Bài thuyết trình về thực trạng và ềm năng của thị trường thẻ VN
LỜI MỞ ĐẦU
ATM - thay đổi thói quen giao dịch của toàn xã hội :
Máy ATM hay còn gọi là máy giao dịch tự động ra đời từ những năm 30 của thế kỷ trước tại Thổ
Nhĩ Kỳ và được gọi thân mật với cái tên “máy phát tiền” vì đây là chức năng lớn nhất.
1.Tính cấp thiết :
Cùng với sự phát triển và hội nhập của nên kinh tế là sự phát triển của các ngân hàng
thương mại Việt Nam. Các ngân hàng liên tục mở rộng chi nhánh nâng cấp dịch vụ
truyền thống và cho ra đời nhiều dịch vụ mới. Một trong những dịch vụ mới nhất đem lại
nhiều tiện ích cho người sử dụng là dịch vụ Thẻ Ngân Hàng.
Đặc biệt trong 3 năm gần đây thị trường thẻ thanh toán ở Việt Nam đang phát triển với
tốc độ rất nhanh. Hội thẻ ngân hàng Việt Nam, tính đến đầu năm 2012, số lượng máy
ATM toàn thị trường đạt hơn 13.600 máy, trong đó các ngân hàng lớn chiếm số lượng
chủ yếu như: Vietcombank với hơn 1.600 ATM, Techcombank với gần 1.400 ATM…
Có 46 ngân hàng thương mại (NHTM) tham gia phát hành thẻ với gần 42,3 triệu thẻ
thanh toán các loại. Các con số này thể hiện nhu cầu sử dụng thẻ thanh toán của người
dân ngày càng tăng. Từ một người nhân viên văn phòng, sinh viên, cho đến các cụ già
về hưu đều có thể sở hữu trên mình 1 chiếc thẻ ATM và biết cách giao dịch để đạt
được mục đích tài chính của mình.
Để tìm hiểu sâu thêm về loại hình dịch vụ mới mẻ Thẻ Ngân Hàng , nắm bắt tình hình
về thẻ chung của các ngân hàng trên thị trường và tình hình hoạt động của thị trường
thẻ Vietcombank nói riêng từ đó tìm ra một số giải pháp để ngân hàng Vietcombank
phát triển mạnh hơn nữa dịch vụ thẻ của mình tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Phát
triển thị trường thẻ của Ngân hàng Vietcombank”.
doanh thẻ tại NH Vietcombank.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
- Làm rõ một số vấn đề lí luận về thẻ NH Vietcombank cũng như quá trình phát hành và
thanh toán thẻ tại NH Vietcombank.
- Phân tích những tồn tại và bất cập trong hoạt động kinh doanh thẻ của NH
Vietcombank.
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh doanh thẻ
chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó
cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Theo pháp lệnh “ Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ban hành ngày
24/05/1990 thì “ Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động
chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm nhiệm vụ thanh
toán”.
Các hoạt động của một ngân hàng thương mại :
Huy động vốn:
Đây là nghiệp vụ đặc trưng trong kinh doanh của NHTM, đồng thời cũng là nghiệp vụ
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng của ngân hàng. Nguồn vốn hoạt
động của các Ngân hàng chủ yếu thu từ các khoản tiền gửi, các khoản tiết kiêm của
dân cư ( 80% nguồn vốn của các ngân hàng là từ tiết kiệm dân cư ) hay của các tổ
chức kinh tế. Ngoài ra trong trường hợp đặc biệt cần thiết thì các NHTM có thể huy
động vốn bằng cách phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi , hay vay vốn trực tiếp của
NHTW hoặc các tổ chức tín dụng khác.
1.1.2.2. Tín dụng
Nghiệp vụ tín dụng là hoạt động chính và là nguồn sinh lời chủ yếu của NHTM . Ở các
nước phát triển thì 70-80% nguồn sinh lời là từ nghiệp vụ tín dụng. Ở nước ta hiện nay
tỉ lệ này còn cao hơn từ 80-90 %. Trong nền kinh tế thị trường, nghiệp vụ này có vai trò
thức đẩy tăng trưởng kinh tế vì nguồn vốn do ngân hàng cung cấp chiếm tỉ trọng cao
CDNH 05-02-DAI NAM- Nhóm Siêu Nhân Điện Quang Page 3
Bài thuyết trình về thực trạng và ềm năng của thị trường thẻ VN
trong nguồn vốn kinh doanh của đơn vị. Phần lớn quan hệ tín dụng được thực hiện ở
ngân hàng.
1.1.2.3.Thanh toán
Khi huy động vốn từ các thành phần kinh tế, NHTM không chỉ làm nhiệm vụ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ. Thanh toán qua ngân hàng
đã mở đầu cho việc thanh toán không dùng tiền mặt, thức là người gửi tiền không cần
mang tính phổ biến như sau: Thị trường thẻ là nơi tập hợp sự thoả thuận qua đó các
hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ thẻ được thực hiện theo nguyên tắc thị trường
nhằm giúp cho việc thanh toán hàng hoá dịch vụ được thực hiện một cách nhanh
chóng.
Qua khái niệm trên, cho thấy thị trường thẻ cũng tương tự như các thị trường hàng hoá
khác, được thể hiện qua một số nội dung chính như sau:
Đó là nơi tập hợp sự thoả thuận của các bên tham gia trong thị trường.
Là nơi gặp nhau giữa người bán và người mua các hàng hóa và dịch vụ thẻ.
Các hoạt động trên thì trường theo nguyên tắc thị trường nhằm mục đích giúp cho việc
thanh toán tiền hàng hóa , dịch vụ được thực hiện một cách nhanh chóng.
Như vậy, khái niệm về thị trường thẻ được đề cập ở trên đã phản ánh vấn đề cơ bản
của thị trường thẻ, đó là nơi gặp nhau giữa người mua , và người bán và các quyết
định của họ đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh giá cả. Và mặc dù bên ngoài có sự
khác nhau giữa các thị trường, nhưng nhìn chung các thị trường đều thực hiện cùng
một chức năng kinh tế là ấn định giá cả nhằm đảm bảo sao cho số lượng hàng hóa,
dịch vụ mà người muốn mua bằng số lượng hàng hóa dịch vụ mà những người muốn
bán.
1.2.2. Nguyên tắc hoạt động của thị trường thẻ
Tương tự như các thị trường hàng hóa khác, hoạt động của thị trường thẻ bao gồm
một số nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc trung gian mua bán: Việc thực hiện giao dịch, bán sản phẩm và dịch vụ
thẻ đều được thực hiện thông qua ngân hàng. Nguyên tắc trung gian mua bán được
thể hiện nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ thẻ tham gia trên thị trường, đảm bảo cho
việc thanh toán tiền hàng hóa , dịch vụ bằng thẻ trên thị trường được thực hiện một
cách nhanh chóng và an toàn.
Để thực hiện theo nguyên tắc này , trong thực tế cho thấy các chủ thẻ khi tham gia hoạt
động trên thị trường thẻ đều phải mở tài khoản tại một ngân hàng được phép thực hiện
hoạt động kinh doanh thẻ trên thị trường nhằm cho phép ngân hàng thực hiện việc điều
phối nguồn tiền giữa các chủ thẻ tham gia thị trường.
CDNH 05-02-DAI NAM- Nhóm Siêu Nhân Điện Quang Page 5
nhanh chóng tiện ích, an toàn và hiện đại.
Bên cạnh quyền lợi nêu trên chủ thẻ phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ ( đối
với thẻ tín dụng) cho ngân hàng và trả các khoản phí dịch vụ cho ngân hàng so đã sử
dụng những tiện ích của dịch vụ thanh toán mà ngân hàng đã cung cấp.
CDNH 05-02-DAI NAM- Nhóm Siêu Nhân Điện Quang Page 6
Bài thuyết trình về thực trạng và ềm năng của thị trường thẻ VN
-Ngân hàng phát hành thẻ( NHPHT) :
Tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra hàng hoá( cấp thẻ ) trên thị trường thẻ.
Để có thể hoạt động trên thị trường thẻ, đòi hỏi NHPHT phải được NHNN cho phép
thực hiện hoạt động phát hành thẻ ( cấp thẻ) ra thị trường. Đối với các ngân hàng phát
hành các loại thẻ quốc tế, ngoài việc được phép của ngân hàng nhà nước Việt Nam
còn phải được phép của các tổ chức thẻ quốc tế.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng phát hành thẻ trên thị trường là cung cấp các sản
phẩm dịch vụ thẻ để khách hàng sử dụng trong thanh toán. Để thực hiện chức năng
này đòi hỏi NHPHT cùng với các tổ chức quốc tế ( đối với thanh toán thẻ quốc tế) phải
không ngừng cải tiến công nghệ, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ thẻ phát triển hệ
thông cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc lưu thông và thanh toán bằng thẻ nhằm
mang lại sự tiện nghi cho chủ thẻ.
Nguồn thu chủ yếu đối với NHPHT là các khoản phí dịch vụ, lãi vay ( đối với thẻ tín
dụng) thu được từ chủ thẻ. Ngoài ra, NHPHT cũng thu được một khoản phí dịch vụ từ
các đơn vị chấp nhận thẻ khi thực hiện giao dịch thẻ.
-Đơn vị chấp nhận thẻ( ĐVCNT) :
Là các tổ chức hoặc cá nhân bán hàng hóa, dịch vụ có chấp nhận thanh toán tiền hàng
hoá, dịch vụ bằng thẻ theo hợp đồng kí kết với Ngân hàng thanh toán thẻ. Các đơn vị
này sẽ được NHTTT cung cấp( miễn phí hoặc cho thuê) các máy móc, thiết bị chuyên
dùng để thực hiện các giao dịch thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ bằng thẻ.
ĐVCNT tham gia trên thị trường thẻ là nhằm để tăng cường lợi thế cạnh tranh của họ
so với các đối thủ khác do đa dạng hoá các hình thức thanh toán tại đơn vị của mình,
góp phần tăng doanh số bán hàng hóa , dịch vụ . Tuy nhiên , để có thể sử dụng dịch vụ
thanh toán bằng thẻ do NH thanh toán thẻ cung cấp, ĐVCNT phải trả cho NH thanh
kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước. Nhờ đó hoạt động trên thị trường thẻ
được diễn ra một cách lành mạnh góp phần tạo điều kiên cho việc lưu thông hàng hoá ,
tiền tệ một cách nhanh chóng.
1.2.4 Khái niệm về thẻ ngân hàng
1.2.4.1.Khái niệm
Quan điểm 1: Cho rằng thẻ NH là một trong những công cụ được sử dụng để thanh
toán tiền hàng hoá dịch vụ thay thế cho tiền mặt hoặc có thể sử dụng để rút tiền mặt tại
các NH đại lý, hoặc tại các máy ATM.
Quan điểm 2: Thẻ ngân hàng được sử dụng để thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài
chính được phát hành bởi Ngân hàng, các định chế tài chính.
Quan điểm 3 : Thẻ được sử dụng để thanh toán là một phương thức ghi sổ những số
tiền cần để thanh toán thông qua các máy móc, thiết bị chuyên dùng được lắp đặt tại
các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
Ngân hàng nhà nước Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về thẻ ngân hàng được quy
định trong văn bản quy chế phát hành , sử dụng và thanh toán thẻ NH được ban hành
CDNH 05-02-DAI NAM- Nhóm Siêu Nhân Điện Quang Page 8
Bài thuyết trình về thực trạng và ềm năng của thị trường thẻ VN
ngày 19/10/1999. Theo đó, NHNN quy định thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do NH
phát hành cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát
hành và chủ thẻ.
1.2.4.2.Mô tả thẻ ngân hàng
Tất cả các loại thẻ lưu hành trên thị trường đều làm bằng nhựa được cấu tạo bởi 3 lớp ,
có hình dạng như một tấm thẻ điện thoại và có cùng kích cỡ theo quy định như sau:
Chiều dài: 80,5598 mm.
Chiều ngang: 50,3975mm.
Bề dày: 0,4572 mm.
Tại mặt trước của thẻ sẽ có các yếu tố cơ bản như sau:
Biểu tượng và tên của ngân hàng phát hành thẻ: Đây là yếu tố bắt buộc đối với tất cả
các loại thẻ nhằm đẻ phân biệt NH phát hành thẻ.
Bộ nhớ điện tử: thường được gọi là “chip” được sử dụng đối với các loại thẻ thông
1.2.5.1. Theo công dụng và chức năng của thẻ.
- Thẻ thanh toán: (hay thẻ ghi nợ) là loại thẻ phát hành dựa trên cơ sở tài khoản ký quỹ,
tài khoản thẻ hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, khi chủ thể sử dụng thì số dư của tài
khoản sẽ giảm tức thì. Nếu được Ngân hàng cấp hạn mức thấu chi, thì khách hàng có
thể chi tiêu vượt quá số dư trên tài khoản vãng lai nhưng phải trong hạn mức tín dụng
đã thông báo trước cho khách hàng (thông thường bằng 1 hay 2 tháng lương của
khách hàng). Khách hàng được hưởng lãi trên số dư tài khoản của mình.
- Thẻ tín dụng: là loại thẻ dùng thanh toán trước, trả tiền cho Ngân hàng sau nghĩa là
dựa vào uy tín hoặc khả năng tài chính của chủ thẻ mà Ngân hàng sẽ cấp thẻ cho chủ
thẻ một hạn mức tín dụng nhất định cho phép chủ thẻ tiêu xài trong hạn mức ấy, sau đó
theo từng định kỳ (có thể cuối tháng) Ngân hàng sẽ gửi hoá đơn thanh toán giành cho
chủ thẻ. Chủ thẻ phải thanh toán lại cho Ngân hàng số tiền tín dụng mà chủ thẻ đã sử
dụng kèm lãi.
Với hai loại thẻ này đặc điểm giống nhau là khách hàng có thể sử dụng trực tiếp hoặc
rút tiền mặt. Đặc điểm khác nhau chính là số tiền mà khách hàng sử dụng. Đối với thẻ
thanh toán khách hàng tuỳ ý sử dụng số tiền có trong tài khoản thẻ mà mình đã gửi và
được hưởng lãi trên số dư còn lại trong tài khoản. Đối với thẻ tín dụng khách hàng chỉ
được sử dụng trong hạn mức tín dụng mà Ngân hàng đồng ý. Khách hàng sử dụng thẻ
tín dụng phải thanh toán lãi trên dư nợ tí.
CDNH 05-02-DAI NAM- Nhóm Siêu Nhân Điện Quang Page 10