LUẬN VĂN:
Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ
tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt
Nam ( VIB Bank )
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, nhu cầu giao dịch thanh toán trong các
lĩnh vực sản xuất và đời sống là rất lớn. Cùng sự phát triển như vũ bão của công nghệ
thông tin, các nhu cầu của con người nói chung và trong hoạt động thanh toán nói riêng
đều được đáp ứng
Thẻ là phương tiện thanh toán ứng dụng công nghệ cao với nhiều ưu điểm vượt
trội đã trở thành công cụ thanh toán phổ biến trên thế giới và giữ vai trò quan trọng
tại các nước phát triển. Tại Việt Nam, tuy mới phát triển nhưng dịch vụ thanh toán
thẻ đã có bước phát triển vượt bậc, luôn được sự quan tâm đặc biệt của các NHTM và
khách hàng. Không chỉ đem lại cho các ngân hàng nguồn lợi nhuận từ phí dịch vụ, nó
Nội dung gồm 3 chương :
Chương 1: Tổng quan vể thẻ ngân hàng
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế
Việt Nam ( VIB Bank )
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh thẻ tại Ngân hàng TMCP
Quốc Tế Việt Nam ( VIB Bank )
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẺ NGÂN HÀNG
1.1. Đặc điểm và các hình thức thanh toán kinh doanh thương mại
1.1.1. Đặc điểm các hình thức thanh toán kinh doanh thương mại
Tiền tệ thực hiện chức năng thanh toán thông qua hai hình thức thanh toán bằng
tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt có ưu điểm là
rất đơn giản và dễ dàng trong mua bán hàng hoá. Việc trao đổi được thực hiện trực
tiếp giữa người mua và người bán mà không qua một trung gian thanh toán nào. Hai
bên mua bán cũng nhận được ngay cái mình cần ở mọi, lúc mọi nơi. Tuy nhiên,
phương thức này chỉ thích hợp với nền sản xuất quy mô nhỏ, việc trao đổi hàng hoá
diễn ra với số lượng nhỏ. Khi nền kinh tế phát triển hơn cả về số lượng và chất
lượng, nó bắt đầu bộc lộ những hạn chế nhất định như: Độ an toàn không cao khi
nắm giữ, tăng chi phí do in ấn, kiểm đếm, vận chuyển….Đặc biệt làm cho khối lượng
Hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi- chuyển tiền.
Hình thức thanh toán bằng Uỷ nhiệm thu.
Hình thức thanh toán bằng Thư tín dụng.
Hình thức thanh toán bằng Ngân phiếu thanh toán.
Hình thức thanh toán bằng Thẻ thanh toán.
1.1.2.1.Thanh toán bằng séc:
Séc là lệnh trả tiền của người phát hành séc trả cho người thụ hưởng. Trong thời
hạn hiệu lực thanh toán của tờ séc, người phát hành séc có nghĩa vụ thanh toán cho
người thụ hưởng và phải thanh toán ngay khi người thụ hưởng nộp séc vào ngân
hàng, Kho bạc Nhà nước.
Một số loại séc cơ bản gồm: Séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc
cá nhân. Căn cứ vào mẫu tờ séc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định, Các
Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phải chọn và đăng ký mẫu séc với Ngân hàng Nhà
nước và chỉ được in séc tại Nhà in Ngân hàng.
1.1.2.2.Thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi- Chuyển tiền:
Uỷ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn của
Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước yêu cầu Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ mình
(nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản trả tiền hàng, dịch vụ hoặc
chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà
nước.
1.1.2.3.Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản trong một
chi nhánh ngân hàng hoặc các chi nhánh ngân hàng, Kho bạc Nhà nước cùng hệ
thống hoặc khác hệ thống. Uỷ nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân hàng,
Kho bạc Nhà nước phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao, hoặc dịch vụ đã cung ứng.
Khách hàng mua và bán phải thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ
cuộc cách mạng trong lĩnh vực tài chính cá nhân và sẽ không có sự bùng nổ trong
bán lẻ vào những năm 1970 và 1980 nếu không có sự ra đời của thẻ. Sự phát triển
của thẻ là thành quả của sự đổi mới và khả năng Marketing của các chuyên gia Ngân
hàng thế giới. Thẻ, với hình dạng như hiện nay, xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những
năm đầu thế kỷ 20. Nó ra đời năm 1914, khi đó tổng công ty xăng dầu Califonia (nay
là công ty Mobil) thực hiện cấp thẻ cho nhân viên và một số khách hàng của mình.
Thẻ này chỉ với mục đích khuyến khích bán sản phẩm của công ty chứ chưa kèm
theo một sự dự phòng nào về việc gia hạn tín dụng.
Đến năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người
Mỹ đồng sáng lập ra Diners’Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên đem theo tiền
mặt. Sau đó họ đã cung cấp cho bạn bè, đồng nghiệp của mình thẻ Diners’Club, cho
phép các khách hàng có thể ghi nợ khi ăn, nghỉ tại một số nhà hàng, khách sạn ở New
York và thanh toán số tiền này định kỳ hàng tháng mà không giới hạn số tiền được
phép chi tiêu.
Trong hệ thống Ngân hàng, hình thức sơ khai của thẻ là Charge-it, một hệ thống
mua bán chịu do Ngân hàng Flasbush National lập ra. Hệ thống này mở đường cho
sự ra đời của thẻ vào năm 1951 do Ngân hàng Frankin National phát hành. Tại đây
khách hàng đệ trình đơn xin vay và sẽ được thẩm định khả năng thanh toán. Khách
hàng nào đủ tiêu chuẩn sẽ được cấp thẻ. Thẻ này được dùng để thanh toán cho các
thương vụ bán lẻ hàng hoá, dịch vụ. Các cơ sở này khi nhận được giao dịch sẽ liên hệ
với Ngân hàng, nếu được phép chuẩn chi họ sẽ thực hiện giao dịch và đòi tiền sau đối
với Ngân hàng.
Với những lợi ích của hệ thống thanh toán này, càng ngày càng có nhiều tổ chức
tín dụng tham gia thanh toán. Năm 1955, hàng loạt các thẻ mới như Trip Charge,
Golden Key, Goutmet Club rồi đến Carte Blanche và American Express ra đời và
thống lĩnh thị trường. Tuy nhiên để hình thức thanh toán thẻ có thể thu hút được
khách hàng cần phải có một mạng lưới thanh toán lớn, không chỉ trong phạm vi một
địa phương, một quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu. Đứng trước đòi hỏi đó,
InterBank (Marter Charge) và Bank of American (Bank Americard) đã xây dựng một
hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn trong xử lý, thanh toán thẻ toàn cầu. Năm 1977,
thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc để rút tiền
mặt tại các máy rút tiền tự động hay các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài
khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa NH phát hành thẻ và chủ thẻ.
Hoá đơn thanh toán thẻ chính là giấy nhận nợ của chủ thẻ đối với cơ sở chấp nhận thẻ.
Cơ sở chấp nhận thẻ và đơn vị cung ứng dịch vụ rút tiền mặt đòi tiền chủ thẻ thông qua
NH phát hành thẻ và NH thanh toán thẻ.
Như vậy sẽ có 3 hoặc 4 thành viên tham gia vào một giao dịch thẻ: Chủ thẻ
(Khách hàng), Cơ sở chấp nhận thẻ (nơi cung ứng hàng hoá, dịch vụ), NH phát hành
và NH thanh toán.
1.3.2 Phân loại
Hiện nay trên thế giới có khá nhiều loại thẻ do các NH Đại lý của các tổ chức
thẻ quốc tế ban hành. Có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, cụ thể là:
Theo công nghệ sản xuất: có 3 loại
*Thẻ khắc chữ nổi (Embossed Card):
Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay,
loại thẻ này không còn được sử dụng nữa vì kỹ thuật của nó quá thô sơ, dễ bị lợi
dụng, làm giả, mà kết hợp với những kỹ thuật mới như băng từ hoặc chíp thông
minh.
*Thẻ băng từ (Magnetic Strip):
Thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật những thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã
hoá trên băng từ ở mặt sau của thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20
năm trở lại đây nhưng có thể bị lợi dụng để lấy cắp tiền do có một số nhược điểm
như thông tin ghi trên thẻ hẹp và mang tính cố định nên không thể áp dụng kỹ thuật
mã hoá an toàn, có thể đọc được dễ dàng bằng thiết bị gắn với máy vi tính.
*Thẻ thông minh (Smart Card):
Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ
Theo tính chất thanh toán:
*Thẻ tín dụng (Credit card):
Thẻ tín dụng thực chất là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức chi tiêu
nhất định được ngân hàng phát hành thẻ cung cấp cho khách hàng căn cứ vào khả
năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp. Đây là một dạng tín dụng tuần
hoàn dành cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, rút tiền mặt từ các
điểm cung ứng hàng hoá (điểm chấp nhận thẻ) hoặc các điểm rút tiền tự động. Thực
chất đây là việc ngân hàng phát hành cho chủ thẻ vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ
trước và thanh toán sau một chu kỳ nhất định mà không tính lãi trong thời hạn tín
dụng do Ngân hàng quy định.
*Thẻ thanh toán (Payment Card):
Đây là loại thẻ dùng để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong
phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi của chủ thẻ tại Ngân hàng phát hành thẻ. Như
vậy, muốn sử dụng loại thẻ này, khách hàng phải ký gửi tiền vào một tài khoản tại
Ngân hàng và chỉ đựơc sử dụng thẻ trong phạm vi số tiền đã gửi. Sau mỗi lần sử
dụng thẻ để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền hàng thì số dư trên tài khoản thẻ giảm
dần.
*Thẻ ghi nợ (Debit Card):
Đây là loại thẻ mà chủ thẻ có thể thực hiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch
vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi tiết kiệm hoặc tiền gửi thanh toán của mình tại
Ngân hàng phát hành thẻ. Cũng như thẻ thanh toán, thẻ ghi nợ cũng không có hạn
mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện có trên tài khoản của chủ thẻ. Số tiền
chủ thẻ chi tiêu sẽ được khấu trừ ngay từ tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị
điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ.
Trong thẻ ghi nợ còn gồm hai loại cơ bản là thẻ Online và thẻ Offline. Thẻ
Online là thẻ mà những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị điện
tử tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới Ngân hàng phát hành thẻ. Giá trị
1.4.1 Đặc điểm cấu tạo
Thẻ Ngân hàng, dù cho được tổ chức tài chính hoặc phi tài chính phát hành đều
được làm bằng Plastic theo những tiêu chuẩn quốc tế bao gồm:
Kích thước:
- Chiều dài: 80,5598mm
- Chiều ngang: 50,397mm
- Bề dày: 0,4572mm
Mặt trước:
Mặt trước của thẻ gồm:
- Biểu tượng và tên ngân hàng phát hành: Đây là yếu tố bắt buộc đối với các
loại thẻ nhằm phân biệt NHPH.
- Bộ nhớ điện tử: Thường được gọi là chip, sử dụng đối với thẻ thông minh
trong đó có các dữ liệu liên quan đến chủ thẻ.
- Số thẻ: được in nôỉ hoặc chìm tuỳ từng loại thẻ.
- Tên chủ thẻ: là tên cá nhân hay tổ chức được ngân hàng cấp phát thẻ để sử
dụng.
- Thời hạn hiệu lực của thẻ: chỉ định khoảng thời gian NHPH cho phép sử
dụng thẻ. Khoảng thời gian có thể là 6 tháng, 12 tháng…tuỳ chính sách từng
NHPH. Hết thời gian sử dụng thẻ, chủ thẻ phải thẻ cho ngân hàng. Nếu khách
hàng vẫn có nhu cầu sử dụng thẻ thì sẽ làm thủ tục gia hạn thẻ.
Thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế: Sử dụng để nhận biết loại thẻ quốc tế sử
dụng.
Mặt sau
Mặt sau của thẻ gồm:
Chữ ký của chủ thẻ: NHPH yêu cầu chủ thẻ ký tên vào mặt sau của thẻ nhằm xác
định đúng người sử dụng thẻ khi thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ bằng thẻ tại các
ĐVCNT.
nhận séc khiến cho hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn rất nhiều.
Tính an toàn:
Khi sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt thì rủi ro do mất
cắp hay nhầm lẫn trong thanh toán là rất lớn. Tuy nhiên, đối với thẻ thanh toán thì rủi
ro này là thấp nhất. Thẻ là một phương tiện thanh toán hiện đại, ứng dụng công nghệ
cao, được trang bị hệ thống bảo mật lớn thông qua việc mã hoá thông tin cá nhân và
số Pin riêng cho mỗi chủ thẻ. Vì vậy nếu xảy ra trường hợp thất lạc hay mất cắp thẻ
thì nguy cơ bị mất tiền cũng khó xảy ra hơn so với việc sử dụng séc hay tiền mặt.
1.5 Lợi ích của việc sử dụng thẻ
So với các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt truyền thống như séc,
các uỷ nhiệm thu- uỷ nhiệm chi thì thẻ ngân hàng có những ưu thế nhất định vì nó
đem lại sự tiện lợi, an toàn và hiệu quả kinh tế cho người sử dụng. Vì vậy thẻ ngân
hàng được xem là phương tiện thanh toán thay tiền mặt hàng đầu trong các giao dịch
tiêu dùng. Thẻ ngân hàng có những lợi ích chủ yếu sau:
1.5.1.Đối với khách hàng( Chủ thẻ- Cardholder):
Thứ nhất, đây là phương tiện thanh toán an toàn và tiện dụng
Trước tiên là xét dưới góc độ bảo mật của giao dịch thì thẻ là phương tiện thanh
toán an toàn và tiện lợi. Với công nghệ sản xuất ở trình độ cao, cộng với các biện
pháp chống giả mạo như mã hoá thông số bằng từ tính hay chip điện tử khiến thẻ rất
khó bị làm giả. Có thể nói đây là một công cụ thanh toán thay thế tiền mặt có nhiều
lợi thế. Số tiền của khách hàng được đảm bảo bằng chữ ký, ảnh của chủ thẻ cũng như
mã số bảo mật riêng mà chỉ duy nhất chủ thẻ.
Xét dưới góc độ tiện dụng, thay cho việc càm tiền mặt phục vụ cho nhu cầu
thanh toán thì khách hàng chỉ cần cầm một tấm thẻ gọn nhẹ rất thuận lợi trong thanh
toán. Hơn nữa, thuận tiện hơn nhiều so với tiền mặt khi sử dụng thẻ tín dụng vì khách
hàng có khả năng chi tiêu đa ngoại tệ, không bị lệ thuộc vào một loại ngoại tệ của
ngay nhu cầu thanh toán thông qua sử dụng thẻ.
Thứ ba,tối đa hoá lợi ích kinh tế với một chi phí hợp lý.
Những tiện ích mà thẻ ngân hàng đem lại đó là sự tiết kiệm về mặt thời gian, chi
phí đi lại giao dịch…Đối với thẻ tín dụng, khách hàng sẽ được tiêu tiền trước và trả
tiền sau miễn phí. Trường hợp phải kí quỹ hay phải có số dư tiền gửi thanh toán thì
khách hàng còn được hưởng lãi suất trên số dư tiền gửi trên tài khoản. Đặc biệt, tính
đa năng về hạn mức cũng là một đặc điểm nổi bật đem lại sự hài lòng cho khách
hàng.
Thứ tư,kiểm soát được chi tiêu.
Với việc gửi sao kê hàng tháng từ ngân hàng phát hành, chủ thẻ hoàn toàn có
thể kiểm soát được chi tiêu của mình trong tháng, đồng thời tính được phí và lãi nếu
trả cho mỗi khoản giao dịch.
Chi phí cho tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại là khoản phí thường niên mà
chủ thẻ phải chịu và tỷ lệ lãi phạt nếu khoản chi tiêu không được thanh toán đúng
hạn. Tuy nhiên với tất cả những lợi ích mà thẻ mang lại cho chủ thẻ thi khoản phí này
không đáng kể.
1.5.2.Đối với các điểm chấp nhận thẻ:
Là một chủ thể quan trọng tham gia vào quá trình thanh toán thẻ, các điểm chấp
nhận thẻ cũng được hưởng những lợi ích không nhỏ từ hoạt động kinh doanh thẻ, đó
là:
Thứ nhất, mỗi điểm chấp nhận thẻ cũng như các đơn vị kinh tế khác, hoạt động
vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận thông qua tối đa hoá lượng hàng hóa dịch vụ bán
được. Vì thế, việc càng nhiều người sử dụng thẻ ngân hàng đã góp phần mở rộng thị
trường cho các ĐVCNT. Nhờ vào tiện ích mở rộng khả năng tài chính cho chủ thẻ,
thẻ ngân hàng đã giúp cho chủ thẻ chi tiêu vượt quá khả năng tài chính của mình. Vô
hình chung, nó trở thành lực đẩy tích cực đối với sức mua, từ đó tăng cung ứng hàng
hoá dịch vụ cho các ĐVCNT.
Cùng với những hoạt động kinh doanh khác, kinh doanh thẻ cũng mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng thông qua các khoản thu:
- Lãi cho vay: Khoản thu này là đối với thẻ tín dụng. Thẻ tín dụng không chỉ là
một dịch vụ thanh toán mà còn là hoạt động cho vay với độ an toàn cao. Thường vào
cuối tháng, khách hàng sẽ nhận được sao kê về số tiền đã sử dụng và số tiền tối thiểu
phải thanh toán lại cho ngân hàng. Trường hợp khách hàng không có khả năng thanh
toán hết mà chỉ thanh toán ở mức tối thiểu thì số dư nợ còn lại sẽ được tính lãi như
một khoản ngân hàng cho khách hàng vay.
- Chiết khấu thương mại: đây cũng là khoản thu đối với thẻ tín dụng. Nó phát
sinh trên doanh số thanh toán của các điểm chấp nhận thẻ. Khi các CSCNT trình hoá
đơn thanh toán lên ngân hàng, ngân hàng sẽ tính chiết khấu một tỷ lệ trên doanh thu.
Tỷ lệ chiết khấu này thường phụ thuộc vào tình hình thị trường và doanh số bán
hàng.
- Lệ phí thường niên và phí phát hành thẻ: Đây là khoản phí mà chủ thẻ phải trả
cho việc sử dụng thẻ. Ví dụ như với thẻ Visa Card do NHNT phát hành thì mức phí
phát hành là 200.000 VND cho một thẻ vàng và 100.000 VND cho một thẻ thường.
- Phí rút tiền mặt: là khoản phí mà khách hàng phải trả khi rút tiền mặt áp dụng đối
với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ. Tuy nhiên hiện nay khoản phí này thường chỉ áp dụng với
thẻ ghi nợ, còn các giao dịch đối với thẻ ATM thực hiện tại máy ATM hầu như được
miễn phí.
- Phí đại lý thanh toán: Khi NHTM tham gia kinh doanh thẻ với tư cách là đại lý
thanh toán thì Ngân hàng sẽ được hưởng một phần chiết khấu trên doanh số thanh
toán hộ. Với nhiều ngân hàng khi mới thâm nhập vào thị trường thẻ thì đây là nguồn
thu đáng kể.
- Các khoản phụ thu khác: Đó là các khoản như phí tăng hạn mức tín dụng tạm
thời, phí cấp lại thẻ mất cắp, thất lạc, phí tra soát…
Thứ ba, góp phần cải thiện công tác thanh toán.
Hoạt động kinh doanh thẻ của hệ thống NHTM đã tạo điều kiện cho cả khách
hàng và Ngân hàng tự động hoá các giao dịch, đẩy nhanh tốc độ thanh toán. Ngoài ra,
triển, nơi mà hoạt động kinh doanh thẻ phát triển mạnh mẽ thì nó còn tạo điều kiện
để phát triển các dịch vụ khác song song như đầu tư hoặc bảo hiểm cho các sản
phẩm. Như vậy, kinh doanh thẻ còn tạo ra sự “hỗ trợ chéo” rất hiệu quả cho ngân
hàng, làm đa dạng hoá hoạt động kinh doanh và góp phần phân tán rủi ro mỗi ngân
hàng.
1.5.4.Đối với nền kinh tế - xã hội
Hoạt động kinh doanh thẻ của các NHTM phát triển đã có vai trò lớn trong sự
phát triển kinh tế- xã hội. Điều này được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, góp phần giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông
Là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, vai trò đầu tiên của thanh toán
thẻ là làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông. Nhờ đó khối lượng cũng như áp
lực tiền mặt trong lưu thông giảm đi đáng kể. Nó có vai trò rất lớn trong việc kiểm
soát lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ của nhà nước. Đặc biệt với ngân hàng,
thanh toán thẻ còn giúp giảm chi phí kiểm đếm, in ấn, bảo quản và sự tham gia của
các nhân viên ngân hàng.
Thứ hai, tăng nhanh khối lượng chu chuyển và thanh toán trong nền kinh tế.
Hầu hết các giao dịch thẻ nội địa hay quốc tế đều được thực hiện và thanh toán
trực tuyến nên tốc độ chu chuyển và thanh toán nhanh hơn nhiều so với các phương
tiện thanh toán khác như séc, ửy nhiệm thu hay uỷ nhiệm chi. Mặt khác, các giao
dịch thẻ đều được xử lý qua hệ thống điện tử nên thuận tiện và nhanh chóng hơn
nhiều so với việc thực hiện các giao dịch trên giấy tờ như đối với các phương thức
giao dịch khác.
Thứ ba, góp phần thực hiện biện pháp kích cầu của nhà nước.
Sự tiện dụng mà thẻ mang lại cho chủ thẻ, CSCNT, các NHTM …khiến cho
ngày càng nhiều người ưa chuộng sử dụng thẻ, tăng cường việc tiêu dùng bằng thẻ.
Việc thanh toán và chi tiêu thực hiện dễ dàng hơn sẽ đẩy mạnh nhu cầu tiêu dùng của
mọi cá nhân, tổ chức. Như vậy, khuyến khích phát hành và thanh toán thẻ cũng là
Đây là trường hợp chủ thẻ bị mất cắp, thất lạc thẻ và bị người khác sử dụng
trước khi chủ thẻ kịp thông báo với NHPH để có các biện pháp hạn chế sử dụng thẻ
hoặc khoá thẻ. Thẻ này có thể bị tổ chức tội phạm in nổi và mã hoá lại thẻ để thực
hiện các giao dịch giả mạo. Như vậy, rủi ro này có thể dẫn đến tổn thất của cả chủ thẻ
và NHPH, thường chiếm tỷ lệ lớn nhất.
1.6.4.Chủ thẻ không nhận được thẻ do NHPH gửi.
Rủi ro này xảy ra khi NHPH gửi thẻ cho chủ thẻ bằng đường bưu điện nhưng
thẻ bị thất lạc hoặc bị đánh cắp trên đường gửi. Thẻ bị sử dụng trong khi chủ thẻ
chính thức lại không biết gì về việc thẻ đã được gửi cho mình.
1.6.5.Tài khoản chủ thẻ bị lợi dụng:
Đền kì phát hành, NHPH nhận được thông báo thay đổi địa chỉ của chủ thẻ. Do
không kiểm tra tính xác thực của thông báo đó, thẻ được gửi về địa chỉ mới không
phải là địa chỉ của chủ thẻ đích thực, khiến tài khoản của chủ thẻ bị lợi dụng. Việc
này chỉ bị phát hiện khi chủ thẻ hỏi NHPH về thẻ mới của mình hoặc khi nhận được
sao kê thanh toán nợ cho những khoản mà mình không hề chi tiêu. Rủi ro này chủ thẻ
và NHPH cùng chịu.
1.6.6.Thẻ bị giả mạo để thanh toán qua thư, điện thoại:
CSCNT cung cấp dịch vụ, hàng hoá theo yêu cầu của chủ thẻ qua thư hoặc điện
thoại dựa vào các thông tin về chủ thẻ như: Loại thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ…mà
không biết rằng khách hàng đó có thể không phải là chủ thẻ thực sự. Khi giao dịch đó
bị NHPH từ chối thanh toán thì CSCNT phải chịu rủi ro.
1.6.7.Nhân viên CSCNT giả mạo hoá đơn thanh toán thẻ
Khi thực hiện giao dịch , nhân viên CSCNT cố tình in ra nhiều bộ hoá đơn
thanh toán cho một giao dịch nhưng chỉ đưa cho chủ thẻ kí vào một bộ hoá đơn. Các
hoá đơn còn lại bị CSCNT giả mạo chữ ký của chủ thẻ để thu đòi tiền.
Trình độ dân trí cao cũng đồng nghĩa với một nền kinh tế phát triển về mọi mặt, tiếp
cận với nền văn minh thế giới, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật phục vụ
con người.
1.7.3.Thu nhập của người dùng thẻ:
Thu nhập cao đồng nghĩa với mức sống cao hơn. Khi đó, nhu cầu của con người
không chỉ dừng lại ở việc mua được hàng hoá mà là phải mua bán với độ thoả dụng
tối đa. Thanh toán thẻ sẽ đáp ứng nhu cầu này của họ. Khi mức sống nâng cao, nhu
cầu du lịch, giải trí của con người cũng cao hơn, phong phú hơn. Thẻ thanh toán là
phương tiện hữu hiệu nhất đáp ứng dược nhu cầu này của họ. Mặt khác, chỉ với mức
thu nhập khá cao và ổn định mới có thể đáp ứng được những điều kiện của NH khi
phát hành thẻ. Khi thu nhập thấp, khách hàng dù có nhu cầu sử dụng thẻ thì NH cũng
thể cung cấp dịch vụ được.
1.7.4. Trình độ công nghệ của NH:
Thanh toán thẻ là một phương thức thanh toán hiện đại, vì thế nó cũng đòi hỏi
một hệ thống vận hành với những máy móc thiết bị hiện đại. Mặt khác sự đồng bộ
của hệ thống công nghệ thẻ là rất quan trọng, vì một khâu nhỏ bị trục trặc cũng sẽ
dẫn đến gây ách tắc toàn hệ thống. Vì vậy khi đã đưa ra dịch vụ thẻ, Ngân hang phải
đảm bảo một công nghệ thanh toán hiện đại theo kịp yêu cầu của thế giới.
Hơn nữa, chỉ khi có trình độ kỹ thuật cao thi việc vận hành, bảo dưỡng, duy trì
hệ thống máy móc phục vụ phát hành và thanh toán thẻ mới có hiệu quả, giảm giá
thành dịch vụ, từ đó thu hút thêm người sử dụng nó.
1.7.5.Môi trường pháp lý:
Môi trường là một yếu tố rất quan trọng đối với việc kinh doanh thẻ NH. Một
môi trường pháp lý hoàn thiện, chặt chẽ, đầy đủ hiệu lực mới có thể đảm bảo cho
quyền lợi cuả tất cả các bên tham gia phát hành, thanh toán, sử dụng thẻ.