi nhuận siêu ngạch.
iv. các hình thức của lợi nhuận:
Nh ta đã biết, giá trị thặng d lợi nhuận không hoàn toàn đồng nhất nh-
ng chúng đều có chung nguồn gốc từ lao động thặng d. Giá trị thặng d là
phần giá trị mà nhà t bản bóc lột không công của ngời công nhân còn lợi
nhuận là số tiền thu đợc sau khi bán sản phẩm trên thị trờng so với số tiền bỏ
vào sản xuất. Có thể nói, chính giá trị thặng d biểu hiện sự bóc lột sản xuất,
chứng minh công thức, mâu thuẫn của t bản một cách chính xác và khoa học.
Trớc Mác, các nhà kinh tế học đã hình dung ra giá trị thặng d nhng họ cha có
đủ lý luận để diễn đạt mà chỉ biểuhiện quan điểm của mình trong vấn đề thu
nhập, tiền lơng. Chỉ đến Mác, ông mới chứng minh xây dựng lý thuyết giá trị
thặng d là phát minh vĩ đại của Mác mà nh Lênin nói là "hòn đá tảng" trong
học thuyết kinh tế. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rằng Mác không phải là ng-
ời phát minh ra giá trị thặng d, càng không phải là ngời làm ra nó: chính ngời
tìm ra giá trị thặng d là nhà t bản và ngời lao động thặng d là công nhân giá
trị thặng d rất rõ ràng nhng nó đợc che dấu bởi lợi nhuận và nó tồn tại trong
xã hội t bản bởi các hình thái sau:
Nhà t bản muốn hoạt động nhng bản thân họ không đủ vốn hoặc
không có vốn nên họ phải đi vay để làm vốn đem vào sản xuất. Một số nhà t
bản có tiền nhng cha đến chu kỳ sử dụng hoặc cha sử dụng nên họ cho vay
và nhận đợc một khoản tiền ứng với số tiền cho vay từ tay nhà t bản đi vay,
gọi là lợi tức. Lợi tức cho vay là một phần lợi nhuận bình quân mà nhà t bản
đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay ứng với mons tiền mà nhà t bản cho vay
đã đa cho nhà t bản đi vay, lợi tức cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu
tố nh sự cấp thiết, hoàn cảnh lịch sử, sự thảo thuận giữa các nhà t bản đối
với t bản thì tiền không thể chết trong két sắt mà nó đẻ ra liên tục.
4. Lợi nhuận ngân hàng:
Ngân hàng là cơ quan kinh doanh tiền tệ, làm môi giới giữa ngời đi
vay và ngời cho vay. Tuy nhiên, t bản ngân hàng khác t bản cho vay ở chỗ: t
bản ngân hàng là t bản hoạt động, ngoài nguồn vốn nhàn rỗi còn có các
chứng khoán Ngân hàng tham gia vào sản xuất với t bản và cả hai bên chi
phí liên quan đến nhau cùng chia lợi nhuận. Lợi nhuận ngân hàng là phần
lợi nhuận thu đợc ứng với số tiền mà ngân hàng chung vốn với nhà t bản
tham gia sản xuất. Ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhà
sản xuất. Một đất nớc có phát triển thì hệ thống ngân hàng phải phát triển
bởi vì vai trò của ngân hàng trong cơ chế thị trờng là yếu tố đặc biệt quan
trọng.
5. Địa tô:
T bản không chỉ hình thành và thống trị trong lĩnh vực công nghiệp mà
còn mở rộng cả trong nông nghiệp. Địa chủ có nhiều ruộgn đất còn nhà t bản
cần ruộng để kinh doanh. Nhà t bản kinh doanh ruộgn đất phải thu thêm một
12
phần giá trị thặng d dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, tức là lợi nhuận siêu
ngạch. Lợi nhuận siêu ngạy này tơng đối ổn định và lâu dài và nhà t bản phải
trả cho chủ ruộng đất dới hình thái địa tô TBCN. Nh vậy, địa tô TBCN là một
phần giá trị thặng d còn lại sau khi đã khấu trừ đi một phần lợi nhuận bình
quân của nhà t bản kinh doanh ruộng đất.
lúc:
13
Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị
trờng và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa, đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao
nhất. Trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp luôn bị thị trờng thẩm phán về lợi
nhuận. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì một phần lợi nhuận thu đợc sẽ đi
vào tích luỹ để doanh nghiệp tiếp tục tái sản xuất mở rộng. Lợi nhuận doanh
nghiệp thu đợc trên thị trờng sẽ trả lời câu hỏi: có nên tiếp tục sản xuất hay
không? Sản xuất cái gì? Đổi mới cái gì? Không còn nữa và sẽ không còn
một doanh nghiệp kinh doanh vẫn tiếp tục sản xuất khi mặt hàng đó không
thu đợc lợi nhuận. Nh vậy lợi nhuận sẽ điều hớng các yếu tố sản xuất nhằm
phân bổ sản xuất hàng ngàn mặt hàng khác nhau cho phù hợp với nhu cầu.
Không một bộ máy thứ hai nào, dù tài giỏi đến đâu có thể giải quyết tốt đẹp
vấn đề này. Cơ chế giá cả và lợi nhuận tự do sẽ tối đa hoá sản xuất và làm
giảm tình hình khan hiếm nhanh chóng hơn bất cứ một cơ chế nào.
b. Lợi nhuận là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lợng
sản xuất:
Doanh nghiệp cũng nh các nhà kinh tế phải cố gắng hết sức để đạt đợc
lợi nhuận tối đa. Họ phải làm gì? phải lựa chọn cái nào? sản xuất ra sao?
đó là một vấn đề rất khó trả lời một cách cụ thể nhng chắc chắn rằng nếu sản
xuất không có lãi doanh nghiệp sẽ bị loại khỏi thị trờng. Trên thơng trờng,
các doanh nghiệp luôn luôn phải tiến lên nếu dừng lại đồng nghĩa với nguy
cơ phá sản đang tiến đến. Vì vậy, các ông chủ làm mọi cách để doanh nghiệp
ngày càng mở rộng, phải làm cho lợi nhuận đẻ ra lợi nhuận thì mới có điều
kiện phát triển trong môi trờng gay go quyết định lợi nhuận đòi hỏi các
doanh nghiệp phải tìm ra phơng pháp sản xuất tối u nhất, giảm tối thiểu mức
chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động để giảm giá thành sản phẩm, giành
thắng lợi trong cạnh tranh, thu đợc nhiều lợi nhuận. Do vậy, khoa học và
công nghệ mới tiên tiến đợc ứng dụng ngày càng nhiều. Đây chính là nhân tố
quyết định sự phát triển của lực lợng sản xuất xã hội.
liệu tiêu dùng hơn. Do đó, hàng hoá sản xuất ra có thể tiêu thụ đợc, lợi nhuận
vì vậy cũng thu đợc nhiều hơn. Và một phần lợi nhuận đó đợc các nhà t bản
mang vào tích luỹ để tái sản xuất mở rộng nằm lần sau thu đợc lợi nhuận
nhiều hơn lần trớc. Do vậy, lợi nhuận tạo điều kiện để mở rộng sản xuất là
động lực thúc đẩy xã hội phát triển.
Nh vậy, lợi nhuận kích thích các chủ thể kinh tế, kích thích họ tìm tòi,
cải tiến phơng thức sản xuất, phát triển lực lợng sản xuất. Đồng thời nền kinh
tế thị trờng phát triển cũng huy động đợc nguồn lực của xã hội và phát triển
kinh tế để thu đợc nhiều lợi nhuận. Do vậy, có thể nói lợi nhuận chính là
động lực của nền kinh tế thị trờng.
2. Các nhân tố ảnh hởng và quyết định đến lợi nhuận:
Trên đây ta đã thấy đợc tầm quan trọng của lợi nhuận nh thế nào rồi.
Bây giờ ta xem xét các yếu tố nào ảnh hởng đến lợi nhuận.
a. Quy mô sản xuất hàng hoá dịch vụ:
Một doanh nghiệp muốn thu đợc lợi nhuận thì phải giải quyết đợc ba
vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì? sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai?
15
+ Sản xuất cái gì tức là quyết định cái gì đòi hỏi phải làm và nên sản
xuất hàng hoá dịch vụ gì với số lợng bao nhiêu, bao giờ sản xuất. Trên cơ sở
nhu cầu thị trờng các Chính phủ và các nhà kinh doanh tính toán khả năng
sản xuất của nền kinh tế, của doanh nghiệp và các chi phí sản xuất tơng ứng
để lựa chọn và quyết định cung ứng cái gì để đạt đợc lợi nhuận, đạt đợc thu
nhập quốc dân. Chính giá cả thị trờng là bàn tay vô hình để điều chỉnh quan
hệ cung cầu và giúp chúng ta lựa chọn, quyết định.
+ Sản xuất nh thế nào nghĩa là do ai và những tài nguyên nào với hình
thức công nghệ nào, phơng pháp sản xuất nào. Sau khi đã lựa chọn đợc cần
sản xuất cái gì, các chính phủ, các nhà kinh doanh phải xem xét việc làm thế
nào để chi phí ít nhất, cạnh tranh thắng lợi trên thị trờng để thu đợc lợi nhuận
cao nhất. Động cơ lợi nhuận đã khuyến khích các doanh nghiệp tìm kiếm,
lựa chọn các đầu vào để sản xuất ra đầu ra nhanh nhất, sản xuất đợc nhiều
có đợc do lao động của họ hay do vốn đầu t của họ mang lại, có nghĩa là tiền
trả cho yếu tố sản xuất do họ cung cấp. Vì vậy, có một số giá trị tuy thờng
gọi là lợi nhuận nhng thực chất là tô, tiền thuê, tiền công lấp dới các tên gọi
khác nhau.
- Lợi nhuận là phần thởng cho việc gánh chịu rủi ro và cho sự đổi mới.
Nửa thế kỷ trớc đây một nhà kinh tế học trờng đại học Chicagô cho rằng, tất
cả lợi nhuận thực sự đều có liên quan tới tính không chắc chắn và không
hoàn hảo của thông tin, nói nh vậy là ông ta ngụ ý cho rằng, nếu loại bỏ tất
cả lợi tức ẩn thì ta đợc lợi nhuận thuần tuý, và đó là phần thởng cho các hoạt
động đầu t có lợi tức bất định. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo và công
nghệ không thay đổi sẽ không thu đợc chút lợi nhuận nào hết. Trong điều
kiện đó, các chủ sở hữu thu đợc khoản tiền do các yếu tố sở hữu và sự rủi ro
mang lại đúng bằng giá trị những dịch vụ này trong thị trờng cạnh tranh.
Trong thực tế, một số ngời sẽ có ý kiến mới hay bằng cách đổi mới, phát
minh có thể thúc đẩy tạo ra các sản phẩm mới hoặc giảm chi phí sản xuất đối
với các sản phẩm đang sản xuất. Mỗi đổi mới thành công, tạo ra một lĩnh vực
độc quyền tạm thời. Trong thời hạn ngắn, họ thu đợc lợi nhuận nhờ đổi mới.
Lợi nhuận thu đợc này chỉ là tạm thời và sẽ giảm đi do có nhiều ngời cạnh
tranh và bắt chớc làm theo. Nhng một khi mức lợi nhuận nhờ đổi mới này
giảm đi thì lại có những phát minh khác xuất hiện. Lợi nhuận nhờ đổi mới sẽ
tiếp tục tồn tại cùng với các thay đổi tiếp tục về công nghệ.
- Lợi nhuận lợi tức độc quyền: Khi trên thị trờng không có cạnh tranh
hoàn hảo, các công ty có thể thu về lợi nhuận siêu ngạch do tự tăng giá. Nếu
bạn là chủ sở hữu duy nhất bản quyền về một loại thuốc quý, hay bạn là ngời
duy nhất kiếm đợc giấy phép lắp đặt đờng cáp vô tuyến trong thành phố, bạn
có thể tăng giá cao hơn chi phí biên, hạn chế mức cung, và thu đợc lợi nhuận
độc quyền từ việcđầu t của mình.
3. Các phơng pháp tăng lợi nhuận:
Thực sự là thiếu sót nếu không đề cập đến cách tăng lợi nhuận. Làm
thế nào để tăng lợi nhuận? Đó là câu hỏi đặt ra đối với bất kỳ ai làm kinh tế
4. Những mặt trái của lợi nhuận đối với sự phát triển kinh tế của
Việt Nam:
Bên cạnh những u điểm của mình: Thúc đẩy lực lợng sản xuất phát
triển, tạo ra sự cân đối giữa các ngành sản phẩm trong nền kinh tế quốc dân,
phơng thức sản phẩm ngày càng hiện đại hơn, lợi nhuận cũng không tránh
khỏi những mặt tiêu cực của nó.
18
Chủ nghĩa t bản càng phát triển thì cấu tạo hữu cơ của t bản càng nâng
cao. Mỗi xí nghiệp trong khi dùng máy móc thay thế công nhân, đều muốn
giảm bớt chi phí sản xuất, mở rộng đờng tiêu thụ hàng hoá, và thu lợi nhuận
siêu ngạch. Nhng khi mà những thành tự kỹ thuật của một số xí nghiệp đã
lan rộng ra, thì cấu tạo hữu cơ của t bản trong phần lớn các xí nghiệp đợc
nâng cao lên, do đó mà tỷ suất lợi nhuận chung giảm xuống. Đây là kết quả
mà không một nhà t bản nào mong muốn cả. Do vậy họ tìm cách để kìm hãm
sự giúp sức của tỷ suất lợi nhuận và vì vậy dẫn đến những hậu quả sau - giai
cấp công nhân bị áp bức bóc lột nặng nề. Nhà t bản không quan tâm đến sức
khoẻ và tính mệnh của công nhân. Các chủ xí nghiệp bắt công nhân làm việc
trong những gian nhà chật hẹp, thiếu khí trời, họ giảm bớt các thiết bị an toàn
lao động. Tính keo bẩn của các nhà t bản đã đa đến kết quả là sức khoẻ của
công nhân bị mòn mỏi, bao nhiêu tai nạn lao động xảy ra, tỷ số công nhân
chết tăng lên.
- Việc áp dụng máy móc để tăng lợi nhuận làm tăng tỷ lệ thất nghiệp,
gây ra một áp lực lớn đối với thị trờng lao động. Điều đó khiến bọn chủ xí
nghiệp giảm tiền lơng xuống và định mức tiền lơng thấp hơn giá trị của sức
lao động rất nhiều. Vì vậy, trong khi các nhà t bản ngày càng giàu có thì đời
sống của ngời công nhân ngày càng bần cùng. Điều đó càng làm cho mâu
thuẫn giữa giai cấp t bản và giai cấp vô sản càng sâu sắc.
- Ngày nay trong nền sản xuất hiện tại việc chạy theo lợi nhuận kéo theo việc
áp dụng nhiều máy móc - kỹ thuật hiện đại làm cho môi trờng xung quanh
trở lên ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác đến cạn kiệt; gây nên
Đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Các doanh nghiệp có
thể vì mục đích tối đa của mình mà lạm dụng tài nguyên xã hội phải gánh
chịu. Nhà nớc cần buộc các doanh nghiệp ấy gây ra.
Trong nền kinh tế thị trờng , các tổ chức độc quyền có thể tăng thậm
chí giảm số lợng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận. Một nền kinh
tế bị thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhng cạnh tranh
đã làm hạn chế khả năng đạt lợi nhuận nên các doanh nghiệp cố gắng giảm
cạnh tranh. Vì vậy, Nhà nớc có nhiệm vụ bảo vệ cạnh tranh, chống độc
quyền, đảm bảo tính hiệu quả của hàng hoá thị trờng .
Việc chạy theo lợi nhuận, việc phân hoá giàu nghèo, tác động xấu đến
đạo đức và tính ngời. Do vậy, Nhà nớc cần phân phối lại thu nhập cho công
bằng, bảo vệ các thành viên của xã hội, chống lại những khó khăn về kinh tế,
nâng cao mức sống của các nhóm dân c có thu nhập thấp. Điều đó đợc thực
hiện thông qua các chính sách phân phối, bảo hiểm xã hội, và phúc lợi xã
hội.
II. Vấn đề lợi nhuận ở Việt Nam
1. Thực trạng về vấn đề ở nớc ta.
a. Thời kỳ trớc năm 1986.
20
Đây là cả một thời kỳ Nhà nớc cha đa các doanh nghiệp hoạt động
trong mối quan hệ trực tiếp với thị trờng . Mọi hoạt động của các đơn vị
kinh doanh đều dựa vào Nhà nớc: kinh phí Nhà nớc cấp, sản xuất kinh
doanh vị lỗ đợc Nhà nớc bù; sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đợc Nhà nớc
đảm nhiệm. Lợi nhuận cha đợc coi là động lực chi phối hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, trong nền kinh tế luôn xảy
ra tình trạng lãi giả lỗ thật, lỗ giả lãi thật. Nh vậy Nhà nớc cha nắm đợc
nguồn vốn của các doanh nghiệp và từ đó buông lỏng khâu quản lý nó.
Mặt khác do việc cha đánh giá và xác định lợi nhuận một cách có căn cứ
nên các đơn vị luôn tìm mọi thủ đoạn, mọi cách để đợc hởng cao nhất,
còn Nhà nớc bị thiệt nhiều hơn.
cơ bản là đúng đắn và có tác dụng tích cực.
Tuy nhiên do đa số các doanh nghiệp không chuyển kịp và thích nghi
với cơ chế thị trờng , nên Nhà nớc thực hiện đợc xóa bỏ bao cấp qua vốn,
tín dụng, giá và thị trờng đầu ra, thì phần lớn các doanh nghiệp bị đình
đốn, thu hẹp sản xuất, tạm thời ngừng sản xuất toàn bộ hay bộ phận. Mặc
dù đã có sự xắp xếp bố trí lại doanh nghiệp, nhng số các doanh nghiệp
làm ăn bị thua lỗ còn nhiều, đặc biệt là các doanh nghiệp địa phơng. Điều
này buộc Nhà nớc phải hỗ trợ, tạo điều kiện cùng doanh nghiệp khắc
phục tình trạng đình đốn suy thoái ngừng trệ trong sản xuất kinh doanh.
Để làm điều đó Nhà nớc đã áp dụng một số giải pháp tình thế sau:
+ Tập trung chỉ đạo thanh toán tình trạng nợ dây chuyền và chiếm
dụng vốn lẫn nhau của các đơn vị kinh tế Nhà nớc.
+ Cho doanh nghiệp vay vốn tín dụng với lãi xuất u đãi và hoàn thu
hồi vốn các khoản vay trớc.
+ Trợ giá cho một số ngành công nghịêp nặng.
+ Phát hành thêm tiền để mua lơng thực dự trữ, mua sản phẩm ứ đọng
và tiếp tục cấp phát vốn xây dựng cơ bản cho các doanh nghiệp nhằm tạo
ra sức mua, tăng cầu.
+ Tính toán lại mức thu quốc doanh; tạm hoãn hoặc giảm mức thu
quốc doanh đối với các doanh nghiệp đang thực sự gặp khó khăn đình đốn
hoặc ngng trệ.
Chi hàng trăm tỷ đồng để hỗ trợ cho doanh nghiệp nhằm xắp lại lực l-
ợng lao động cho các đơn vị kinh tế Nhà nớc.
Chuyển sang cơ chế thị trờng , Nhà nớc quy định và cho phép các
doanh nghiệp tính lợi nhuận (trong thực tế gọi là lãi) theo cấu thành giá
thành và lợi nhuận do vậy, các doanh nghiệp có xu hớng không muốn để
lợi nhuận ở bảng tính toán, trái lại họ tìm mọi cách biến tớng nó để phải
nộp ít nhất và đợc hởng nhiều nhất. Trờng hợp nếu thiếu tiền trả lơng cho
cán bộ, công nhân viên, thì họ sẵn sàng giảm khoản lợi nhuận và do đó
giảm phần nộp cho Nhà nớc để tăng nguông thu cho doanh nghiệp.
+ Về cơ chế hình thành lợi nhuận: không nên xác định lợi nhuận bình
quân theo cấu thành giá nh trớc. Tuỳ từng ngành, từng loại sản phẩm khác
nhau mà Nhà nớc nên quy định và điều chỉnh lại tỷ lệ lợi nhuận định mức
khác nhau. Ví dụ: đối với những sản phẩm có giá trị nhỏ (gạch ngói, ) Nhà
nớc nên nâng tỷ lệ lợi nhuận định mức, còn đối với những sản phẩm tinh có
giá trị lớn ( máy biến thế, sản phẩm dầu mỏ, ) Nhà nớc nên hạ tỷ lệ lợi
nhuận định mức. Khi đó sẽ góp phần giải quyết những bất bình đẳng trong
việc thu và phân phối lợi nhuận trớc đây.
Bên cạnh đó, Nhà nớc cần thông qua bộ máy quản lý thực hiện việc
kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát các nguồn vốn của các doanh nghiệp. Trên cơ
sở đó, buộc các đơn vị phải hoạt động đi vào hiệu quả thực sự lãi thật, lỗ
23
thật. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nhà nớc cần quản lý thu
nhập của họ. Thực hiện sự quản lý chặt chẽ đối với quá trình sản xuất kinh
doanh theo luật pháp đã ban hành. Việc quản lý đó phải bắt đầu từ khâu cấp
giấy phép kinh doanh đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Thẳng thắn trừng trị
những ai trốn lậu thuế, kinh doanh hàng cấm, hàng giả.
+ Về cơ chế phân phối lợi nhuận: để khai thác tối u các tiểm năng ở
các ngành, địa phơng, các đơn vị cơ sở, góp phần thúc đẩy tăng trởng và phát
triển kinh tế nhanh, điều quan trọng hàng đầu là phải tăng thu nhập cho ngời
lao động. Đây là động lực chủ yếu của sự phát triển. Nhà nớc nên dành phần
thu nhập ngày càng lớn cho doanh nghiệp và ngời lao động. Nhà nớc chỉ nên
thu phần lợi nhuận trong phần lợi nhuận định mức và nếu có điều kiện Nhà
nớc nên giảm phần trăm thu khoản lợi nhuận này. Phần lợi nhuận vợt ngoài
địng mức, Nhà nớc không nên thu mà để cho doanh nghiệp và ngời lao động
đợc toàn quyền sử dụng. Có chăng Nhà nớc chỉ nên định hớng việc sử dụng
khoản lợi nhuận này.
Theo đà phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, các
doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh thị trờng cần phải đầu t theo
chiều sâu là chính. Về lâu dài và giải quyết các mục tiêu: chất lợng sản
trên thơng trờng sẽ góp phần xây dựng Việt Nam giàu đẹp hơn, văn minh
hơn.
25