Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2 - PGS.TS. Lâm Chí Dũng và Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009 - Pdf 11

BÀI GIẢNG
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 2
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
LỜI NÓI ĐẦU

Môn học Quản trị ngân hàng 2 là môn học tiếp nối của môn học Quản trị
ngân hàng 1 trong chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngành Ngân hàng.
Trong điều kiện chưa biên soạn được Giáo trình chính thức, tập Bài giảng
này được xem là tài liệu học tập chính thức của sinh viên chuyên ngành ngân
hàng.
Tập bài giảng gồm 5 chương. Các chương 1,2,3 do PGS.TS. Lâm Chí
Dũng biên soạn. Các chương 4,5 do Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh biên soạn.
PGS.TS. Lâm Chí Dũng chịu trách nhiệm chủ biên.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng do đây là một môn học mới cả về nội
dung và cách tiếp cận nên chắc chắn tập bài giảng này vẫn còn nhiều thiếu sót.
Các tác giả chân thành mong muốn sẽ nhận được nhiều góp ý của quý đồng
nghiệp và các sinh viên để hoàn thiện trong lần xuất bản tới dưới dạng Giáo
trình.

PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
2
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
CHƯƠNG 1
RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1. Tông quan về rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
1.1.1. Định nghĩa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Có nhiều định nghĩa rủi ro tùy thuộc vào những yếu tố cơ bản sau:
- Những ứng dụng đặc thù và bối cảnh
- Tiếp cận rủi ro về mặt định tính hay định lượng
- Tiếp cận tiêu cực hay tích cực

3
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
(ii) Rủi ro hệ thống (Systematic risk): là loại rủi ro thường liên quan
đến bối cảnh chung của nền kinh tế và có ảnh hưởng đến tất cả các
ngành, các lĩnh vực ví du: lạm phát; suy thoái, khủng hoảng kinh tế…
Đây là những loại rủi ro không thể đa dạng hóa (Undiversified Risk)
1.1.3. Các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng
Tùy theo cách tiếp cận mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có thể được
xem xét dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đều thống
nhất về các rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng bao gồm các loại rủi ro
sau:
- Rủi ro lãi suất (Interst rate risk)
- Rủi ro thị trường (Market risk)
- Rủi ro tín dụng (Credit risk)
- Rủi ro ngoại bảng (Off-balance sheet risk)
- Rủi ro công nghệ và hoạt động (Technology and operational risks)
- Rủi ro ngoại hối (Foreign exchange risk)
- Rủi ro quốc gia (Country or sovereign risk)
- Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk)
- Rủi ro vỡ nợ (Insolvency risk)
- Rủi ro khác (Other risks)
1.2. Phân tích các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng
1.2.1. Rủi ro lãi suất
1.2.1.1. Khái niệm
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi lãi suất thay đổi làm giảm lợi
nhuận/giá trị của ngân hàng.
Như vậy, rủi ro lãi suất là sự kết hợp đồng thời của 2 nhân tố sau:
- Điều kiện cần: lãi suất biến động (tăng hoặc giảm)
- Điều kiện đủ: Lợi nhuận của NH giảm do chênh lệch lãi suất đầu ra –
đầu vào giảm (NII/NIM ) hoặc/và giá trị thị trường của vốn chủ sở

do kỳ hạn nợ dài hơn kỳ hạn tài sản đầu tư (long – funded) trong điều kiện lãi
suất giảm.
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
100
100
Năm
1
Năm 2
Tài sản
Nợ
100
100
Năm
1
Năm 2
Nợ
Tài sản
5
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
(iii) Rủi ro giá trị thị trường (Market Value Risk)
Rủi ro mà giá trị ròng của NH (giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu)
giảm do biến động bất lợi trong giá trị thị trường của Tài sản và Nợ thuộc một
trong 2 trường hợp sau:
a. Giá trị thị trường của Tài sản sụt giảm nhanh hơn giá trị thị trường của
Nợ khi kỳ hạn của tài sản dài hơn kỳ hạn nợ trong điều kiện lãi suất thị trường
tăng
b. Giá trị thị trường của Nợ tăng nhanh hơn giá trị thị trường của Tài sản
khi kỳ hạn của Nợ dài hơn kỳ hạn tài sản trong điều kiện lãi suất thị trường
giảm
Từ các phân tích trên, có thể rút ra một số ý tưởng cơ bản sau:

Rủi ro thị trường xuất hiện khi NH giữ vị thế trường (long position/ buy
position) hoặc vị thế đoản (short position/ sell position) mở hoặc không bảo hộ
(open/ unhedging position).
Vị thế (hay còn gọi trạng thái) là tình trạng mà một ngân hàng đang nắm
giữ quyền sở hữu tài sản (tài chính hoặc tài sản thực) hoặc hàng hóa kinh doanh
hoặc một cam kết mua hoặc bán…
Vị thế trường là vị thế đầu cơ giá lên, cũng tức là ngân hàng sẽ bị thiệt
hại khi giá xuống. Ngược lại, vị thế đoản là vị thế đầu cơ giá xuống và do đó,
người nắm giữ vị thế đoản sẽ bị rủi ro khi giá lên.
Để phòng ngừa và bảo hộ rủi ro thị trường, ý tưởng cơ bản là phải kiểm
soát vị thế giới hạn. Đây là quan tâm cơ bản của không chỉ những chủ thể quản
trị ngân hàng mà cả của các cơ quan điều tiết. Mặt khác, phải phát triển các mô
hình đo lường rủi ro thị trường, sử dụng hợp lý các công cụ phái sinh…
1.2.3. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền (cash flows) được hẹn trả theo
hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng
khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ.
Rủi ro tín dụng còn có thể định nghĩa khác: Rủi ro mà một khoản cho vay
hoặc tài sản có (assets) trở nên không thể thu hồi hoặc bị trì hoãn ngoài mong
muốn
Cần lưu ý:
- Khái niệm rủi ro tín dụng và rủi ro cho vay có điểm khác biệt. Rủi ro tín
dụng bao gồm rủi ro cho vay và rủi ro từ các khoản đầu tư vào chứng khoán.
- Có quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng cũng là một dang rủi ro đối tác.
(Couterparty Risk). Rủi ro đối tác là loại rủi ro mà trong đó đối tác không thực
hiện các cam kết đã thỏa thuận. Tuy nhiên, khái niệm rủi ro đối tác thường
được sử dụng cho các hợp đồng trên thị trường các công cụ tài chính phái sinh.
Cách phân loại rủi ro tín dụng thành rủi ro tín dụng đặc thù và rủi ro tín
dụng hệ thống thường được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu học thuật cũng
như trong thực tế:

Hoạt động ngoại bảng (Off-balance-sheet Activities) là những hoạt động
có một trong 2 đặc điểm sau:
- Những hoạt động tạo ra thu nhập và/hoặc chi phí mà không tạo ra một
tài sản/nợ trong hiện tại cũng như tương lai (chẳng hạn, môi giới, thanh toán, ủy
thác ).
- Những hoạt động không tạo ra các tài sản hoặc Nợ trong hiện tại nhưng
có thể tạo ra các tài sản hoặc nợ trong tương lai.
Ví dụ: Bảo lãnh; cam kết cho vay;
Xu hướng mở rộng các hoạt động ngoại bảng là một xu hướng phổ biến
đối với các ngân hàng trên khắp thế giới. Nguyên nhân cơ bản là do áp lực cạnh
tranh dẫn tới sự sụt giảm trong các hoạt động ngân hàng truyền thống buộc các
ngân hàng phải tìm kiếm các hoạt động mới phi truyền thống. Mặt khác, khả
năng tạo ra thu nhập qua thu phí mà không tác động lên bảng cân đối của các
hoạt động ngoại bảng cũng là một động cơ quan trọng thúc đẩy các ngân hàng
gia tăng các hoạt động ngoại bảng. Điều này, đến lượt nó lại gia tăng rủi ro
ngoại bảng cho ngân hàng.
Xét ở một góc độ khác, một số hoạt động ngoại bảng là nhằm mục đích
hạn chế rủi ro tín dụng; rủi ro lãi suất; rủi ro tỷ giá nhưng do quản lý kém hoặc
động cơ đầu cơ cũng có thể gây ra những thiệt hại lớn cho NH.
1.2.5. Rủi ro hoạt động và công nghệ
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
8
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
Rủi ro hoạt động là những tổn thất do hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ
những sai lệch bên trong về quy trình, về con người và các hệ thống hoặc từ
các sự kiện bên ngoài
Một số nghiên cứu xem rủi ro danh tiếng (reputational risk) và rủi ro
chiến lược (strategic risk) như là một phần của rủi ro hoạt động.
Rủi ro công nghệ là rủi ro phát sinh khi việc đầu tư công nghệ không
mang lại sự tiết kiệm chi phí như dự liệu.

- Trạng thái ngoại tệ đoản (net short asset position in foreign currency) là
trường hợp ngược lại khi giá trị tài sản bằng ngoại tệ < Giá trị nợ bằng ngoại tệ.
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
9
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ tăng giá so với bản
tệ
(ii) Rủi ro lãi suất ngoại tệ (Foreign Interest Rate Risk) là một dạng của
rủi ro lãi suất khi lãi suất ngoại tệ thay đổi làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
trong điều kiện kỳ hạn của tài sản và nợ bằng ngoại tệ khác nhau. Đương nhiên,
rủi ro lãi suất ngoại tệ cũng bao gồm 3 dạng:
- Rủi ro tái đầu tư
- Rủi ro tái tài trợ
- Rủi ro giá trị thị trường
Xu hướng mở rộng các hoạt động ra nước ngoài là một trong những
nguyên nhân chính đặt các ngân hàng trước khả năng đối diện với rủi ro ngoại
hối ngày càng tăng. Xu hướng này xuất phát từ những nhân tố sau;
- Do tỷ suất sinh lời đối với đầu tư nội địa và đầu tư ở nước ngoài có
tương quan không hoàn hảo vì hoặc do trình độ công nghệ khác nhau (một quốc
gia đang là quốc gia nông nghiêp; một quốc gia khác đã ở trình độ phát triển
công nghiệp) hoặc do hạ tầng kinh tế khác nhau, chu kỳ kinh doanh có thể lệch
pha Hàm ý quan trọng ở đây là việc đầu tư ra nước ngoài có thể là mọt phương
cách hữu hiệu để hạn chế rủi ro đặc thù thông qua giải pháp đa dạng hóa.
- Tăng khả năng mở rộng hoạt động ở nước ngoài thông qua thiết lập chi
nhánh và mua lại hoặc phát triển danh mục đầu tư
Từ việc phân tích bản chất của rủi ro ngoại hối, có thể thấy những ý tưởng
cơ bản để hạn chế rủi ro ngoại hối là:
- Làm phù hợp cả về quy mô và kỳ hạn của các tài sản và nợ của ngân
hàng trong từng loại ngoại tệ nhất định.
- Nếu tỷ giá và lãi suất giữa đồng tiền các nước có tương quan không

- Vào năm 2001, chính phủ Argentina do cuộc khủng hoảng tiền tệ đã
chấp nhận vỡ nợ khoản vay 130 tỷ USD của chính phủ và vào năm 2002, thông
qua đạo luật vỡ nợ 30tỷ $ các khoản nợ của khu vực doanh nghiệp đối với
những người cho vay nước ngoài.
Có thể nói rủi ro quốc gia là loại rủi ro khó xử lý nhất. Các biện pháp có
thể thực hiện bao gồm:
- Thực hiện các biện pháp pháp lý như khởi kiện ra Toà phá sản tại nước
sở tại hoặc toà dân sự quốc tế. Tuy nhiên, các biện pháp này vừa tốn kém chi
phí vừa ít hiệu quả.
- Đòn bẩy chủ yếu: Đe doạ hạn chế cung cấp các khoản cho vay hoặc huy
động vốn trong tương lai từ các quốc gia có vấn đề. Tuy nhiên, đòn bẩy này rất
yếu đối với những quốc gia mà đồng tiền và chính phủ đang suy sụp.
1.2.8. Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không thể đáp ứng các dòng
tiền ra với mức chi phí hợp lý và quy mô phù hợp khi NH có nhu cầu.
Cần lưu ý: các dòng tiền ra bao gồm các dòng tiền từ phía nợ, tức từ yêu
cầu rút tiền của những người gửi tiền hoặc người cho vay, và các dòng tiền ra về
phía tài sản chẳng hạn đáp ứng các khoản cho vay…
Trong điều kiện hiện nay khi thị trường tiền tệ liên ngân hàng phát triển
cao cũng như các thị trường vốn hoạt động tốt, khả năng thanh khoản của các
chứng khoán đầu tư sẽ ngày càng dễ dàng hơn, việc tạo ra các dòng tiền bằng
cách huy động vốn ngắn hạn hoặc bằng cách bán các tài sản để đáp ứng các nhu
cầu thanh khoản không phải là một vấn đề không thể giải quyết. Vấn đề thực sự
là chi phí: hoặc phải trả một chi phí lãi cao cho các khoản vốn huy động hoặc
phải bán các tài sản với giá thấp tức phải gánh chịu một khoản lỗ. Vì vậy, bản
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
11
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
chất của rủi ro thanh khoản chính là việc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh
khoản với mức chi phí cao vượt quá khả năng chịu đựng của ngân hàng, dẫn

(từ 1977 - 1981). Tuy nhiên, suy thoái kinh tế Mỹ từ 1980 dẫn đến nhiều khoản
cho vay vỡ nợ (rủi ro tín dụng). Mặt khác, tỷ trọng huy động tiền gửi của ngân
hàng này rất nhỏ, dựa chủ yếu vào các khoản vay (FED, RPs, Eurodollar ) cộng
với sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay dẫn đến việc từ chối một
số khoản vay của các khách hàng chủ yếu để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
(rủi ro thanh khoản). Một số vụ vỡ nợ lớn cùng với tình trạng mất khả năng huy
động vốn mới dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng vị thế vốn (capital position) của
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
12
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
ngân hàng (Rủi ro vỡ nợ). Cuối cùng, các cơ quan điều tiết phải nắm quyền
kiểm soát đặc biệt vào năm 1984.
Những phân tích nói trên về rủi ro vỡ nợ dẫn đến 2 ý tưởng cơ bản để
kiểm soát rủi ro vỡ nợ là:
- Thứ nhất, phải tiến hành các giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế
những rủi ro liên quan như: rủi ro lãi suất; rủi ro tín dụng; rủi ro thị trường; rủi
ro thanh khoản…
- Thứ hai, phải đảm bảo một mức vốn phù hợp (Capital Adequacy) tương
ứng với mức độ rủi ro của các tài sản. Vốn là một bộ đệm chống lại rủi ro vỡ
nợ của các ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tăng vốn thì ngân hàng sẽ phải đánh đổi
khả năng sinh lời vì điều này làm giảm số nhân vốn chủ sở hữu (Equity
multiplier) dẫn đến giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Vì vậy, các
định chế điều tiết như ngân hàng trung ương… phải tiến hành các biện pháp quy
định, kiểm soát và chế tài để buộc các ngân hàng phải tuân thủ tỷ lệ vốn tối
thiểu nhằm bảo đảm an toàn hoạt động tức hạn chế rủi ro vỡ nợ.
Tương tác giữa các rủi ro
Các rủi ro đề cập ở trên không độc lập mà phụ thuộc lẫn nhau. Trong một
số trường hợp rủi ro lãi suất tương quan thuận với rủi ro tín dụng. Chẳng hạn,
biến động lãi suất làm cho các khoản vay của khách hàng trở nên khó có khả
năng thanh toán Rủi ro thanh khoản cũng tương quan với rủi ro lãi suất và rủi

Câu 1: Một định chế tài chính có Bảng cân đối kế toán như sau:
Tài sản Nợ và vốn chủ sở hữu
Tiền mặt: $1000 Chứng chỉ tiền gửi: $10.000
Trái phiếu $10.000 Vốn cổ phần: $1.000
Tổng tài sản: $11.000 Tổng nợ và VCSH: $11.000
Trái phiếu có kỳ hạn đến hạn 10 năm, lãi suất coupon cố định là 10%/năm.
Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn 1 năm và lãi suất cố định 6%.
a. Thu nhập lãi ròng (NII) cuối năm thứ nhất sẽ là bao nhiêu? (NII = thu
nhập lãi – Chi phí trả lãi)
b. Nếu cuối năm thứ nhất, lãi suất thị trường tăng 100 điểm cơ bản (1%),
thu nhập lãi ròng sẽ là bao nhiêu? Sự thay đổi trong thu nhập lãi ròng
gây ra bởi rủi ro tái đầu tư hay rủi ro tái tài trợ?
c. Giả sử lãi suất thị trường gia tăng 1%, trái phiếu sẽ có giá trị là $9.446
ở cuối năm thứ nhất. Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu là bao
nhiêu? (nếu toàn bộ NII được sử dụng để trang trải chi phí hoặc chia
cổ tức).
d. Nếu lãi suất thị trường giảm 100 điểm cơ bản vào cuối năm thứ nhất,
giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu sẽ cao hay thấp hơn $1000? Tại
sao?
Câu 2: Một quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ (Money market mutual Fund) mua
$1.000.000 trái phiếu kho bạc 2 năm, ở thời điểm 6 tháng trước. Trong thời gian
này, giá trị của chứng khoán đã gia tăng nhưng vì lý do thuế, quỹ này hoãn việc
bán trái phiếu thêm 2 tháng nữa. Kiểu rủi ro gì mà quỹ này phải đối diện trong 2
tháng tới?
Câu 3: Một NH đầu tư 50 triệu USD vào một tài sản kỳ hạn 2 năm, lãi suất 10%
trả cho từng năm, đồng thời phát hành một khoản nợ kỳ hạn 1 năm, lãi suất
8%/năm. Thu nhập lãi ròng (NII) mỗi năm của NH là bao nhiêu nếu cuối năm
thứ nhất tất cả lãi suất tăng 1% (100 basis point)?
Câu 4: Nếu đồng Franc Pháp giảm giá trong tương lai gần, một NH của Mỹ có
chi nhánh tại Pháp sẽ muốn duy trì trạng thái đồng Franc ở trạng thái trường

Câu 9: Giả sử bạn mua một trái phiếu Thuỵ Sĩ được xếp hạng AAA, kỳ hạn 10
năm, trả lãi coupon 8%, phát hành ngang giá. Trái phiếu có mệnh giá 1000SF.
Tỷ giá giao ngay ở thời điểm mua là 1,5SF/$. Vào cuối năm, trái phiếu bị rớt
hạng xuống hạng AA và thu nhập tăng lên 10%. Mặt khác, đồng SF tăng giá lên
1,35SF/$.
a. Lỗ(lãi) của người đầu tư Thuỵ Sĩ nắm giữ trái phiếu này trong 1 năm?
Tỷ lệ lỗ (lãi) do rủi ro ngoại hối? Tỷ lệ lỗ (lãi) do rủi ro lãi suất?
b. Lỗ (lãi) của người đầu tư Mỹ nắm giữ trái phiếu này trong 1 năm? Tỷ
lệ lỗ (lãi) do rủi ro ngoại hối? Tỷ lệ lỗ (lãi) do rủi ro lãi suất?
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
16
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
Câu 10: Xác định những rủi ro mà các định chế tài chính trung gian (FI) có thể
gánh chịu trong những tình huống sau:
1. Một NH tài trợ một khoản cho vay kinh doanh 5 tỷ đồng, kỳ hạn 6
năm, lãi suất cố định bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi kỳ
hạn 1 năm.
2. Một công ty bảo hiểm đầu tư các khoản phí vào một danh mục trái
phiếu chính quyền địa phương dài hạn.
3. Một NH Mỹ phát hành các giấy nợ lãi suất cố định, kỳ hạn 2 năm để
tài trợ một khoản cho vay các doanh nghiệp Anh, kỳ hạn 2 năm, lãi
suất cố định.
4. Một NH Nhật mua lại một NH Áo nhằm thuận tiện hơn cho hoạt động
thanh toán.
5. Một quỹ hỗ tương (Mutual Fund) phòng ngừa (hedging) rủi ro lãi suất
bằng cách sử dụng hợp đồng kỳ hạn
6. Một nhà kinh doanh trái phiếu Mỹ (bond dealer) sử dụng vốn tự có để
mua lại một khoản đầu tư vào trái phiếu một nước đang phát triển của
người đầu tư Mexico.
7. Một NH Việt Nam bảo lãnh thanh toán cho khách hàng bằng tiền đồng

trường và qua đó, có thể có một đánh giá tổng hợp về tình hình chung hay giá
trị của ngân hàng ở thời điểm đánh giá.
- Là cơ sở để dự báo về những xu hướng chủ yếu và triển vọng (cả tích
cực và tiêu cực) về hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong tương lai (xét
trong ngắn hạn và dài hạn)
- Là cơ sở để các đối tượng hữu quan lấy các quyết định cần thiết. Một
cách vắn tắt, đối tượng hữu quan là những chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan đến ngân hàng và do đó bằng cách này hay cách khác phải thu thập các
thông tin về ngân hàng để trên cơ sở đó lấy các quyết định phù hợp. Các đối
tượng hữu quan nói ở đây có thể là:
- Các cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Bộ phận điều hành
- Nhân viên
- Đối tác kinh doanh
- Khách hàng
- Người cho vay
- Nhà đầu tư trên thị trường
- Cơ quan điều tiết (NHTW )
- Các cơ quan quản lý nhà nước khác
- Cơ quan thuế
….
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
18
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
2.1.2. Phương pháp sử dụng
- Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp phù hợp với các mục
tiêu cụ thể và nguồn thông tin khả dụng. Ví dụ: Để đánh giá khả năng sinh lời
có thể sử dụng chỉ tiêu tổng hợp tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
hoặc tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)…

2.1.4. Nội dung chủ yếu của đánh giá hoạt động kinh doanh ngân hàng
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
19
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
Để đáp ứng được các mục tiêu đánh giá đã nêu trong mục 2.1.1, việc
đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng được tiến hành theo 3 nội dung
chủ yếu:
(i) Đánh giá khả năng tăng trưởng của ngân hàng
(ii) Đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, thông qua các chỉ tiêu tổng
hợp đánh giá mức độ sinh lời và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
sinh lời
(iii) Đánh giá rủi ro của NH
Ba nội dung đánh giá trên tương ứng với 3 mục tiêu của ngân hàng là:
tăng trưởng; sinh lời; và kiểm soát rủi ro. Các mục tiêu này vừa có tương quan
vừa độc lập với nhau vì vậy, các nội dung đánh giá trên phải vừa được xem xét
trong tổng thể, vừa được xem xét một cách độc lập. Cả về lý thuyết và thực tế,
kết quả tổng hợp của 3 nội dung trên là cơ sở cho việc xác định giá trị (hay giá
trị ròng) của ngân hàng.
Đối với những NH có cổ phiếu được giao dịch tích cực trên thị trường thì
thị giá cổ phiếu là chỉ tiêu tổng hợp tốt nhất để đo lường tình hình kinh doanh
của ngân hàng, bởi vì thị giá cổ phiếu là sự tổng hợp của cả 3 yếu tố sau:
- Dòng lợi tức thu được trong tương lai
- Mức rủi ro dự tính của NH
- Đánh giá của nhà đầu tư về hai yếu tố trên
Có thể thấy rõ điều này qua xem xét công thức định giá cổ phiếu sau:
1 2
0
2
1


PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
20
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
thông tin bất đối xứng, đã làm cho các quan hệ cung – cầu bị bóp méo, dẫn đến
giá cả bị lệch lạc.
(ii) Mức độ tham gia thấp của cổ phiếu ngân hàng vào thị trường
Cổ phiếu của ngân hàng ít được giao dịch trên sàn giao dịch tập trung tức
ít được niêm yết. Lý do là vì phần lớn các ngân hàng đều là ngân hàng nhỏ.
Điều này không những đúng với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước phát
triển. Hệ quả là quy mô giao dịch cổ phiếu của ngân hàng còn nhỏ.
(iii) Thị giá được hình thành do các lực lượng thị trường. Các lực lượng
này lấy quyết định từ phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vì vậy, đánh giá hoạt động kinh doanh ngân hàng nhằm hiểu rõ hơn các động
cơ của những nhà đầu tư, trên cơ sở đó có được những dự báo về xu hướng và
động thái của thị trường.
(iv) Việc phân tích theo hệ thống chỉ tiêu cho phép các đối tượng hữu
quan có được cơ sở cho các quyết định tương ứng. Bởi vì các đối tượng hữu
quan khác nhau sẽ có những quan tâm khác nhau và lấy các quyết định khác
nhau. Chỉ đơn giản dựa vào giá thị trường của cổ phiếu thì sẽ không đáp ứng
được các yêu cầu đa dạng của từng đối tượng hữu quan.
(v) Cuối cùng, cần thấy là việc đánh giá dựa trên các báo cáo tài chính mà
về cơ bản là dựa trên giá trị sổ sách là một công việc đơn giản, dễ sử dụng cho
nhiều chủ thể.
2.2. Đánh giá khả năng tăng trưởng
Đánh giá khả năng tăng trưởng của ngân hàng được tiến hành theo các
nội dung chủ yêu sau:
- Các chỉ tiêu tăng trưởng tài sản
- Các chỉ tiêu tăng trưởng nguồn vốn
- Các chỉ tiêu tăng trưởng hoạt động ngoại bảng
- Các chỉ tiêu tăng trưởng năng lực hoạt động

2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng nguồn vốn
(i) Tăng trưởng huy động vốn
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
22
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
Tăng trưởng huy động vốn nói ở đây là tăng các khoản nợ tiền gửi và phi
tiền gửi. Có thể so sánh số dư cuối kỳ của các khoản nợ hoặc số dư có bình
quân của các khoản nợ
- Tốc độ phát triển huy động vốn
- Tốc độ tăng huy động vốn
(ii) Tăng trưởng huy động tiền gửi
Tiền gửi là một khoản nợ đặc trưng của ngân hàng vốn là một định chế
nhận tiền gửi. Do đó, mức độ tăng trưởng huy động tiền gửi thể hiện năng lực
cốt lõi trong huy động vốn của ngân hàng
Thông thường, chỉ tiêu sử dụng là số dư có bình quân của các loại tiền
gửi trong kỳ.
- Tốc độ phát triển huy động tiền gửi

- Tốc độ tăng huy động tiền gửi
(iii) Tăng trưởng vốn chủ sở hữu
(iv)Tăng trưởng vốn tự có
Vốn tự có là một khái niệm được định nghĩa trong Luật các tổ chức tín
dụng nhằm tính toán các hệ số an toàn. Vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn
điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định
của Ngân hàng nhà nước.
Đánh giá tăng trưởng vốn chủ sở hữu và vốn tự có cũng được thực hiện
qua hai chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng và tốc độ tăng. Cách tính toán cũng tương tự
như trên.
2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng hoạt động ngoại bảng
(i) Tăng trưởng doanh số cung ứng dịch vụ ngoại bảng

(iii) Tỷ trọng tài sản sinh lời (tính toán tương tự)
(iv) Thị phần huy động vốn
(v) Thị phần hoạt động ngoại bảng( tính toán tương tự)

2.3. Đánh giá khả năng sinh lời
2.3.1. Các chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khả năng sinh lời
PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009
24
Bài giảng Quản trị Ngân hàng 2
(i) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE = Return on Equities)
ROE =
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng vốn cổ phần
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng (hay 100 đồng, nếu tính bằng %) vốn chủ sở
hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Đây là quan tâm hàng đầu của chủ sở hữu.
(ii) Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA = Return on Assets)
ROA =
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Đây là chỉ tiêu đánh giá năng lực sinh lời từ tài sản của hoạt động quản trị ngân
hàng. Nó thể hiện năng lực chủ quan của bộ phận điều hành trong việc tìm kiếm
một danh mục tài sản sinh lời cao, rủi ro thấp, cũng như năng lực kiểm soát chi
phí, năng lực định giá phù hợp
(iii) Tỷ lệ thu nhập lãi suất ròng cận biên (NIM = Net interest margin)
Tỷ lệ thu nhập lãi suất
ròng cận biên (NIM)
Lãi từ cho vay và đấu tư
chứng khoán – Chi phí
lãi trả cho các khoản nợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status