TIỂU LUẬN:
Báo cáo tổng hợp về Viện
quản lý kinh tế Trung ương
LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế nước ta phải đối mặt với những khó khăn to lớn: trong khi
nhiều tiềm năng chưa được phát huy thì sản xuất trì trệ, đình đốn; đầu tư giảm
mạnh; hoàng hóa khan hiếm; lạm phát ngày một gia tăng; nhiều lao động không có
việc làm hoặc thiếu việc làm; đời sống của nhân dân không được cải thiện, thậm chí
có mặt còn giảm sút; tình hình xã hội có nhiều diễn biến phức tạp;… Nhìn một cách
tổng thể khi đó nền kinh tế thiếu động lực phát triển; một bộ phận không nhỏ người
lao động và cán bộ quản lý bộ phận không nhỏ người lao động và cán bộ quản lý
không quan tâm tới việc phát triển sản xuất, kinh doanh, do vậy năng suất lao động
được đội ngũ cán bộ thống nhất nhân thức đúng đắn, sâu sắc. Kết quả này đã góp
phần tạo ra những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới của đất nước ta.
I- Lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của Viện quản lý kinh tế Trung
ương.
1- Lịch sử hình thành của Viện.
Ngay sau khi miền Bắc được giải phóng Đảng đã tập trung sức lãnh đạo khôi
bộ biệt phái từ các Bộ, ngành, và sau này là Ban thư và Chính phủ. Nhiều đồng
chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp phụ trách các tổ chức
nghiên cứu đó như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, phó thủ tướng Lê Thanh Nghị,
Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh…
Trước đòi hỏi ngày càng bức xúc của thực tiễn, yêu cầu cấp bách phải nghiên
cứu có luận cứ về phương thức quản lý kinh tế mới nên đã thúc đẩy việc chuyển
Ban nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế thành Viện. Do đó, ngày 14 tháng 07
năm 1977 Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương khóa 4 ra Quyết định 209 –
NQ – NS/TW thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế của Trung ương Đảng
và Chính Phủ và cử đồng chí Nguyễn Văn Trâm làm viện trưởng, đồng chí Đoàn
Trọng Truyến làm phó Viện trưởng. Tiếp theo ngày 10/11/1977 Ban bí thư ra
Quyết định số 04 QĐ/TW quy định nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế công tác
của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Căn cứ vào Điều 53 của Hiến pháp
năm 1959, điều 3 của Luật tổ chức Hội đồng Chính Phủ và theo đề nghị của Hội
đồng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Quyết nghị số 215 –
NQ/QHK6 ngày 17/4/1978 phê chuẩn việc thành lập Viện nghiên cứu quản lý
kinh tế trung ương, cơ quan ngang Bộ của Hội đồng chính phủ.
2- Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Viện.
Căn cứ vào quyết nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng chính phủ
đã ban hành Nghị định số 111 – CP ngày 18/5/1978 Quy định nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Theo đó, Viện nghiên
cứu quản lý kinh tế TW có các quyền hạn và nhiệm vụ chính sau:
Nghiên cứu hệ thống quản lý kinh tế XHCN trong cả nước, nhằm vào
nhũng vấn đề chung và quan trọng nhất là: tổ chức lại nền sản xuất xã hội, cải
tiến phương thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch làm chính; kiện toàn bộ máy quản
lý kinh tế.
Dự thảo các đề án về quản lý kinh tế có nội dung tổng hợp, liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực để trình Hội đồng Chính phủ.
Cộng tác với các Bộ, Tổng cục và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố theo
một chương trình phân công và phối hợp chung.
kinh tế cho Viện trưởng.
Đến năm 1980, nhằm tạo thuận lợi cho việc thống nhất chỉ đạo, Ban bí thư
Trung ương khóa IV đã Quyết định để Viện thôi trực thuộc Ban bí thư chỉ còn
trực thuộc Chính phủ nhung chức năng nhiệm vụ của Viện giữa nguyên không
thay đổi. Trong những năm qua lần lượt các đồng chí sau đây đã được cử vào
các chức vụ Lãnh đạo Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương.
Các đồng chí Viện trưởng:
Nguyễn văn Trân ( 1978 – 1989 ).
Đoàn Duy Thành ( 1991 – 1992 ).
Đoàn Đỗ ( quyền Viện trưởng ) từ 1989 – 1991.
Lê Đăng Doanh (từ 1993).
Các đồng chí phó Viện trưởng:
Đoàn trọng Truyến ( Từ 1978 – 1981 ).
Đoàn Đỗ ( 1981 – 1989 ).
Dương bạch Liên ( 1982 – 1986 ).
Lê Đăng Doanh ( 1991 – 1993 ).
Nguyễn Văn Bích ( từ 1989).
Nguyễn Văn Huy ( 1991 – 1994 ).
Đặng Đức Đạm ( 1995 – 1998 ).
Trần Xuân Lịch ( từ 1998 ).
Lê Xuân Bá ( từ 1998).
Các đồng chí cố vấn cấp cao:
Nguyễn Chân.
Ngô Duy Cảo.
Trần Việt Phương
Ngày 27/10/1992 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 07 – CP giao
cho Ủy ban Kế hoạch nhà nước ( nay là Bộ kế hoạch và Đầu tư) quản lý viện
Ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp.
Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
Ban nghiên cứu chính sách phát triển kinh tế nông thôn.
Ban nghiên cứu khoa học quản lý kinh tế.
Hội đồng khoa học.
Ban nghiên cứu khoa học quản lý.
Trung tâm tư vấn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý.
Tạp trí quản lý kinh tế.
Trung tâm thông tin và tư liệu.
Văn phòng viện.
Ngoài ra Viện còn trực tiếp quản lý hoạt động của Câu lạc bộ
Giám đốc Trung ương.
Ban lãnh đạo của Viện hiện nay:
Viện trưởng: TS Đinh Văn Ân.
Các phó Viện trưởng: TS Lê Xuân Bá.
Trần xuân Lịch.
TS Nguyễn Xuân Trình.
II- Những hoạt động của Viện quản lý kinh tế Trung ương trong những năm
qua.
Sự ra đời của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là để đáp ứng
những đòi hỏi của sự nghiệp quản lý kinh tế ở nước ta; được thùa hưởng những
kết quả và kinh nghiệm nghiên cứu của các tổ chức tiền thân, gắn bó và bám sát
cuộc sống đầy năng động của đất nước, biết tập hợp các lực lượng nghiên cứu
trong nước và sớm tham gia vào quá trình hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với
chuyên gia của các tổ chức quốc tế và nước ngoài, do đó Viện đã thực thi được
nhiệm vụ Nhà nước giao và làm được một số việc rất cơ bản.
1- Những thành tựu của Viện đã đạt được trong các năm qua.
Sớm đề xuất với TW về việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế.
Ngay trong bản “dự thảo đề án”(11/1978) Viện đã kiến nghị cần mở rộng kinh tế
đối ngoại và coi kinh tế đối ngoại là bộ phận của đường lối kinh tế, là một nhân
tố tạo cơ cấu kinh tế mới của nước ta, một cách tốt nhất để sớm phát huy lao
động, tài nguyên đất, rừng, biển, thực hiện công nghiệp hóa. Tính toán kỹ dám
dùng biện pháp cởi mở, mạnh bạo, tìm nhiều cách thu hút đầu tư từ ngoài phát
triển nhiều hình thức hợp doanh và hợp tác, nhiều kiểu trao đổi kinh tế với nước
ngoài. Xuất khẩu lao động tại chỗ bằng con đường gia công cho nước ngoài.
Cho phép các nước ngaòi đặt các đại lý trên đất nước ta để bán sản phẩm công
nghiệp, thiết bị, phụ tùng, vật tư cần thiết cho nền sản xuất nước ta. Chung vốn
với nước ngoài để đầu tư xây dựng một số công trình công nghiệp thích hợp trên
đất nước ta để cùng nhau chia sản phẩm, lợ nhuận… Việc hợp tác kinh tế khoa
học – kỹ thuật của ta trước hết hướng vào khối SEV, vào các nước láng giềng,
với các nước đang phát triển và các nước tư bản. Vừa tranh thủ hợp tác giữa
chính phủ với chính phủ, vừa hợp tác giữa các đoàn thể, các tổ chức kinh tế xã
hội, của nhân dân bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau.
Đã đạt được kết quả nhất định trong công tác bồi dưỡng kiến thức quản lý
cho đội ngũ cán bộ trung cao cấp và cán bộ cơ sở trong cả nước. Thực chất của
việc bồi dưỡng này không phải là nâng cao trình độ quản lý cho cán bộ mà làm
xoay chuyển tư duy của họ, trang bị một số quan điểm mới về quản lý kinh tế,
một cách nhìn mới về hiện trạng kinh tế nước ta.
Trong các kiến nghị về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế Viện luôn bám sát
đường lối của Đảng và coi trọng, đề cao các quy luật kinh tế khách quan, đặc
biệt là quy luật giá trị. Tư tưởng nghiên cứu của Viện là coi trọng và chú ý đúng
mức đến việc tìm tòi, sử dụng quy luật giá trị gắn với hiệu quả của các hoạt động
kinh tế. Giá cả là vấn đề quan tâm đầu tiên trong các kiến nghị, do hệ thống giá
của ta có nhiều điểm không sát với thực tiễn, phải cải cách nó một cách cơ bản
Ngày nay sau hơn 10 năm đổi mới với tư duy được đổi mới, khi cơ chế đã
từng bước chuyển đổi theo hướng thị trường, khi cơ cấu kinh tế đã có những
chuyển biến bước đầu, việc xem xét lại các việc làm vừa qua để thấy rõ mặt ưu
điểm và khuyết điểm đã có nhiều căn cứ vả lý luận và thực tiễn. Chúng ta là
người sống trong sự biến đổi của thời đại, nên suy nghĩ, việc làm cũng không thể
tách biệt khỏi thời đại. Tuy đó không phải là lý do để biện minh cho những việc
chưa làm được, hay suy nghĩ chưa đầy đủ nhưng chúng ta có thể nhìn lại mình
một cách khách quan để xác định hướng đi cho tương lai.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng số một của Viện khi thành lập là:
“nghiên cứu hệ thống quản lý kinh tế XHCN trong cả nước”, trong hơn 20 năm
hoạt động Viện đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu lý luận và thực tiễn để
đóng góp với Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới quản lý kinh tế đất
nước, song đến nay việc hình dung một cách có hệ thống, rõ rệt “hệ thống quản
lý kinh tế XHCN” hay nói cách khác là hình thành một chiến lược quản lý lâu
dài cho đất nước như thế nào cả về mặt lý luận và thực tiễn hiện vẫn đang là vấn
đề còn bỏ ngỏ. Đây là nhiệm vụ nặng nề, rất khó khăn đòi hỏi đội ngũ cán bộ
nghiên cứu khoa học của các Viện lớn và cả nước trong đó có cán bộ của Viện
phải có nhiều nỗ lực vượt bậc trong nghiên cứu, lấy nghiên cứu trong nước là
chính kết hợp nghiên cứu nước ngoài. Và phải nghiên cứu các mô hình khác
nhau, các học thuyết khác nhau… và có thời gian cần thiết mới có đóng góp
xứng đáng. Từ khi Viện vào Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nhiệm vụ này không
được đặt ra rõ ràng. Tuy nhiên đây là việc lớn cần tiếp tục tập trung sức nghiên
cứu mà Viện không nên thoái thác.
Trong quản lý kinh tế, nhất là quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các
công cụ quản lý vĩ mô luôn đóng vai trò quan trọng mang tính công phạt lớn,
song việc đi sâu nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của công cuộc đổi mới ở
nước ta để vận dụng, đặc biệt là vai trò, vị trí của các công cụ quản lý vĩ mô
nước. Trong thời đại mở cửa, hội nhập, cơ chế quản lý nào là thích hợp cần hội
nhập? mà không mất tính tự chủ?
Chưa chú ý nghiên cứu bộ máy Nhà nước quản lý kinh tế - xã hội. Việc
nghiên cứu này Nhà nước không giao cho Viện nghiên cứu. Nhưng với tư cách
là một cơ quan nghiên cứu tham mưu tư vấn, nếu không chú ý đúng mức tới việc
nghiên cứu bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế sẽ là một lỗ hổng cho dù trong
những kiến nghị đầu tiên về đổi mới quản lý kinh tế, công tác tổ chức bộ máy và
cán bộ chiếm vị trí mấu chốt trong các mấu chốt.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý đã thu được kết quả nhất định,
góp phần xây dựng và tạo lập cho đội ngũ cán bộ cách nhìn nhận, tư duy mới
hơn trước về hiện trạng kinh tế của nước ta, chưa trạng bị cho đội ngũ này về
đào tạo, bồi dưỡng quản lý cho đội ngũ cán bộ trung, cao cấp, mới chỉ dựa vào
Liên Xô là chính; sau này có mở ra các tổ chức quốc tế và một số nước song lại
thu hẹp phạm vi, đối tượng chủ yếu bồi dưỡng kiến thức cho các nhà doanh
nghiệp.
Việc giải thể trường quản lý kinh tế Trung ương (1990) đã tạo ra một khoảng
trống, nếu không nói là hẫng hụt, trong việc tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng có hệ
thống về kiến thức quản lý kinh tế cho đội ngũ cán bộ trung, cao cấp của nước
ta. Về việc này trước khi vào Bộ kế hoạch và Đầu tư Viện có một số lần đưa ra
đề án kiến nghị với Chính phủ tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng song không được
chấp nhận, đến nay vẫn còn là khoảng trống trong lĩnh vực này.
3- Những bài học kinh nghiệm.
Sau những năm hoạt động, Viện đã có những việc đã làm được và chưa làm
được. Nhưng từ đó có thể rút ra những bài học, những kết luận về sự thành công
và chưa thành công.
Nghiên cứu kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế là quá trình liên tục hoàn thiện
nhất là trong điều kiện đang trong quá trình chuyển đổi, cần bám sát thực tiễn để
tổng kết kinh nghiệm, thăm dò phản ứng kết quả để hoàn thiện nội dung, phương
Trong công tác nghiên cứu phải mang tính tổng hợp, có hệ thống và phải
tổng kết từ thực tiễn và thu hút đông đảo các lực lượng nghiên cứu, các nhà khoa
học, các nhà quản lý giỏi từ trung ương đến địa phương. Đồng thời phải biết sử
dụng tổng hợp các yếu tố xã hội – kinh tế - cùng với môi trường cũng như các
trang thiết bị thông tin,… không nên bó hẹp trong phạm vi một nước, một chiều,
mà phải mở rộng tầm nhìn ra tứ phía chung quanh, không thần thánh hóa cũng
không coi thường bất kỳ kinh nghiệm của các nước nào, không rập khuôn máy
móc kinh nghiệm của họ.
Trong nghiên cứu cần có sự độc lập, sáng tạo không phụ thuộc, theo ý kiến
cá nhân của một người lãnh đạo nào đó mà phải tôn trọng khách quan và khoa
học. Trong kinh tế - xã hội mỗi hiện tượng đều diễn ra theo một quy luật khách
quan nhất định, không phụ thuộc vào ý muống chủ quan của mỗi người lãnh
đạo, do vậy trách nhiệm của cán bộ nghiên cứu là phải tìm hiểu nắm bắt quy luật
khách quan và tìm cách sử dụng nó theo hướng có lợi con người và xã hội.
Là cơ quan nghiên cứu khoa học và tham mưu trong việc hoạch định chủ
trương chính sách về kinh tế và quản lý kinh tế ngoài việc phải tổ chức nghiên
cứu khoa học tạo luận cứ vững chắc cho các kiến nghị, đề xuất, còn cần có sự
chỉ đạo, lãnh đạo cao cấp của đất nước, thì các sản phẩm tạo ra mới có ý nghĩa
đóng góp thiết thực và kịp thời.
4- Những hoạt động cần làm của Viện trong thời gian tới.
Đất nước đã chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đặt ra yêu cầu cao hơn hẳn về chất đối với công cuộc đổi mới; bên cạnh
những thuận lợi và thời cơ có nhiều khó khăn và thách thức. Công cuộc đổi mới
kinh tế trong những năm tới sẽ khó khăn và phức tạp hơn; bởi vì động lực phát
triển của quá trình tự do hóa không còn nhiều như trước; để đảm bảo sự tăng
trưởng nhanh và bền vững, cần phải tìm mọi cách nâng cao hiệu quả của nền
kinh tế. khai thác thật tốt các tiềm năng và lợi thế của đất nước trong quan hệ và
đạo Đảng và Nhà nước; còn nghiên cứu cơ sở khoa học chủ yếu là để tạo luận
cứ về lý luận, khoa học chủ yếu là để tạo luận cứ về lý luận, khoa học cho nhiệm
vụ tham mưu, đồng thời nâng cao tầm hiểu biết của cán bộ trong Viện. Viện cố
gắng phấn đấu để vươn lên vị trí đầu đàn trong lĩnh vực nghiên cứu chính sách
kinh tế, từ đó thu hút trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, cán bộ kinh tế, các
nhà quản lý để phối hợp tham gia xây dựng các chính sách kinh tế mới tham
mưu cho Đảng và Chính phủ. Trong khi bám sát yêu cầu nhiệm vụ tham mưu
được giao, bám sát phục vụ và góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị của
Bộ.
Về mặt nội dung, yêu cầu cơ bản đặt ra đối với hoạt động của Viện trong
những năm trước mắt là nghiên cứu đề xuất các cơ chế chính sách kinh tế, các
khía cạnh chính trị trong kinh tế, phương pháp kế hoạch hóa và cơ cấu kinh tế
trong các vấn đề xã hội góp phần cụ thể hóa và thực hiện đường lỗi tiến tục sự
nghiệp đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đại hội VIII của
Đảng thông qua.
Để thực hiện các yêu cầu trên đây, định hướng về nội dung hoạt động lớn
của Viện được tập trung nghiên cứu:
Một là, nghiên cứu xây dựng chương trình tổng thể về cải cách kinh tế trên
cơ sở tổng kết quá trình đổi mới và nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của
công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Hai là, nghiên cứu về quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính
sách kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa.
Ba là, nghiên cứu vận dụng tổng hợp các công cụ quản lý vĩ mô chủ yếu của
Nhà nước trong cơ chế thị trường, trước hết là pháp luật kinh tế, kế hoạch hóa,
các chính sách kinh tế.
và phân công lao động quốc tế, đồng thời khẳng định chính sách đối ngoại của
nước ta. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, thế giới và khu vực có tốc độ phát
triển rất cao và vượt xa chúng ta. Cho nên, để có thể bắt kịp cho hoặc không để
khoảng cách giữa chúng ta và họ thêm xa, chúng ta phải liên tục đổi mới và điều
chỉnh chính sách kinh tế nói chung và chính sách đối ngoại nói riêng cho phù
hợp với xu hướng phát triển của thế giới.
Ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã được thành lập năm
2003 với chức năng, nhiệm vụ chủ yếu bao gồm:
Nghiên cứu chính sách thương mại.
Nghiên cứu cơ chế, chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế.
Nghiên cứu tác động của chính sách thương mại và quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Nghiên cứu những vấn đề khác về chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
Danh sách cán bộ của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế:
Trưởng ban: TS. Võ Trí Thành.
Phó trưởng ban: TS. Phạm Lan Hương.
Phó trưởng ban: ThS. Đinh Hiền Minh.
TS. Lê Xuân Sang.
ThS. Trịnh Quang Long.
ThS. Nguyễn Tú Anh.
ThS. Trần Bình Minh.
2- Những hoạt động của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
Công tác hoạt động năm 2004.
Thực hiện nhiệm vụ theo chức năng và được giao.
Hoàn thành Đề án trình Thủ tướng Chính phủ về “Phát triển và hoàn
thiện thị trường tiền tệ và thị trường vốn ở Việt Nam”(đã được Thủ tướng CP
phê duyệt).
DANIDA, SIDA, UNDP, GTZ; các tổ chức khác World Bank, ADB, EADN,
ISEAS, TDRI, ILO, ESCAP, PAFTAD, JETRO, IDE/JETRO, IDRC,
Chương trình cao học Hà Lan của Đại học KTQD Hà Nội…).
Tổ chức nhiều hội nghị/ hội thảo khoa học (Diễn đàn quốc tế về “tăng
cường quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản. Nâng cao khả năng cạnh tranh
của nền kinh tế Việt Nam”; Hội thảo “Ma trận hạch toán xã hội Việt Nam
năm 2000 và ứng dụng”; Hội thảo về “Chính sách tiển tệ ở Việt Nam trong
quá trình đổi mới”; Seminar “giới thiệu mô hình CGE của TDRI và khả năng
áp dụng cho Việt Nam”)
Tham dự, báo cáo nghiên cứu khoa học và đóng góp ý kiến tại nhiều
hội thảo trong nước và quốc tế.
Tham gia giảng bài cho đoàn nước ngoài (Bắc triều Tiên) Về kinh
nghiệm cải cách kinh tế ở Việt Nam; tổ chức huấn luyện – đào tạo theo
chương trình dự án DANIDA; tham gia giảng các bài về chính trị thương mại
và hội nhập kinh tế quốc tế tại một số lớp học cho sinh viên (trong nước và
quốc tế), cán bộ nhà nước….
Một số ấn phẩm và bài nghiên cứu khoa học trong năm 2004.
Sách: Kinh tế Việt Nam năm 2003, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội
(Việt và Anh).
Sách: Kinh tế Việt Nam năm 2004, NXB Tài chính, Hà Nội.
Sách: Thị trường tài chính Việt Nam: thực trạng,vấn đề và giải pháp
chính sách, NXB Tài chính, Hà Nội.
Sách: ma trận hạch toán xã hội mới của Việt Nam năm 2000, NXB
KH – KT, Hà Nội.
“The ASEAM Economic community: Perpective from ASEAN’s
Transitional Economies”
Công tác hoạt động năm 2005.
Thực hiện nhiệm vụ theo chức năng và được giao.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ.
Tiếp tục triển khai thực hiện Đề tài cấp Nhà nước “chiến lược huy
động và sử dụng vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta”(đề tài sẽ
hoàn thành trong quý I/2006).
Hoàn thành đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 “các hạn chế đối với sự
phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam và các giải pháp chính sách
” (do TS. Lê Xuân Sang làm chủ nhiệm).
Hoàn thành đề tài khoa học cấp Bộ năm 2002 về “phân tích định
lượng về tác động của quá trình gia nhập WTO tới sản xuất nông nghiệp Việt
Nam: Sử dụng mô hình cân bằng tổng thể ”(do TS. Phạm Lan Hương làm
chủ nhiệm).
Thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ năm 2004 – 2005 “Xây dựng các
chỉ tiêu dẫn báo kinh tế phục vụ phân tích chu kỳ kinh tế và dự báo ngắn hạn
– kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam ” ( do ThS. Đinh
Hiền Minh làm chủ nhiệm ). Đề tài sẽ hoàn thành trong quý I/2006.
Thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ năm 2005 “Rủi ro trong quá trình tự
do hóa thị trường tài chính và trình tự cải cách: Kinh nghiệm quốc tế và các
bài học cho Việt Nam ”(do ThS. Trịnh Quang Long làm chủ nhiệm). Đề tài
sẽ hoàn thành trong quý I/2006.
Tham gia hoạt động khoa học với các tổ chức trong và ngoài nước.
Tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ các dự
án với các tổ chức quốc tế và với nước ngoài (Các dự án nằm trong Viện:
DANIDA, SIDA, UNDP, GTZ; các tổ chức khác World Bank, ADB, EADN,
ISEAS, TDRI, ILO, ESCAP, PAFTAD, JETRO, IDE/JETRO, IDRC,
Chương trình cao học Hà Lan của Đại học KTQD Hà Nội ….).
Tham gia, phối hợp thực hiện các dự án/ đề tài nghiên cứu khoa học
về tự do hóa thương mại dịch vụ (UBQG về HTKTQT chủ trì), các công cụ
Một số ấn phẩm khoa học trong năm 2005.
Sách Kinh tế Việt Nam 2004, NXBKH – KT, Hà Nội, 2005 (Việt và
Anh).
Chương trong sách: “the ASEAN Economic community: Perspective
from ASEAM’s Transitional Economies”, in Denis Hew, Roadmap to an
ASEAN Economic community, ISEAS, Singapore, 2005.
Sach Domestic Enterprise development and the role of Local
Government, Joint Research Program serie 134, IDE – Jetro, Tokyo, March
2005.
Bài tạp chí: “Vietnam’s Trade Liberalization and International
Economic Integration: Evolution, Problems and Challenges”, ASEAN
Economic Bulletin Vol 22 No 1 April 2005.
Bài tạp chí “hệ thông và thị trường tài chính ở Đông Á: Chặng đường
dài cải cách và hội nhập”, tạp chí chứng khoan No 7 (81), 7/2005 and No
8(82), 8/2005.
4 bài về hội nhập và thị trường chứng khoán đăng trong tạp trí quản lý
kinh tế của Viện, No 2, 4/2005 No 3, 7/2005 và No 4, 10/2005.
3- Kế hoạch năm 2006 của ban nghiên cứu chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
Sẵn sàng thực hiện và hoàn thành các công việc được Viện giao theo chức
năng, nhiệm vụ của Ban; nỗ lực đóng góp cho quá trình hoạch định chính sách
nhất là các chính sách liên quan đến hội nhập, kinh tế vĩ mô, và các vấn đề xã
hội trong phát triển.
Thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Xuất bản Báo cáo kinh tế Việt Nam 2005.
Xuất bản một cuốn sách về Chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
Thực hiện và hoàn thành một đề tài cấp Nhà nước, hai đề tài cấp Bộ
năm 2005 đã nêu trên và một đề tài cấp Bộ năm 2006 (“Cơ sở lý luận và thực