TIỂU LUẬN báo cáo thực tập tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam - Pdf 95



TIỂU LUẬN:

Báo cáo thực tập tại Ngân
hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam

I/ Giới thiệu khái quát Ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam :

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
(NHNoPTNT Việt Nam) được thành lập tháng 3/1988 khi bắt đầu chuyển đổi
hệ thống Ngân hàng từ một cấp sang hai cấp. Ngân hàng nông nghiệp được hình
thành từ một số cấp vụ, phòng và chi nhánh cơ sở phụ thuộc Ngân hàng Nhà
nước mang nặng tính chất cơ chế tập trung bao cấp. Thời gian đầu mới đi vào

toán quốc tế của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, có quan hệ với hơn 600 Ngân
hàng đại lý trên thế giới, đã và đang mở các hoạt động thuê mua tài chính kinh
doanh vàng bạc, chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ, mua bán nợ. Ngân hàng đã sắp
xếp lại bộ máy, tuyển nhân viên có trình độ và giảm khoảng 1/3 biên chế. Tăng
cường đào tạo kể cả khảo sát tu nghiệp tại nước ngoài cho nhân viên. áp dụng và
trang bị công nghệ hiện đại, hệ thống vi tính nối mạng tới chi nhánh huyện, tham
gia hệ thống SWIFT- Society for Worldwide Inter-bank Financial
Telecommunication-(từ năm 1995) thực hiện thanh toán điện tử trong toàn hệ
thống, máy rút tiền tự động ATM…. Bên cạnh đó Ngân hàng nông nghiệp đã
tham gia tích cực các công tác xã hội như: phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh
hùng, xoá đói giảm nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, hỗ trợ tài năng trẻ; tài trợ giải
bóng bàn các đội mạnh toàn quốc ….
Theo tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với việc ký kết Hiệp định
Thương mại Việt- Mỹ, tham gia AFTA và chuẩn bị tham gia WTO, trong vòng
8-10 năm tới, các Ngân hàng nước ngoài được thực hiện đầy đủ nghiệp vụ như
Ngân hàng Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam. Đây là một cơ hội lớn và một thách
thức lớn đối với Ngân hàng nông nghiệp. Mặc dù đã đạt được những thành tựu
nói trên, song so với yêu cầu của tiến trình phát triển và hội nhập Ngân hàng
nông nghiệp đang còn nhiều những hạn chế đó là :
+ Vốn điều lệ còn hạn hẹp
+ Một số khoản dư nợ không sinh lời do thực hiện cho vay chính
sách, nợ khoanh được duyệt nhưng chưa cấp vốn, làm hạn chế khả năng kinh
doanh.
+ Chất lượng tài sản có chưa cao
+ Hệ thống kế toán đang áp dụng còn khác biệt so với hệ thống kế
toán Ngân hàng quốc tế – trong đó rõ nhất là cách thức tính toán trích lập quỹ rủi ro – dẵn tới không đánh giá đầy đủ hoạt động kinh doanh cũng như không phù
hợp với thông lệ quốc tế; các công cụ điều hành như kế hoạch cân đối, quản lý

Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt Nam gọi tắt là: Sở giao dịch
Tên giao dịch nước ngoài Banking Operation Center – Vietnam Bank
for Agriculture and Rural Development.
Trụ sở số 2 phố Láng Hạ - quận Ba Đình – thành phố Hà Nội.
Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam có hơn 90 đơn vị thành viên hoạt
động trải rộng khắp mọi miền đất nước, nhưng việc hạch toán kế toán được thực
hiện thống nhất toàn hệ thống. Sở giao dịch là đơn vị thành viên thực hiện chức
năng trực tiếp kinh doanh đa năng và chức năng sở đầu mối trong toàn hệ thống
NHNo&PTNT Việt nam.
Sở giao dịch NHNo  PTNT Việt Nam có đặc thù là ngoài việc phải
đảm bảo hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng của một đơn vị thành viên còn
phải đảm nhận nhiệm vụ là sở đầu mối của toàn hệ thống theo uỷ quyền của
Tổng giám đốc NHNo PTNT Việt nam. Bởi vậy sự tăng trưởng và phát triển
của Sở giao dịch có liên quan mật thiết và ảnh hưởng đến hoạt động của toàn hệ
thống NHNo  PTNT Việt nam. Theo uỷ quyền của Tổng giám đốc, Sở giao
dịch đầu mối phải thực hiện các nhiệm vụ sau: Đầu mối thanh toán quốc tế; đầu
mối quản lý tài khoản nội tệ, ngoại tệ; đầu mối mua bán ngoại tệ và đầu mối hạch
toán các loại vốn quỹ của NHNo PTNT Việt Nam.
Thực hiện làm đầu mối thanh toán quốc tế, Sở đã duy trì tốt mối quan
hệ với các tổ chức trong và ngoài nước có liên quan đến mạng SWIFT, đảm bảo
hệ thống SWIFT của NHNo  PTNT Việt nam hoạt động liên tục, thông suốt và
an toàn trong thanh toán quốc tế của toàn hệ thống. Đến nay Sở đã thiết lập được
681 Ngân hàng đại lý tại 74 nước trên thế giới, đáp ứng được yêu cầu thanh toán
xuất nhập khẩu và chi trả kiều hối cho khách hàng. Trong 6 tháng đầu năm 2001,
Sở đã thực hiện chuyển tiếp hơn 30.000 điện SWIFT, tăng 145,5 % so với cùng
kỳ năm 2000. Phát hành và thanh toán gần 2500 L/C, trị giá gần 3000 triệu$.
Chuyển tiền đi gần 5000 món, trị giá 400 triệu $, chuyển tiền đến hơn 2000 món,
trị giá 120 triệu $.Sở cũng đx tham gia đào tạo nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho
cán bộ thừa hành trong hệ thống NHNo&PTNT luôn luôn đảm bảo mọi dự trữ


bàn cũng như các Ngân hàng nước ngoài có bề dày kinh nghiệm về thanh toán
quốc tế được hỗ trợ bởi khả năng cung ứng vốn và ngoại tệ dồi dào kỹ năng Marketing hiện đại và năng động. Nguyên nhân trên đã ảnh hưởng lớn tới mảng
hoạt động kinh doanh đối ngoại nói chung và thanh toán quốc tế nói riêng của Sở
giao dịch.
2 Công tác chuyên môn nghiệp vụ: Đơn vị: USD
Stt
Nội dung hoạt
động
Giá trị thực
hiện 9
tháng/2000
Giá trị thực
hiện 9
tháng/2001
T
ỷ lệ %

tăng
giảm so
với 9
tháng/20
00
T
ỷ lệ
%tăng
giảm tuyệt
đối so 9


2
Thư tín d
ụng
hàng nhập
a/ Mở thư tín
dụng
b/ Thanh toán
L/C 64,219.,886

41,220,262
46,900,584.19

34,257,810.53
-26.96

-16.7
-


-106,369.60

-641,272,82

4 Chuyển tiền đi 23,526,436

29,923,151.83

27.18

6,396,688.8
3

5
B
ảo lãnh KQ
100%
24,484,057

28,426,055

-41.65

-201,630.95

T

may xuất khẩu, Xí nghiệp đá Thái Hà, Prosimex, khách hàng của chi nhánh Phú
Thọ. Nhưng hiện tại còn có giao dịch chứng từ hàng xuất tại Sở giao dịch chỉ còn
BAROTEX và chi nhánh Phú Thọ nên lượng giao dịch cũng như giá trị giao dịch
không nhiều và không thường xuyên.
Doanh số chuyển tiền trong 9 tháng đầu năm đạt 29,923,151,83 đô la
Mỹ tăng 27,18% so với 9 tháng đầu năm 2000. Thực chất giá trị tăng chủ yếu do
giá trị thực hiện của từng giao dịch chuyển tiền tăng còn lượng giao dịch vẵn giữ
ổn định như cùng kỳ năm 2000.Tính đến 20/08/2001 tổng thu phí dịch vụ đạt
1,65 tỉ đồng, tiến hành trích ký quỹ 7,583 tỉ VND và 1,126000 đô la Mỹ.
Hoạt động kinh doanh đối ngoại Sở giao dịch trong 9 tháng đầu năm
2001 tuy các chỉ tiêu kinh doanh đạt được chưa cao nhưng tương đối ổn định.Các
nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại như thanh toán quốc tế, tín dụng ngoại tệ, thanh toán biên giới, hoạt động bảo lãnh …. đi vào nề nếp, thực hiện an toàn và hiệu
quả.
2.1Thanh toán quốc tế : Đến cuối tháng 9/2001 đã có hơn 70 chi
nhánh thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế tăng 8 chi nhánh so với năm
2000.Doanh số thanh toán quốc tế tính đến cuối tháng 9 là 1035 triệu USD đạt
53,8% so với năm 2000. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã thu hút được khách
hàng, đặc biệt là khách hàng xuất nhập khẩu lớn, có khả năng tài chính ổn định
liên quan đến những mặt hàng chủ lực như gạo cà phê, phân bón, xăng dầu.
2.2Thanh toán biên giới: Ngay 19/6/2000, Văn phòng Chính Phủ đã
có công văn số 2472/VPCP-KTTH và ngày 20/7/2000 Ngân hàng Nhà nước có
công văn số 944/CV-QLNH 1 cho phép chính thức triển khai hoạt động thanh
toán biên giới đã đạt kết quả tốt, tăng cường, năng cao uy tín với các doanh
nghiệp, có hàng trăm doanh nghiệp đã thông qua NHNo&PTNT Việt Nam thanh
toán với Trung Quốc tăng trưởng nhanh và đảm bảo an toàn, hiệu qủa. Đây là
một loại hình dịch vụ vừa đem lại lợi nhuận cho NHNo vừa đáp ứng nhu cầu
thanh toán của các doanh nghiệp và cá nhân trong giao dịch thương mại biên giới

tế. NHNo&PTNT là một trong những Ngân hàng đầu tiên trong hệ thống Ngân
hàng thương mại Việt Nam thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng. Ngân hàng
đã sớm đưa nghiệp vụ bảo lãnh trở thành một loại hình dịch vụ quan trọng và đã
thu được những thành quả đáng kể. Bên cạnh việc mang lại lợi nhuận cho Ngân
hàng, nghiệp vụ bảo lãnh còn nâng cao uy tín và thúc đẩy các hoạt động kinh
doanh khác cho Ngân hàng nông nghiệp, mang lại những lợi ích to lớn hơn.
Sở giao dịch là đơn vị thành viên thực hiện chức năng trực tiếp kinh
doanh đa năng và chức năng Sở đầu mối trong toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt
Nam vì vậy hoạt động bảo lãnh đã sớm trở thành một nghiệp vụ kinh doanh được
Sở quan tâm và chú trọng.
Ngay sau ngày đất nước thống nhất, để giúp Việt Nam khắc phục được
hậu quả nặng nề của chiến tranh, một phong trào viện trợ và cho Việt Nam vay
vốn đã dấy lên ở khắp nơi trên thế giới. Chúng ta đã nhận được những khoản tín
dụng trị giá lớn với lãi suất ưu đãi, thời gian hoàn vốn dài và các hình thức cấp
tín dụng phong phú, đa dạng. Ngoài ra các thương nhân, các doanh nghiệp lớn ở
nước ngoài cũng đã cấp cho các tổ chức kinh tế ở Việt Nam những khoản vay
thương mại trung và dài hạn. Đặc biệt là trong những năm gần đây NHNo  PTNT Việt Nam đã luôn nhận được những dự án tài trợ lớn như : Dự án Tài
chính Nông thôn II –WB ( tổng số vốn 85 triệu USD), Dự án phát triển cây chè
và cây ăn quả ADB có tổng số vốn là 40,2 triệu USD, Dự án Chương trình Tín
dụng Nông nghiệp AFD II 30 triệu EUR, Dự án Hỗ trợ ngành Nông nghiệp Việt
Nam 30 triệu DKK tương đương 4,5 triệu USD do chính phủ Đan Mạch tài
trợ…Tất cả chương trình trên đều hướng vào mục tiêu mở rộng tín dụng phát
triển nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu vật nuôi tạo công ăn việc làm,
cải thiện đời sống các hộ gia đình tại các vùng nông thôn Việt Nam.
Từ khi trở thành một Ngân hàng thương mại hoạt động độc lập, nghiệp vụ
bảo lãnh đã có nhiều thay đổi và không còn tình trạng bảo lãnh ồ ạt, thụ động
theo chỉ thị khả thi của từng dự án, đảm bảo thực hiện đầy đủ quy định về bảo

USD so với cuối năm 2000 do vẫn còn các món bảo lãnh mía đường đã quá hạn
thanh toán của các chi nhánh: Linh Cảm (đến hạn 28/12/2000)và Kontum (đến
hạn 30/12/2000).Sang năm 2001 số lượng bảo lãnh có tăng lên cả về mặt chất
lượng do những chính sách khuyến khích xuất khẩu hợp lý của Nhà nước cũng
như đường lối chỉ đạo đúng đắn của ban Giám đốc Sở, tuy nhiên hoạt động kinh
doanh của Sở cũng bị ảnh hưởng sau sự kiện khủng bố vào WTC –New York –
Mỹ (11/9),và sự trì trệ của những nền kinh tế lớn như Nhật Bản các nước thuộc
liên minh Châu Âu nên đã giảm sút vào những tháng cuối năm.
Nếu không kể đến rủi ro phải thanh toán thay cho khách hàng thì với
mức phí bảo lãnh bình quân 1%/năm so với tổng dư nợ bảo lãnh, dịch vụ này đã
đem lại cho Ngân hàng nông nghiệp khoảng trên dưới 1 triệu USD mỗi năm, góp
phần làm tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ của Sở trong tổng các
nguồn thu của Sở. Điều này phù hợp với xu thế kinh doanh của Ngân hàng hiện
đại.
2.Nguyên nhân và giải pháp
Trong thời gian qua, sở dĩ Sở đạt được những kết qủa đáng khích lệ
này là do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
2.1Nguyên nhân khách quan:
Một là: Sự chuyển đổi nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà
nước từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường làm cho việc cung cấp và
tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ đều tuân theo tín hiệu của thị trường, tự do hoá thương
mại trong nước, bãi bỏ hầu hết các hạn chế về nhập khẩu phi mậu dịch, mở rộng
kinh doanh vàng bạc và nới lỏng việc chuyển đôỉ đồng tiền Việt Nam đối với
ngoại tệ. Với việc áp dụng lãi suất thực và huy động tiền mặt từ thị trường vào
tiết kiệm đã chấm dứt tình trạng phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách. Do vậy
mà lạm phát được kiềm chế, ổn định về tiền tệ, phát triển kinh tế xã hội làm môi trường thuận lợi cho thương mại và tín dụng ngày càng được mở rộng, thúc đẩy
nhu cầu bảo lãnh phát triển.

Thứ ba: Sở đã phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng bạn trong và
ngoài nước phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, với khách hàng, làm
thông suốt hoạt động bảo lãnh cũng như các hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
2.3 Một số giải pháp:
Bên cạnh những thành quả đã đạt được, trong thời gian qua, nghiệp vụ
Bảo lãnh của Sở vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu bảo lãnh ngày càng tăng của
nền kinh tế. Trong khi nhu cầu bảo lãnh của nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng thì
doanh thu về nghiệp vụ bảo lãnh tại Sở lại không ổn định. Sau khủng hoảng tài
chính và một vài vụ đổ bể lớn từ hoạt động Bảo lãnh, Ngân hàng nông nghiệp
nói riêng và các Ngân hàng thương mại khác nói chung đang có xu hướng hạn
chế bớt hoạt động này. Em xin đưa ra một số giải pháp
2.3.1 Cần thực hiện phân tán rủi ro trong hoạt động bảo lãnh.
Hoạt động bảo lãnh của NH là một loại hình hoạt động có độ rủi ro cao.
Khi người được bảo lãnh không có khả năng hoặc cố tình không thực hiện đầy đủ
các nghĩa vụ của mình đối với người nhận bảo lãnh thì NH phải đứng ra trả thay.
Các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi
ro khác nhau như rủi ro lãi suất, rủi ro về tỷ giá, rủi ro do kém thích nghi cạnh
tranh, rủi ro chính trị , các trường hợp bất khả kháng…. Có những trường hợp rủi
ro vượt ra ngoài tầm kiểm soát của con người và không thể tránh khỏi. Các
doanh nghiệp đã tìm đến hoạt động bảo lãnh của NH sẽ phải chịu rủi ro đó. Cũng
như bất kỳ một doanh nghiệp nào khác, NH cũng phải hoạt động an toàn và có lãi
để tồn tại và phát triển, vì vậy cần phải tìm ra các biện pháp để giảm bớt tối đa
các rủi ro do hoạt động bảo lãnh gây ra. Có một số giải pháp để đạt tới mục đích
này:
 NHNo PTNT – Sở giao dịch cần phải đa dạng hoá các hoạt động bảo
lãnh nhằm phân tán rủi ro. Hiện nay, NH chủ yếu vẫn tập trung vào bảo lãnh mở
L/C trả chậm và vay vốn nước ngoài trong khi đây là loại hình bảo lãnh có độ rủi
ro cao nhất. Cần phải tăng cường mở rộng hoạt động bảo lãnh trong nước, khai
thác tối đa tiềm năng này.

doanh thanh toán quốc tế, NHNo luôn đi đầu về thực hiện nghiệp vụ BL với uy
tín khắp cả nước cũng như trong khu vực. Cùng với đội ngũ cán bộ tín dụng giàu
khả năng và kinh nghiệm, NHNo có thể giảm mức phí BL xuống để gia tăng nhu cầu BL, tạo thêm nhiều cơ hội trong việc lựa chọn các dự án BL khả thi tốt nhất.
Mặc dù khi giảm phí bảo lãnh, lợi nhuận tính theo tỷ lệ phí thu của mỗi khoản
BL sẽ giảm, nhưng do số lượng xin BL lớn nên có thể lựa chọn được các dự án
BL an toàn hơn. Giảm lợi nhuận xuống một phần nhỏ để thu được mức an toàn
cao cũng là một sự đánh đổi hợp lý. Hơn thế nữa, khi giảm phí BL, doanh số BL
có thể tăng cao nên tổng lợi nhuận không giảm hoặc giảm không đáng kể và sẽ
tăng lên trong tương lai. Bên cạnh đó, NH sẽ tăng lợi nhuận thu được từ các dịch
vụ liên quan đến quá trình BL như dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thanh toán, kinh
doanh ngoại tệ…. Hoạt động BL phát triển làm tăng uy tín của NH, giúp tìm
kiếm thêm các khách hàng mới và tăng lợi nhuận trong các hoạt động khác nhờ
mối liên hệ này.
2.3.3 NHNo cần tham gia vào việc xác định thời hạn BL
trước khi nhận BL
Theo qui định chung, thời hạn BL căn cứ vào thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được BL của khách hàng đối với bên nhận BL. Trong hoạt động BL,
NH không được quyền chọn thời hạn BL mà phụ thuộc vào hợp đồng cơ sở giữa
bên xin BL và bên thụ hưởng. Đặc biệt trong một số loại hình BL như BL vay
vốn, BL mở L/C nhập hàng trả chậm… thời hạn BL rất quan trọng. Trong nhiều
trường hợp, thời hạn BL rất quan trọng. Trong nhiều trường hợp, thời hạn BL
không khớp với thời gian của một hay một số vòng luân chuyển vốn của đơn vị
vay. Điều đó dẫn đến tình trạng khi đến hạn trả nợ vốn vay, đơn vị được BL vẫn
chưa kết thúc vòng luân chuyển vốn nên chưa trả nợ được và NH phải trả nợ thay
và phải cho vay bắt buộc đối với khách hàng.Vì vậy, NH phải tiến hành đàm
phán với bên cho vay để xác định được một khoảng thời gian BL hợp lý, phù hợp
với tình hình luân chuyển vốn của khách hàng, đảm bảo khả năng trả nợ của

Kết Luận :

Sở kinh doanh hối đoái – NHNo&PTNT Việt nam tuy mới thành lập
nhưng đã đạt được nhiều kết quả tốt đẹp : tạo được nhiều nguồn ngoại tệ dồi dào
để cho vay, doanh số cho vay đạt khá, hoạt động thanh toán quốc tế phong phú
có nhiều chất lượng cao, lợi nhuận đem lại đáng kể thực hiện nhiều hình thức cho
vay đa dạng trên cơ sở L/C, hình thức bảo lãnh kết hợp với đầu tư phát triển sản
xuất hàng hoá xuất khẩu. Bảo lãnh Ngân hàng nhằm đảm bảo quyền lợi của các
bên tham gia vào hoạt động kinh tế, là một biện pháp chống rủi ro được sử dụng
rộng rãi trong quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status