LUẬN VĂN: Nhận thức nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Nhận thức nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa A. ĐặT VấN Đề
Vấn đề Nhà nước và thị trường là mối quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên
cứu kinh tế trong nhiều thập kỷ qua. Vì vậy ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế
giới muốn tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và có hiệu quả hơn
Trong báo cáo chính trị của “ban chấp hành trung ương” khoá VIII trình đại hội
IX của Đảng ta có đề cập. Nhà nước ta quản lý kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của kinh tế

trong (sự liên hệ tác động, lại có mối liên hệ bên ngoài, nói chung mối liên hệ này
không có ý nghĩa quyết định hơn nữa nó thường thông qua mối liên hệ bên trong mà
phát huy tác dụng đối với các sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên nó là
mối liên hệ hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường vì vậy không có một sự
kiện nào tồn tại trong trạng thái cô lập tách rời những sự kiện khác. Chẳng hạn cuộc
cách mạng khoá học cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vừa tạo ra những thời
cơ nhưng cũng vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với tất cả các nước chậm phát
triển. Nước ta có tranh thủ được thời cơ do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không trước
hết phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng của Nhà nước và tiếp nữa là sự phấn
đấu toàn nhân dân Việt Nam. Song chúng ta cũng khó xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội nếu không hội nhập quốc tế. Không vận dụng được những thành quả của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ mà thế giới đã đạt được. Nói cách khác, mối liên hệ
bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò chủ đạo.
Có mối liên hệ chung trong toàn bộ thế giới, cũng có mối liên hệ riêng trong
từng lĩnh vực cụ thể.
Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật hiện tượng, lại có mối liên hệ
gián tiếp (sự vật hiện tượng liên hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều
khâu trung gian).
Từ nhận thức trên trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có
các yếu tố thị trường, các công cụ quản lý nền kinh tế quan điểm toàn diện ở đây thể
hiện ở chỗ muốn xây dựng nền kinh tế thị trường phải xây dựng các yếu tố thị trường
mang tính đồng bộ tính toàn diện chứ không phải xây dựng các công cụ riêng biệt lẻ
loi, các thị trường hàng hoá, dịch vụ cụ thể (thị trường vốn, thị trường lao động ) mà
ngay bản thân nền kinh tế cũng vậy nó không tồn tại trong trạng thái cô lập mà trong
mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế chính trị ngoại giao, kinh tế
chính trị, đạo đức pháp quyền, kinh tế chính trị – khoa khọc – nghệ thuật)
2. Yêu cầu của quan điểm toàn diện.

phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn, một chiều phiến diện trong thế giới khách quan,
mọi sự vật, mọi hiện tượng đều có rất nhiều mối liên hệ. Vì vậy cần phải xem xét các
mặt tránh xem xét một mặt hoặc một vài mắt đã vội kết luận ngay vấn đề như vậy sẽ
không chính xác. các quan hệ lợi ích thường chỉ thắng lợi ích trước mắt và không thấy
được lợi ích lâu dài.
Chống lại chủ nghĩa nguỵ biện và chủ nghĩa triết chung nhân danh toàn diện để
kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh
không đúng về sự vật.
II. Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
1. Kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa là gì?
1.1. Kinh tế thị trường và những đặc điểm của kinh tế thị trường.
Như đã biết, vào cuối thời kỳ công xã nguyên thuỷ, đầu thời kỳ xã hội nô lệ loại
người đã có một bước tiến nhảy vọt trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất. Trong
sản xuất đã bắt đầu có sản xuất thặng dư, tức là phần sản phẩm nhảy vọt quá phần sản
phẩm tất yếu do người sản xuất tạo ra. Mặc dù lúc đầu sự dư thừa đó chỉ là ngẫu nhiên
nhưng cùng với chế độ tư hữu được xác lập, người lao động đã có thể làm chủ những
sản phẩm dư thừa đó, mang trao đổi với nhau để nhận lại những sản phẩm mà mình
thiếu do kết quả phân công chuyên môn hoá đưa lại thị trường sơ khai xuất hiện từ đó.
Tuy nhiên, phải trải qua quá trình phát triển lâu dài, mãi đến giai đoạn cuối xã
hội phong kiến đầu xã hội TBCN kinh tế thị trường mới được xác lập, và phải đến cuối
giai đoạn phát triển của CNTB tự do cạnh tranh thì kinh tế thị trường mới được xác lập
hoàn toàn. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá với những đặc trưng riêng của nó là
người làm ra sản phẩm với mục đích đi bán (để trao đổi) chứ không phải tiêu dùng hay
ngẫu nhiên như trước. Đặc trưng đó ngày càng được bổ sung phong phú thêm.
Như vậy kinh tế thị trường phát triển từ sơ khai đến hiện đại là một công trình
sáng tạo của loài người trong quá trình sản xuất và trao đổi đó là trình độ văn minh mà

trọng đồng tiền xem thường đạo đức truyền thống.
Vậy để phát triển kinh tế thị trường cần phải có sự tác động của Nhà nước để
tiếp tục phát huy mặt tích cực hạn chế mặt tiêu cực. Điều đó đã được thể hiện rõ trong
đường lối kinh tế ở nước ta là Nhà nước quản lý kinh tế theo định hướng xã hội chủ
nghĩa gọi tắt là nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong lịch sử hình thành Nhà nước, chức năng hành chính công, lúc đầu chỉ
“mờ nhạt” đơn thuần là thu thuế của các tầng lớp dân cư hoạt động sản xuất kinh
doanh nhưng do tính tự phát của kinh tế thị trường đã gây ra những hậu quả ngày càng
nặng nền mà xã hội phải gánh chịu, Nhà nước phải can thiệp sâu hơn vào kinh tế từ đó,
chức năng kinh tế của Nhà nước cũng dần được xác định. Học thuyết của JMKên (nhà
kinh tế học Anh, 1884-1946) là điển hình về sự kêu gọi phải có bàn tay “hữu hình” của
Nhà nước can thiệp vào thị trường để hạn chế tính tự phát, tiêu cực của cơ chế thị
trường.
Tiếp sau học thuyết của Kên là nhiều học thuyết kinh tế với tên gọi khác nhưng
chỉ tập trung bàn về việc Nhà nước nên can thiệp vào kinh tế như thế nào mức độ, thời
điểm sao cho hiệu quả cao. Do đó, việc can thiệp vào quá trình kinh tế (quản lý kinh tế
vĩ mô) đã được coi là đương nhiên, mang tính quy luật của kinh tế thị trường và việc
định hướng phát triển của nền kinh tế đó cũng hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất giai
cấp của Đảng cầm quyền.
Chúng ta biết rằng, Nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp, là công cụ
của giai cấp cầm quyền, Nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường ngay từ buổi bình
minh của nó để đẩy nhanh quá trình tích luỹ nguyên thuỷ và tư bản, nhằm hình thành
và phát triển chủ nghĩa tư bản, ngay cả sau này, khi Nhà nước tư bản chủ nghĩa ban
hành các đạo luật chống độc quyền cũng quyết không phải vì lợi ích của giai cấp cần
lao, mà vẫn là vì lợi ích toàn cục của chế độ TBCN nói chung vì các tập đoàn tài chính
nói riêng. Vì thế việc Nhà nước ta quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa cho nền kinh tế thị trường là điều đương nhiên, phù hợp với tính quy

Một là, Nhà nước tạo môi trườg pháp lý thuận lợi cho các cá nhân, các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hoạt động. ở nước ta hiện nay các cá nhân, các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được quyền tự chủ sản xuất kinh doanh;
các cá nhân, các doanh nghiệp khi lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh đều lấy lợi
nhuận làm thước đo hiệu quả đồng thời làm mục tiêu định hướng các hoạt động kinh tế
của mình, tất nhiên, tự chủ kinh doanh theo pháp luật và mọi hành vi đều phải tuân
theo pháp luật. Do đó, Nhà nước phải xây dựng và ban hành một hệ thống pháp luật
đầy đủ và đồng bộ như: luật về các quyền (sở hữu, chiếm hữu, sử dụng, thừa kế,
chuyển nhượng ); luật hợp đồng; luật về sự bảo đảm của Nhà nước đối với các điều
kiện khung của nền kinh tế (bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường, chống hạn chế cạnh
tranh, chăm sóc môi trường, chống hạn chế cạnh tranh, chăm sóc những người không
có khả năng lao động, bảo hiểm xã hội ), luật thương mại,
Hai là, Nhà nước tạo môi trường kinh tế – xã hội ổn định bằng cách xây dựng
kết cấu hạ tầng sản xuất (trong đó quan trọng nhất là phát triển hệ thống giao thông
vận tải, thông tin liên lạc) và kết cấu hạ tầng xã hội (trong đó quan trọng nhất là phát
triển hệ thống giáo dục- đào tạo, y tế), cùng với các dịch vụ công cộng khác, như đảm
bảo an ninh, dịch vụ tiêu dùng
Ba là, Nhà nước soạn thảo kế hoạch, quy hoạch, các chương trình phát triển
kinh tế – xã hội và ban hành các chính sách để hướng các chủ thể thị trường thực hiện
các kế hoạch, quy hoạch và chương trình ấy thông qua các chính sách tài chính, tiền tệ,
sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: ưu đãi về thuế, về lãi suất cho vay cho những ai đầu
tư vào lĩnh vực mà Nhà nước khuyến khích.
Một vấn đề quan trọng là, Nhà nước ta quản lý nền kinh tế thị trường định
hưỡng xã hội chủ nghĩa “theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch hoá, phát
huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích
của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân”.
Có một số người cho rằng, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì Nhà nước

tế củ Nhà nước theo hướng: “Nhà nước thực hiện tốt các chức năng, định hướng sự
phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để cần đạt nổ lực phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất
quán để tạo môi trường ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt, khắc
phục, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, phân phối và phân phối lại thu nhập
quốc dân, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế – xã
hội.
Thực hiện đúng chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế và chức năng chủ sở
hữu tài sản công của Nhà nước. Cán bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào
chức năng quản lý kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp.
b. Kế hoạch hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta:
Đối với nước ta, giải quyết mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước trong điều
tiết, quản lý nền kinh tế cũng còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phải nghiên cứu.
chẳng hạn như:
Thứ nhất, sử dụng cơ chế thị trường đến đâu và như thế nào để phát huy được
mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.
Thứ hai, với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước thì kế hoạch hoá được sử
dụng như là một trong những công cụ lao động kinh tế vĩ mô như thế nào để đạt được
tăng trưởng lâu bền và đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay, kế hoạch hoá được hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các
hành vi can thiệp một cách có chủ định của Nhà nước vào nền kinh tế để đạt được
những mục tiêu đã đề ra.
Kế hoạch trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cũng khác với kế
hoạch hoá trước đây nếu trước đây kế hoạch hoá chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực
kinh tế Nhà nước, thì bây giờ kế hoạch hoá phải bao hàm tổng thể nền kinh tế quốc
dân với nhiều thành phần kinh tế và phải nhấn mạnh đến vấn đề quy hoạch, chiến lược


Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cơ chế đó đảm bảo tình huớng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới
đích xã hội chủ nghĩa theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng
dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: một là, Nhà nước xã hội chủ
nghĩa là nhân tố đóng vai trò “nhân tố trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là,
cơ chế thị trường là nhân tố đóng vai trò “trung gian” giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, sự quản lý vĩ mô của Nhà nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật
kinh tế thị trường. Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, luật
pháp, quy hoạch, kế hoạch định hướng, chính sách kinh tế – xã hội và khả năng, sức
mạnh kinh tế của Nhà nước để tác động tới thị trường, điều tiết hoạt động của các
doanh nghiệp cho phù hợp. Vì cơ chế thị trường có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, do
đó đặt ra cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp hài hoà 3 vấn đề
sau đây: một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội, đảm bảo cho các chủ thể
kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị – xã hội bình
thường cho sự phát triển kinh tế. Hai là, kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc của kinh tế
thị trường, như: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng, phân phói qua quỹ
phúc lợi xã hội Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính. Thứ ba, điều
tiết phân phối thu nhập, một mặt, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm
bớt khoảng cách chênh lệch giữa lớp người giàu và lớp người nghèo ; mặt khác, phải
có chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo
và của toàn xã hội.
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, do vậy nội dung kế hoạch không được
phép chỉ giới hạn trong phạm vi khu vực kinh tế Nhà nước mà phải mang tính tổng thể
toàn nền kinh tế. Việc đổi mới này sẽ tác động một cách sâu sắc đến tính dân chủ và
công khai của kế hoạch. Những công cụ thường được áp dụng trong nền kinh tế kế
hoạch hoá trước kia phải được thay thế bằng những công cụ, chính sách phù hợp với
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Liên quan chặt chẽ với những

người dân do chính quyền cấp gần dân nhất chăm lo, chính quyền cấp trên chỉ thực
hiện những nhiệm vụ có quy mô lớn mà cấp dưới không thực hiện được hoặc những
việc mang tính liên vùng”.
Việc xác định mục tiêu trong lập kế hoạch ở cả Trung ương lẫn địa phương theo
kiểu năm sau phải cao hơn năm trước, mục tiêu nào cũng đều muốn đạt mức cao trong
khi tiềm lực có hạn cần được thay đổi một cách cơ bản. kế hoạch phải căn cứ vào thực
hiện, phân tích quan hệ cung cầu và khả năng cạnh tranh trên thị trường (trong nước và
quốc tế ) để tính tốc độ tăng trưởng, từ đó xác định thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu,
nghĩa là phải có sự “trả giá”, hy sinh mục tiêu này cho việc đạt mục tiêu khác.
Việc chiến lược phát triển kinh tế – xã hội do Hội đồng Nghiên cứu chiến lược
thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chiến lược có thời gian 10-15 năm nhưng được
điều chỉnh vào giữa kỳ, dự thảo chiến lược công bố công khai và được các tầng lớp xã
hội, đặc biệt là các nhà trí thức và quản lý tham gia đóng góp ý kiến, chiến lược đựơc
Bộ chính trị và Đại hội Đảng thông qua.
Xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm. Kế hoạch 5 năm cụ thể hoá chiến lược. Kế
hoạch 5 năm xác định hướng cho sự phát triển của đất nước, xác định những lĩnh vực
mà nền kinh tế sẽ ưu tiên tập trung phát triển, xác định nguyên tắc hoạch định và xây
dựng chính sách cụ thể để hướng toàn bộ nền kinh tế phát triển theo định hướng đã
định. Do nội dung kế hoạch ngày càng có tính định hướng, dự báo cao nên vai trò của
kế hoạch 5 năm ngày càng quan trọng.
Một trong những cơ sở quan trọng cho việc lập kế hoạch 5 năm là những dự
báo phát triển về khả năng biến động của những yếu tố quốc tế, xu thế hội nhập khu
vực và quốc tế, của tiến bộ khoa khọc và công nghệ trên thế giới, hiệu quả và khả năng
cạnh tranh của một số ngành chủ chốt trên thị trường Việt Nam cũng như trên thị
trường quốc tế. Kế hoạch 5 năm cần tập trung nguồn lực vào một số ít mục tiêu quan
trọng của thời kỳ, những mục tiêu khác có thể chỉ cần đạt đến một mức độ tối thiểu
cần thiết.

thống tổ chức bộ máy thu thập và xử lý thông tin.
- Xây dựng và phát triển công tác dự báo và phân tích kinh tế.
- Nâng cao chất lượng bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ.
2. Vai trò của kinh tế thị trường với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam
1.2. Việt Nam phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa là tất yếu
Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế hàng
hoá, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu. Về mặt kinh tế, có thể coi đây là thời kỳ
của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường còn nhiều xu hướng tự phát nhưng có
sự điều tiết của Nhà nước do Đảng cộng sản lãnh đạo theo hướng củng cố và phát triển
chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, kết hợp đúng đắn giữa kế hoạch và thị trường, kết
hợp kế hoạch phát triển kinh tế với kế hoạch xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
giảm hẳn phần kế hoạch pháp lệnh và kế hoạch trực tiếp thay bằng kế hoạch định
hướng, trong đó không chỉ chú ý đến những cân đối tổng hợp mà còn cả cân đối giá trị,
nhằm giữ vững cân đối tổng thể, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của tất cả các
thành phần kinh tế, và do kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có những yếu tố khách
quan yêu cầu và bảo đảm cho sự thành công của nó. Đó là khu vực kinh tế xã hội chủ
nghĩa làm nền tảng đã hình thành, Nhà nước nắm giữ những ngành, những lĩnh vực
chủ chốt của nền kinh tế, chính quyền là của nhân dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản.
Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã có tiền lệ lịch sử chứ
không phải là “công việc hoàn toàn mới” hay “chưa hề có ” như một số tác giả đã quan
niệm. Tiền lệ đó là chính sách kinh tế mới (NEP) do Lê-nin đề xướng đã được vận
dụng vào thực tiễn ở Liên xô trong những năm hai mươi. Nội dung cơ bản của chính
sách đó là chuyển từ nền kinh tế mệnh lệnh, chỉ huy sang nền kinh tế thị trường theo

trường lao động cần được quan tâm đúng mức. Việc mở rộng thị trường lao động trong
nước cần có sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước, bảo vệ lợi ích của người lao động và
của người sử dụng lao động. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để tạo cơ hội
bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích
người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ, đào tạo lại, học nghề mới.
- Phát triển thị trường vốn: phát triển nhanh thị trường vốn, nhất là thị trường
vốn dài hạn và tập trung là yếu tố rất quan trọng để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
và có tăng trưởng cao. Hình thành đồng bộ thị trường tiền tệ, tăng khả năng chuyển đổi
của đồng tiền Việt Nam. Tổ chức vận hành thị trường chứng khoán an toàn hiệu quả,
Ngân hàng
- Ngoài các thị trường chủ yếu trên còn phải phát triển thị trường bất động sản
thị trường nhà ở, thị trường đất đai và một số thị trường khác.
Như vậy việc vận dụng quan điểm toàn diện đồng bộ các yếu tố thị trường các
loại thị trường là yếu tố thị trường cần được định hướng theo định hướng của Nhà
nước bằng hàng loạt các công cụ quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
b. Hoàn chỉnh động bồ và toàn diện hệ thống các công cụ quản lý kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để tiến hành quản lý kinh tế Nhà nước phải sử dụng để tác động cho nền kinh
tế nhằm đạt được mong muốn của mình.
Văn kiện đại hội VIII của Đảng chỉ rõ “Nhà nước quản lý kinh tế thị trường
bằng pháp luật, kế hoạch hoá, cơ chế chính sách bằng các đòn bẩy kinh tế và nguồn
lực của khu vực kinh tế Nhà nước”.
Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khác quan trong của cơ chế
thị trường, tạo điều kiện để phát huy mặt tích cực, đông thời khắc phục hạn chế những
tác động tiêu cực của thị trường. Do vậy quan điểm toàn diện trong việc xây dựng các
công cụ quản lý là hết sức quan trọng các công cụ đó cụ thể là:

năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn hoá tinh
thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không được bảo đảm, tham
nhũng nhiều, tệ nạn xã hội phát triển.
Trên thực tế nền kinh tế nước ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành
trung ương khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã được chấp nhận
nhưng mới chỉ ở mức độ thứ yếu. Đó là do quá nhiều thập kỷ, qua tư tưởng kinh tế xã
hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến, quan hệ hàng hoá và cơ chế thị trường. Coi nó là
biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng ta xây dựng
chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều chủ quan duy ý chí các mặt bố trí
cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển công nghiệp nặng, quy mô lớn, với xoá bỏ các hình
thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế quốc doạnh
và kinh tế tập thể, nặng nền hình thức phủ nhận nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị
trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh kém hiệu quả. Những sai lầm đó đã kìm hãm lực
lượng sản xuất và nhiều động lực phát triển. Cuộc cải cách kinh tế bị đầy lùi. Tư tưởng
Lênin trong chính sách kinh tế Mác bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.
1.2. Giai đoạn năm 1986-1990
Trước tình hình đó, Đại hội VI đã có những tư tưởng đổi mới nhưng chưa đi
ngay vào cuộc sống, còn có lực cản, nền kinh tế còn tiếp tục gặp khó khăn trong những
năm đầu nhưng từ năm 1989 các biện pháp đổi mới như áp dụng chính sách lãi suất
dương, xoá bỏ chế độ tem phiếu, loại bỏ một số khoản chi ngân sách bao cấp, mở rộng
quan hệ thị trường Đã thứcự đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến rõ rệt làm cho nền
kinh tế có nhiều khởi sắc. Ví dụ: như trong giai đoạn 1986-1990 đầu tư toàn xã hội tư
bản là 12,5% GDP tăng trưởng kinh tế trung bình là 3,9%, kim ngạch xuất khẩu đạt 23
tỷ USD/năm. Về mặt lạm phát thì năm 1986 là 774,7% đến năm 1990 giảm xuống còn
67,1%.
1.3. Giai đoạn từ 1991-2000:
Do mới có một số biện pháp được áp dụng vào cuối kỳ kế hoạch 1989-1990 nên

đổi mới đã đựơc cụ thể hóa và phát triển, đem lại những thành tựu to lớn và rất quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.
Đảng cộng sản trước sau như một vẫn khẳng định mục tiêu chủ nghĩa xã hội
của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
đã xuất hiện bệnh chủ quan duy ý chí. Đại hội VII Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng
định “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm
tòi xây dựng đường lối, mục tiêu và phương hướng xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã
phạm sai lầm chủ quan duy ý chí vi phạm quy luật khách quan nóng vội trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có lúc thúc đầy mở việc
xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu
bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiền lương, công tác
tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng, quán triệt nguyên
tắc khách quan khắc phục bệnh chủ qyan duy ý chí là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn
dân.
2.2. Thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế:
Nhà nước có chức năng cơ bản là tổ chức và xây dựng kinh tế vì vậy có chức
năng quản lý. Trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước càng đặc biệt quan
trọng. Một nền kinh tế thị trường mà không có sự can thiệp của Nhà nước thì khác nào
như vỗ tay bằng một bàn tay.
ở nước ta, chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế cần tập trung vào những nội
dung sau đây:
+ Tạo điều kiện, môi trường cho các quy luật kinh tế hoạt động như quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Đồng thời phát triển thị trường đồng bộ như
thị trường tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, thị trường bất động sản, thị trường tài
chính, tiền tệ, thị trường lao động, thị trường dịch vụ, thị trường chứng khoán. Trên cơ
sở đó thị trường mới có thể tham gia phân bố nguồn lực và khai thác tài nguyên có
hiệu quả.

tạo nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, chính sách đầu tư vốn, các chương trình 327 135,
chương trình phát triển Nông nghiệp, nông thôn, chính sách trợ cấp gia định có công
với nước, người già neo đơn.
Trong nền kinh tế thị trường, quản lý Nhà nước về kinh tế không phải bằng sự
can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các đơn vị doanh nghiệp mà chỉ thực
hiện chức năng định hướng, tạo môi trường thông qua hệ thống luật pháp, chính sách
tạo dựng những điều kiện vật chất, kỹ thuật cho việc phân bố lực lượng sản xuất và
khai thác tài nguyên có hiệu quả.
2.3. Phát triển thị trường trong nước, nhất là thị trường ở khu vực Nông
nghiệp, nông thôn:
Nông thôn nước ta rộng lớn, khu vực Nông nghiệp, nông thôn đến nay có gần
60 triệu người sinh sống nhưng nhiều vùng còn trong tình trạng lạc hậu, sản xuất tự
cung, tự cấp, thị trường nhỏ hẹp, bị chia cắt, sức mua thấp.
Điều tra sơ bộ cho thấy hiện tại nhu cầu ở khu vực này khá cao cả tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng.
Đó là thiết bị máy móc, vật tư cho sản xuất Nông nghiệp, xăng dầu, sắt thép, vật
liệu xây dựng, điện vốn. Các loại hàng tiêu dùng như xe máy, cát sét, đồ điện, trang trí
nội thất, đồ nhựa, hoá chất có nhu cầu cao nhưng sức mua thấp, khả năng thanh toán
có hạn.
Mặt khác, thị trường trong nước hạn hẹp thể hiện ở chỗ hàng nông sản bị ách
tắc, khó tiêu thụ, giá cả không ổn định, ảnh hưởng bất lợi cho sản xuất Nông nghiệp,
nhất là kinh tế hộ, kinh tế trang trại.
Để phát triển thị trường trong nước, biện pháp cơ bản và lâu dài xem xét, điều
chỉnh các chương trình phát triển kinh tế, điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho phù hợp với thị
trường trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh. Sản xuất phải tính đến thị trường tiêu thụ,
sản xuất cái gì, sản xuất cho ái? Vấn đề là sản xuất cái gì ta có.
Đầu tư cho khu vực Nông nghiệp, nông thôn, phát triển sản xuất hàng hoá làm
tăng thu nhập để tăng sức mua. Chừng nào khu vực Nông nghiệp nông thôn còn nghèo
nàn lạc hậu thì vẫn chưa có được thị trường hoàn thiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status