TIỂU LUẬN:
Báo cáo thực tập về
thưc tế sản xuất bia
tại Nhà Máy Bia NaDa
đầu từ sự giúp đỡ của ĐHBK Hà Nội về dây chuyền và công nghệ sản xuất bia
hơi, rồi sau đó công ty đã nhập dây chuyền sản xuất bia của nước ngoài và công
nghệ của Đan Mạch, cái tên Nhà Máy Bia NaDa cũng được ra đời từ đó .
Chuyến đi thực tập tại nhà máy bia NaDa đã mang lại cho em nhiều hiểu
biết quý giá về thưc tế sản xuất bia. Tuy nhiên, ở góc độ khách quan những gì mà
em sẽ trình bày sau đây chỉ là những kết quả từ sự nhận thức chủ quan của bản
thân cho nên sẽ không tránh khỏi sai sót. Vì vậy, em rất kính mong có sự đóng góp
ý kiến của các thầy cô để em có điều kiện sửa sai và hoàn thiện hơn nhận thức của
mình. A. Khái quát về nhà máy bia NaDa
I. Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy:
Nhà máy bia Nada là một đơn vị sản xuất có bề dày truyền thống hơn 40 năm
thành lập, phát triển và trưởng thành. Trong quá trình phát triển từ khi thành lập cho
đến nay nhà máy đã được đổi tên nhiều lần, những lần đổi tên đó đều gắn liền với
những bước đổi mới chiến lược trong cơ cấu sản phẩm. Các giai đoạn phát triển của
nhà máy:
Thành lập năm 1960 ban đầu chỉ là một phân xưởng sản xuất kem đá dưới
hình thức công ty hợp doanh, với tên gọi Phân Xưởng Sản Xuất Kem Đá
Năm 1978, đổi mới sản phẩm sản xuất với sản phẩm mới là : Bánh kẹo, rượu
màu (rượu mơ,chanh ). Một số sản phẩm truyền thống nổi tiếng đã được xuất khẩu
đi các nước trong khối XHCN lúc đó như : kẹo trứng chim, bánh sừng trâu Tên gọi
mới của nhà máy là: Xí nghiệp 1/6.
Cùng với sự đổi mới và phát triển đó, cho đến năm 1986 nhà máy đổi tên là:
Nhà Máy Thực Phẩm Công Nghiệp Nam Hà.
Ban giám
đ
ốc
Phòng
kinh
doanh
Phòng
tài vụ
Phòng
hành
chính
tổ chức
Phòng
kế toán
T
ổ kho
Phòng
KCS
Phòng
điều
hành
s
ản
Phòng đi
ều
độ
Sx
Ban giám
đ
ốc đưa sản phẩm đi tiêu thụ. Tuy nhiên, do nhà máy ở gần khu dân cư nên sẽ có ảnh
hưởng không nhỏ tới nhân dân trong các vấn đề môi trường xã hội, nhất là khi nhà
máy chưa có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường.
B.Quy trình sản xuất bia NaDa
I. Nguồn nguyên liệu:
Nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất bia:
Malt là nguyên liệu chính phải nhập ngoại hoàn toàn, chủ yếu từ các nước :
Đức, úc, Đan Mạch và Anh.
Gạo: tùy yêu cầu của từng loại bia mà lượng gạo dùng khác nhau (nguyên liệu
thay thế của gạo là ngô). Gạo là nguyên liệu sẵn có ở địa phương.
Men giống, hoa hublong và nước:
Men giống là men của Đan Mạch được nhân giống và nuôi cấy ngay trong nhà
máy
Hoa hublong được sử dụng dưới dạng hoa viên (có các loại hoa : viên, cánh
hoặc dạng tinh dầu hoa). Hoa hublông cũng được nhập từ Tiệp, Pháp .
Nguồn nước đã được xử lý đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm, đạt yêu cầu
C thời gian tự đường hóa là 1525 phút)
Thành phần hóa học tính theo % chất khô: Tinh bột (58%), đường khử (4%),
các chất chứa nitơ (10%), saccaroza (5%), pentozan hòa tan(1%), pentozan không
hòa tan và hexoza (9%), xơ(6%), chất béo(2,5%), chất khoáng(2,5%), một số chất
khác : chất màu, chất đắng, chất thơm, vitamin hòa tan, phermen
Yêu cầu độ đồng nhất của malt : không lẫn các loại tạp chất, các loại hạt thay
thế khác, tỷ lệ các hạt vỡ, gãy cho phép là 0,5%, tạp chất 1%, lượng hạt không nảy
mầm 5%
Nghiền malt nhằm làm tăng tốc độ các quá trình lý học, hóa sinh học. Khi
nghiền nhỏ hạt sẽ tạo diện tích tiếp xúc lớn và do đó khả năng thủy phân, trích ly các
chất diễn ra nhanh hơn. Tuy nhiên, trong vỏ xenlulo của hạt malt có ảnh hưởng tới
chất lượng bia sau này nên khi nghiền phải chú ý giữ cho vỏ trấu càng nguyên vẹn
càng tốt (nghiền dập), phần nội nhũ càng nhỏ càng tốt nhưng nó phải nằm trong vỏ
trấu.
Nhà máy bia NaDa sử dụng máy nghiền malt loại lô với hai tầng nghiền và sử
dụng máy lọc khung bản thì yêu cầu sau khi nghiền : vỏ trấu 912%, tấm lớn 12
15%, tấm bé 3035%, bột 4045%.
II.2. Gạo
Gạo là nguyên liệu thay thế của đại mạch, tùy theo nhu cầu và thị hiếu trên thị
trường mà sử dụng lượng gạo nhất định (tỉ lệ thay thế cỡ 30%), việc thay thế đó còn
có ý nghĩa giảm giá thành sản phẩm. Gạo đem sử dụng theo hai hướng : nảy mầm
hoặc không. Gạo được nảy mầm trước khi sử dụng thì tốt hơn bởi trong đó còn có hệ
enzym hoạt động giống trong malt, còn gạo không nảy mầm thì hầu như không có
enzym nào đóng vai trò thúc đẩy các quá trình tiếp theo. Gạo bình thường có thành
phần chất khô như sau: Tinh bột (75 80%), Protein(8%), chất béo(11,5%),
Xenluloza (0,50,8%), chất khoáng (1 1,2%)
Este : 0,4%
Các chất không chứa nitơ : 27,5%
Hoa Hublong được bảo quản ở các dạng khác nhau, mỗi dạng có thời gian bảo
quản tối đa khác nhau với điều kiện nhiệt độ nhất định. Có các dạng hoa: viên, cánh,
cao, tinh dầu Nhà máy bia NaDa sử dụng loại hoa viên.
II.4. Nước
Trong sản xuất bia, nước đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành vị của
sản phẩm, vì thế chất lượng nước yêu cầu phải cao hơn so với nước sinh hoạt hàng
ngày
Các chỉ tiêu quan trọng của nước:
Độ cứng tạm thời khoảng 0,73 mgĐ/l, độ cứng vĩnh cửu khoảng 0,40,7
mgĐ/l
pH của nước 6,87,3
Hàm lượng chất khô nhỏ hơn 600 mg/l
Hàm lượng Fe 0,3 mg/l
Trong 1 ml không được chứa quá 100 tế bào vi khuẩn nói chung.
Hệ thống nước cấp cho nhà máy bia NaDa gồm có 2 đường ống lớn dẫn từ nhà
máy nước Nam Định, rồi cung cấp cho các phân xưởng nhờ một trạm bơm. Trước
khi sử dụng nước phải được thanh trùng. Lượng nước dùng một ngày của nhà máy
bia NaDa khoảng 500m
3
. Một phần nước được cung cấp trực tiếp, một phần nước
được gia nhiệt bởi lò hơi trước khi dùng. Lò hơi có sản lượng định mức 1500Kg/giờ,
đốt nóng bằng dầu, dầu bơm 106Kg/giờ, áp suất làm việc lớn 10Kg/cm
3
, nhiệt độ lò
bộ lượng dịch trên được đưa vào thùng lắng xoáy để loại bỏ bã hoa, thu dịch lắng.
Dịch lắng lúc đó có nhiệt độ khoảng 6370
0
C được đưa vào thiết bị lạnh nhanh để hạ
nhiệt độ :
Hạ từ 6370
0
C xuống 2025
0
C(làm lạnh sơ bộ)
Hạ từ 2025
0
C xuống 1516
0
C
Dịch đường sau lạnh nhanh được bơm cùng với men giống vào tank lên men
(men giống chiếm 1020%) quá trình lên men bắt đầu. Quá trình lên men lại gồm 2
giai đoạn :
Giai đoạn lên men chính ở nhệt độ 16 17
0
C kéo dài trong 4 ngày
Giai đoạn lên men phụ ở nhiệt độ -1 4
0
C cũng trong 4 ngày
Trong quá trình lên men khí CO
2
được thu hoặc cung cấp vào tank nhờ hệ thống
thu hồi khí CO
2
(có bộ phận lọc khí và téc chứa khí sạch). Sau khi lên men phụ kết
Tiến hành nấu :Vệ sinh nồi sạch sẽ, đưa nguyên liệu vào với tỷ lệ:
Nước :12,5 hl/giờ
Gạo : 210 Kg
malt : 40 Kg
Enzym Ternnamyl :1% so với tổng lượng nguyên liệu vào
Toàn bộ lượng nguyên liệu được trộn lẫn vào nhau ở 45
0
C sau nâng lên 50
0
C,
giữ trong 10 phút, nâng tiếp lên 90
0
C giữ trong 35 phút rồi đun sôi (100
0
C) trong 35
phút. Tổng thời gian nấu cháo khoảng 80 phút.
Các hiện tượng xảy ra : Enzym amylaza thủy phân tinh bột thành đường
mantoza, glucoza và các dextrin, ở nhiệt độ cao các hạt tinh bột sẽ hút nước và
trương nở thể tích (gấp khoảng 500 lần). Đun sôi ở 100
0
C trong 35 phút để hồ hóa
hoàn toàn và vô hoạt enzym Ternamyl. Sau quá trình yêu cầu tỉ lệ các chất đường
trên các chất không đường là :1/0,321/0,43, đủ tiêu chuẩn để đưa sang nồi đường
hóa.
III.2.2 Thiết bị nấu malt và sự đường hóa
Sự đường hóa : Chuyển về dạng hòa tan cả các chất có phân tử lượng cao nằm
III.2.3 Nồi lọc
Mục đích của việc lọc là loại bỏ bã gạo và malt, thu dịch chiết có chứa các chất
quan trọng như đường, các loại axit amin, một số protein có phân tử lượng nhỏ,
albumozo, pepton, polypeptit, dưới dạng hòa tan rất quan trọng với quá trình lên
men sau này và sự tạo các tính chất lý, hóa của bia.
Cấu tạo nồi lọc (hình vẽ).
Nguyên lý làm việc: Hỗn hợp cháo và malt được bơm sang nồi lọc. ở
đây, hỗn hợp được khuấy trộn bởi bộ phận khuấy dạng răng cào. Nước lọc theo mặt
sàng chảy xuống các ống góp về ống trung tâm, từ đó dịch lọc được đưa sang nồi
hoa. Bã dịch lọc được bơm ra ngoài qua ống xả bã.
III.2.4 Thiết bị nấu hoa
Để bia sau này có hương vị đặc trưng thì dịch sau khi lọc đem đun sôi với hoa
hublong, từ hoa hublong sẽ trích ly được các axit đắng, nhựa, tinh dầu và vitamin.
Axit đắng và nhựa sẽ làm cho bia có vị đặc trưng, ổn định cho các keo và tạo bọt bền
vững, ngoài ra các chất đắng của hoa hublong có tính chất sát trùng làm tăng độ bền
thành phẩm, tinh dầu của hublong tạo nên vị và hương thơm của bia. Khi nấu còn
xảy ra phản ứng melanoidin và caramen hóa cũng góp phần tạo hương vị và màu sắc
dịch lên men.
Cấu tạo : thiết bị hình trụ gia nhiệt hai vỏ (hoặc kiểu ống trùm) có lỗ thoát hơi
và có cánh khuấy để đảo trộn. Thể tích thùng nấu : 6,5 m
3
.
Tiến hành : Vệ sinh thùng nấu sạch sẽ. Đưa dịch đường vào, trong quá trình
đó ta nâng dần nhiệt độ để tránh nhiễmvi sinh vật có hại, toàn bộ quá trình kết thúc là
lúc nhiệt độ phải đạt 100102
0
C. Một số protein sẽ bị kết tủa ở nhiệt độ này do đó
làm tăng độ trong của bia, tăng độ bền của bia. Hoa hublong được cho vào dưới dạng
hoa viên, tùy từng yêu cầu mà lượng hoa khác nhau, vì hoa này rất qúy hiếm nên phải
tiết kiệm khi sử dụng. Thời gian nấu trung bình khoảng 12 giờ; gia nhiệt nhanh,
xuống còn 2530
0
C.
Phần làm lạnh thứ hai (lạnh nhanh) dùng glycol làm chất tải lạnh, hạ nhiệt độ từ
2530
0
C xuống còn 1516
0
C.
Nhiệt độ dịch đường sau khi qua thiết bị làm lạnh nhanh đạt tới nhiệt độ tối ưu
cho nấm men phát triển sẽ được trộn với men giống (tỷ lệ men giống chiếm từ
1020% tổng lượng dịch lên men) rồi bơm vào tank lên men. Trước khi bơm vào
tank người ta bão hòa dịch đường bằng oxi đã khử trùng nhằm cung cấp đầy đủ oxi
cho nấm men phát triển trong thời gian đầu.
Men giống được bảo quản trong thùng có hệ thống bảo ôn, nó là một chủng
nấm men nhập từ Đan Mạch, được nuôi cấy tại nhà máy. Thực tế men giống có thể
được tái sử dụng nhiều lần, sau mỗi lần phải loại trừ men chết.
III.2.7 Tank lên men và quá trình lên men
Quá trình lên men (theo phương pháp lên men gia tốc) gồm hai giai đoạn: Lên
men chính và lên men phụ
Lên men chính : Đặc điểm của qúa trình lên men chính là cường độ lên men
(sự tiêu hao cơ chất) mạnh mẽ, phần lớn đường chuyển thành rượu etylic và CO
2
.
Thời gian lên men chính phụ thuộc nồng độ hóa chất hòa tan ban đầu của dịch đường
và chế độ nhiệt, có thể kéo dài từ 45 ngày, nhiệt độ lên men được ổn định ở 16
ngày đêm.
Giai đoạn thứ ba : là giai đoạn lên men mạnh mẽ nhất kéo dài một ngày đêm,
bọt xốp bồng lên cao đến mức cực đại, kích thước bọt to, trên bề mặt đã ngả dần sang
màu nâu. Tiêu hao cơ chất với tốc độ 11,5% mỗi ngày đêm. Nhiệt độ có chiều
hướng tăng lên mạnh, do đó cần phải làm lạnh tốt.
Giai đoạn cuối : bọt xẹp dần, kết quả là bề mặt dịch lên men được phủ một lớp
màng mỏng bọt màu nâu. Tốc độ lên men giảm do hàm lượng chất hòa tan bị tiêu hao
gần hết, mặt khác do nhiệt độ của bia non lúc này đã hạ xuống gần 4
0
C. Hàm lượng
chất hòa tan giảm 0,20,5% mỗi ngày đêm. Trong giai đoạn này nấm men và nhiều
cặn bã khác dần được két lắng xuống đáy thiết bị. Kết thúc giai đoạn lên men phải xả
cặn bã ra ngoài (men có thể được xử lý để tái sử dụng). Trong quá trình lên men
chính toàn bộ lượng đường trong dịch giảm từ 10% đến 2,5%.
Lên men phụ : Trong giai đoạn này các quá trình lên men xảy ra chậm ở
nhiệt độ thấp bằng cách làm lạnh bia non xuống 1 -1
0
C. Trong bia non vẫn còn lại
một lượng chất hòa tan có khả năng lên men do đó chúng sẽ được lên men tiếp tục.
Quá trình tàng trữ và lên men phụ có ý nghĩa rất lớn đối với việc hình thành vị, bọt
và quyết định đến độ bền vững của bia. Trong quá trình lên men lượng CO
2
bay về hệ
thống thu hồi CO
2
(thiết bị này được nhập từ Italia).
Hệ thống thu hồi CO
2
:
Mục đích: cung cấp hoặc thu hồi khí CO
bỏ đi vì thông thường nấm men sống lắng trước, rửa lại nhiều lần cho đến khi lượng
tế bào chết ở mức độ cho phép. Nấm men giống được rửa xong phải bảo quản cẩn
thận trong buồng lạnh để dùng cho đợt lên men sau.
Cấy men giống (10% 20% so với lượng dịch được lên men ) : Trong khi dịch
đường đang trên đường chuyển về thùng lên men cho giống men vào đường ống chảy
cùng với dịch đường, cấy giống theo phương pháp này làm cho tế bào nấm men phân
bố vào toàn bộ dịch đường ban đầu tạo điều kiện cho chúng phát triển đều khắp dịch
lên men. Sau quá trình lên men ta thu được bia, nhưng nó có độ trong chưa đạt yêu
cầu nên cần phải được lọc để đạt độ trong nhất định theo yêu cầu thành phẩm, thiết bị
lọc trong phân xưởng bia hơi NaDa là thiết bị lọc loại đĩa.
Tank lên men : thân hình trụ có lớp áo lạnh ở trong tiếp đó là lớp bảo vệ áo
lạnh, rồi đến lớp bảo ôn, tiếp theo là lớp bảo vệ ngoài. Cấu tạo tank lên men được
thiết kế để có thể giữ nhiệt độ trong quá trình lên men, sử dụng chất tải lạnh là glycol.
Dung tích tank 12 m
3
, thể tích dịch trong tank là 10 m
3
. Số lượng tank lên men : 42
tank.
Hệ thống máy nén lạnh 1 cấp (có 5 máy) với chất mang nhiệt là glycol, tác
nhân làm lạnh là NH
3
, khoảng nhiệt độ : -1535
0
C, công suất 50.000 kcal/h, tốc độ
quay 480 vòng/phút.
III.2.8 Thiết bị lọc loại đĩa : ( Sơ đồ nguyên lý như hình vẽ )
Gồm có 30 đĩa, đường kính mỗi đĩa 0,7 m, máy lọc kiểu 600 - 30, năng suất
4000l/h, sản xuất năm 1999, áp suất cho phép 500 kPa
0
C (nguyên lý như ở máy làm
lạnh nhanh), nó được sục khí CO
2
tới bão hòa khí rồi được đưa vào tank trữ. Bia
được lấy từ tank trữ vào đóng chai .
Nguyên lý chiết chai: (chiết đẳng áp) chai được bơm CO
2
tới khi có áp lực bằng
với áp lực của bia trong tank, ở trạng thái đó bia sẽ chảy vào chai mà không tạo bọt,
bia chai được đem tiêu thụ trong ngày.
IV. Dây chuyền sản xuất bia ở phân xưởng I
Dây chuyền sản xuất bia chai NaDa (phân xưởng I) và dây chuyền sản xuất
bia hơi NaDa(phân xưởng II) giống nhau ở các thiết bị chính như: nồi nấu cháo, nồi
nấu malt, nồi lọc, nồi nấu hoa, thùng lắng xoáy, tank lên men. Một số điểm khác là
:hệ thống tự động nghiền và đưa malt vào nồi nấu, hệ thống điều khiển, máy lọc bia
trong, thêm vào hệ thống chiết chai hiện đại của Đức. Do vậy, ở đây chỉ trình bày
những thiết bị khác so với thiết bị ở phân xưởng bia hơi. Ưu điểm của dây chuyền
sản xuất bia chai NaDa là hệ thống thiết bị bán tự động và tự động hoàn toàn, lại có
thiết bị và công nghệ sản xuất hiện đại.
IV.1 Thiết bị làm lạnh nhanh :
Phần làm lạnh sơ bộ và làm lạnh nhanh được gộp chung vào thành một phần,
sử dụng glycol làm chất tải lạnh. Cấu tạo chi tiết tương tự máy lạnh nhanh bia hơi.
IV.2 Máy lọc trong :
Là loại lọc khung bản khép kín nguyên lý làm việc tương tự máy lọc khung bản
của phân xưởng bia hơi, nhưng bia trong được lấy ra trực tiếp từ máy lọc, tức là quá
đó chai đi vào sẽ được gắn vào vòi chiết. Vòi chiết hoạt động giống xilanh và pittông,
nó có 3 đường nối với thùng chứa bia, 3 đường này có nhiệm vụ quan trọng là hút
chân không trong chai, bơm CO
2
vào chai cho cân bằng với áp lực thùng chứa bia,
bơm bia vào chai, dẫn khí từ chai về thùng chứa bia.
Chai sau khi gắn vào vòi chiết được hút chân không rồi bơm CO
2
vào cho cân
bằng với áp lực thùng chứa, khi đó bia được rót vào từ từ mà không hề tạo bọt, do
cân bằng áp lực trong chai và bia cấu trúc CO
2
trong bia không bị phá vỡ nên không
tạo bọt (chiết đẳng áp). Song song với bia chảy vào là khí trong chai đi ra và được
dẫn tới thùng bia hoặc đưa ra ngoài. Lượng bia rót vào đã được xác định trước, ứng
với 1 vòng quay chai bia được rót vào lượng đó và được đẩy ra. Chiết chai xong chai
bia được đưa vào gắn nút rồi được đưa qua hệ thống thanh trùng chai.
Hệ thống thanh trùng bia chai : gồm 6 khoang có nhiệm vụ thanh trùng
bia chai nhằm loại bỏ vi sinh vật sống trong bia chai. Mỗi khoang có bể nước đun
nóng bằng hơi bão hòa, nhiệt độ mỗi khoang lần lượt theo thứ tự từ 1 đến 6 là: 34
0
C,
40
0
C, 60
0
C, 58
0
C, 40
0
0 Chai bia được đưa vào bằng băng tải qua mỗi khoang nó được phun nước với
nhiệt độ như trên để thanh trùng. Như vậy chỉ có khoang 1,2,3 là có ý nghĩa thanh
trùng, khoang 4,5,6 có tác dụng hạ nhiệt độ từ từ. Thời gian chai đi trong mỗi khoang
được chia đều bởi tổng thời gian thanh trùng là 50 phút
Bộ phận dán nhãn và bắn chữ : Trước khi vào bộ phận này chai bia được qua
bộ phận kiểm tra, loại bỏ những chai lỗi : sứt miệng, bia quá vơi, chai có chứa vật
lạ Công suất tối đa của bộ phận dán nhãn là 6000 chai/giờ, nó có 3 đầu dán nhãn
làm việc liên tục, keo dán nhãn cung cấp hồi lưu bằng bơm thủy lực. Bộ phận bắn
chữ sẽ in nhãn hiệu, lô hàng, ngày sản xuất, hạn sử dụng.
Bộ phận đóng chai vào thùng : Đưa chai vào thùng, két rồi nhập kho hoặc trực
tiếp xuất xưởng.
V. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng bia
Đánh giá chất lương bia dựa vào nhiều yếu tố khác nhau : mùi, vị, màu sắc, độ
trong, bọt và độ bền của bọt. Như vậy, chất lượng bia được quyết định bởi nhiều yếu
tố liên quan tới tất cả các quá trình công nghệ sản xuất bia nên yêu cầu trong quá
trình sản xuất phải tuân thủ đúng quy trình công nghệ từ giai đoạn chuẩn bị nguyên
liệu cho tới khi thu sản phẩm và bảo quản.
C. Nhận thức chung về nhà máy bia NaDa
Bề dày truyền thống, điều kiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại, vị trí địa lý
thuận lợi là những điều kiện rất thuận lợi cho sự phát triển đi lên của nhà máy
bia NaDa để từng bước xâm nhập thị trường trong nước và thế giới trong
những năm tới. Tuy nhiên, không chỉ dựa vào đó mà mà có thể đánh giá một
đơn vị sản xuất mạnh hay yếu. NaDa là một đơn vị sản xuất mạnh không chỉ bởi
những yếu tố thuận lợi trên mà bên cạnh đó còn có một đội ngũ nhân viên giỏi
I. Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy
3
II. Cơ cấu sản xuất kinh doanh
4
III. Mặt bằng nhà máy
5
B.Quy trình sản xuất bia NaDa
6
I. Nguồn nguyên liệu
6
II. Chuẩn bị nguyên liệu
6
II.1 Malt
7
II.2 Gạo
8
II.3. Hoa hublong
8
II.4. Nước
9
III. Dây chuyền sản xuất và công nghệ sản xuất bia hơi NaDa
10
III.1.Tổng thể dây chuyền sản xuất bia NaDa (Hình vẽ)
10
IV.2 Máy lọc trong
19
IV.3 Hệ thống chiết chai
19
V. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bia
21
C. Nhận thức chung về nhà máy bia NaDa
21