TIỂU LUẬN: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Hàng Hải Hà Nội potx - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động huy động vốn tại Ngân hàng
Thương mại Hàng Hải Hà Nội
Lời nói đầu

Bằng việc huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, hoạt động
của các tổ chức tín dụng đã góp phần không nhỏ trong việc thu hút lượng vốn
lớn để cho các doanh nghiệp vay thực hiện tái đầu ttư thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Đây chính là hoạt động truyền thống, chủ yếu của Ngân hàng. Chính vì
vậy, kết quả huy động vốn của tổ chức tín dụng cao hay thấp, có ảnh hưởng
không chỉ doanh nghiệp sự tồn tại và phát triển của bản thân tổ chức tín dụng
mà nó còn tác động trực tiếp đến nền kinh tế, đặc biệt là đối với một nền kinh tế
vừa bước ra khỏi cơ chế bao cấp và đang khởi sắc trong những bước đầu đổi
mới như nước ta.
Hoà mình với công việc đổi mới chung của đất nước, cùng góp phần vào

nước Việt Nam (Ngân hàng Nhà nước) cấp giấy phép hoạt động số 01/NH - GP
có hiệu lực kể từ ngày 08/6/1991. Theo quy định số 259/QĐ/NH5 với số vốn
ban đầu là 40 tỷ VNĐ. Sau đó, Ngân hàng bắt đầu kinh doanh từ tháng 7 năm
1991 với thời hạn 25 năm, thời hạn này sẽ thay đổi khi có nghị quyết của Đại
hội đồng cổ đông.
MSB được thành lập trên cơ sở tự nguyện góp vốn của các cổ đông. Vì
vậy vốn điều lệ là do các cổ đông đóng góp, MSB tự chủ về tài chính, tự chịu
trách nhiệm về kết quả kinh doanh và chịu trách nhiệm với khách hàng của
mình trước pháp luật.
Các chi nhánh, các văn phòng đại diện, các Công ty trực thuộc là pháp
nhân duy nhất có con dấu riêng, và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước theo pháp
luật quy định.
MSB có các trụ sở chính: Hải Phòng: (trụ sở chính): Giấy phép hoạt
động số 001/NH - GP ngày 08/6/1991 và các chi nhánh:
+ Chi nhánh tại Hà Nội: Giấy phép hoạt động số 001/NH - GP ngày
08/6/1991.
+ Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Giấy phép số 001/NH - GP
ngày 08/6/1991.
+ Chi nhánh tại Quảng Ninh: Giấy phép số 0001/NH - GTC ngày
15/9/1992.
+ Chi nhánh tại Cần Thơ: Giấy phép số 0007/NH - GTC ngày 29/3/1993.
+ Chi nhánh tại Đà Nẵng: Giấy chập thuận số 0008/GTC ngày
10/5/1993.
+ Chi nhánh tại Vũng Tàu: quyết định số 185/QĐ - NH5 ngày 12/7/1996.
Là một ngành thương mại cổ phần, hoạt động theo luật Ngân hàng và các
tổ chức ttín dụng, luật doanh nghiệp, MSB tiến hành các hoạt động nghiệp vụ
huy động vốn trên các loại như: vốn ngắn, trung, dài hạn (tiền gửi có kỳ hạn,


Trong hoạt động giữa các phòng ban luôn có mỗi quan hệ mật thiết với
nhau, hỗ trợ nhau để cùng thực hiện mục tiêu chung của ngân hàng.
2. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của MSB.
Bảng số 1: Huy động vốn theo ngành kinh tế
Đơn vị tính: Triệu VND
STT Các chỉ tiêu Năm 2000 Năm
2001

Tổng số Tỷ trọng %

Tổng số Tỷ trọng %

Tổng vốn huy động 298.632

100

358.715

100

1 Ngành Hàng Hải 21.495

7,19

20.479

5,7

2 Ngành Giao thông 2.039

Phòn
g
tín
dụng
Phòn
g
Hành
chín
h -
Phòn
g
kiểm
soát
nội
Phòn
g
tài
chín
h kế
Phòn
g xử

rủi
ro
Phòn
g
dịch
vụ
khác


trọn
g
VND USD
Giá
trị
Tỷ
trọn
g
Tổng nguồn vốn 240.13
6

8,000

364.136

100

336.5
15

12,37
1

528.2
65

100

1 Hoạt động 200.00 6,000


00

1,850

249.0
751.2

Trung hạn trên 12
tháng
24.000

4,469

46.769.5
0077.60
0

1,551

101.6
252 Huy động

0

152.2

Trung hạn trên 12
tháng
5.574

0

5.5748000

0

80003 Nhận USD vốn từ trụ
sở chính
0

2,000

31.000


3.2

Trung hạn trên 12
tháng
0

474

7.3470

3000

46.50
04 Vốn huy động
khác
0

0

0

0


chiếm tỷ trọng phần lớn và chủ yếu, tổng nguồn vốn của Chi nhánh đến
31/12/2001 đạt 528.265 triệu VNĐ tăng 45% so với cùng kỳ năm 2000.
Với nguồn vốn huy động được bằng VND đạt khá nên chi nhánh kịp thời
hỗ trợ vốn cho trụ sợ chính để cân đối vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nguồn
vốn kinh doanh và thanh toán của chi nhánh. Đồng thời chi nhánh còn tăng số
dư tiền gửi có kỳ hạn của chi nhánh tại Hội Sở chính từ 60.000 triệu VND (năm
2000) lên 130.000 triệu đồng (năm 2001).
Nhìn chung, tổng nguồn vốn của chi nhánh tăng chậm qua các năm, chi
nhánh đã huy động thêm được ngoại tệ, thu hút thêm được từ tổ chức kinh tế và
dân cư nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh ngoại tệ của chi
nhánh và nhu cầu vốn dài hạn.
4. Công tác sử dụng vốn.
Phương châm trong sử dụng vốn của chi nhánh là "an toàn và hiệu quả".
Vì vậy, trong hoạt động cho vay của chi nhánh với các pháp nhân, cá nhân hoạt
động sản xuất kinh doanh, vay tiền dùng khi có nhu cầu vay được thực hiện
theo quy chế cho vay.
Đồng thời, ngân hàng cũng cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn nhằm đảm
bảo cho chi nhánh đáp ứng mọi nhu cầu rút tiền, gửi tiền của ngân hàng theo đó
chi nhánh đã thực hiện cơ cấu nguồn vốn theo hướng giảm tỷ trọng vốn dụng
cho vay để tăng tỷ trọng cao như kinh doanh ngoại tệ kinh doanh trên thị trường
liên ngân hàng. Đặc biệt, một phần vốn VNĐ không nhỏ được điều chuyển về
trụ sở chính để cân đối cho toàn hàng, cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng số 3: Cơ cấu sử dụng vốn
Tỷ giá : 15.500VNĐ = 1USD
Đơn vị tính: Triệu đồng và 1000USD
TT Chỉ tiêu


1 Dự trữ trong
thanh toán
13.268

300

17.917

4,9

20.90
4

500

28.64
5

5

1.1 Tại MSB 7.218

150

9.5439.000



4.250

113.89590.00
0

4.581

161.0
062.1.
1
Hợp vốn uỷ thác 39.680

2.100

72.23068.00
0

2.100

100.5
40.00
0

2.000

71.00
03 Gửi vốn có kỳ
hạn tại HO
60.000

0

60.000

16,4
7

130.0
00

0

130.0
00


70.00
04 Nhà cửa và
TSCĐ
20.000

0

20.000

5,49

20.00
0

0

20.50
0

4

5 Sử dụng khác 11.324

f0

11.324


dư nợ quá hạn (gần như toàn bộ nợ quá hạn của chi nhánh không thu được lãi
phát sinh).
Bảng số 4: Tình hình nợ quá hạn của MSBHN
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 2000 Năm 2001
Số tiền % Số tiền %
A. Tổng vốn huy động 298.632358.715B. Tổng dư nợ cho vay 254.895

85

320.000

89

C. Tổng dư nợ quá hạn 20.678

8,1

18.584

5,8

1. Nợ quá hạn theo thành phần


100

18.584

100

- Ngắn hạn 16.749

81

15.425

83

- Trung và dài hạn 3.929

19

3.159

17

(Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2001).
Qua số liệu trên cho thấy:
- Tổng dư nợ cho vay năm 2001 tăng so với năm 2000 (tăng về tỷ lệ là
4%).
Với sự đổi mới trong việc quản lý hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong
nội bộ ngân hàng và trên thị trường liên ngân hàng, MSBHN đã chủ động hơn
trong việc theo dõi, quản lý và điều tiết ngoại tệ. Bằng hoạt động kinh doanh
ngoại tệ MSBHN ngoài việc chuẩn bị đã chuẩn bị tốt về khách hàng xuất nhập
khẩu, chi nhánh cũng đã chuẩn bị tốt về kỹ thuật kinh doanh ngoại tệ và đón bắt
được cơ hội kinh doanh. Chính vì vậy doanh số và lãi kinh doanh các năm gần
đã tăng lên, điển hình năm 2001 tăng gấp đôi so với năm 2000.
* Dịch vụ thanh toán.
Trong điều kiện chưa phát triển được sản phẩm dịch vụ mới như thanh
toán chuyển tiền điện tử. Trong năm 2000, 2001 MSBHN đã chú trọng cải thiện
nâng cao chất lượng các dịch vụ truyền thông, giảm thiểu các thủ tục hành
chính và thay đổi phong cách phục vụ khách hàng. Vì vậy trong hai năm (2000
- 2001) nhìn chung dịch vụ thanh toán của chi nhánh có nhiều tiến triển tốt đẹp
cả về số lượng và chất lượng, mang lại doanh thu năm 2000 là 1.024 triệu VND,
năm 2001 đạt 145% (1.485 triệu VND) so với năm 2000 và chiếm 19,8% trong
tổng doanh thu nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng chủ yếu thực hiện trong
nước chiếm tới 98,81% năm 2001. Trong đó chuyển tiền đi chiếm 49,6%
chuyển tiền đến chiếm 49,21% tuy tỷ trọng nghiệp vụ thanh toán này nhỏ.
Nhưng đây cũng là nguồn thu dịch vụ chủ yếu của chi nhánh và nó đang được
ngân hàng đẩy mạnh. Năm 2001 tăng so với năm 2000 trong thanh toán nước
ngoài chiếm 81%.
Kết quả tài chính.
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2000
Năm
2001


+17Từ bảng trên, ta thấy thu nhập từ hoạt động kinh doanh năm 2001 tăng
so với năm 2000 là 12,6% (tăng về số tuyệt đối là 841 triệu đồng).
Chi phí từ hoạt động kinh doanh năm 2001 tăng so với năm 2000 là
8,7% (số tuyệt đối là 316 triệu đồng).
Do vậy, thu nhập của năm 2001 đạt 3.572 triệu đồng. Tăng so với năm
2000 là 17%. Đây là 1 tín hiệu rất khả quan do sự nỗ lực rất lớn của cán bộ
công nhân viên chi nhánh, nhờ sự quan tâm sâu sát của Ban lãnh đạo cũng như
của trung tâm MSB.

II. tình hình thực tế về công tác huy động
vốn tại MSBHN
Trên thực tế, vốn là cơ sở quan trọng quyết định tới việc thành lập mở
rộng hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh tế nói chung và của ngân hàng
nói riêng. Đối với các ngân hàng thương mại vốn gắn liền với hoạt động kinh
doanh của ngân hàng trong suốt quá trình phát triển đặc biệt là vốn huy động
việc mở rộng tín dụng. Do đó, để có thể tồn tại và phát triển, các ngân hàng
thương mại luôn luôn phải quan tâm đến công tác huy động vốn của mình.
Từ nhận thức sâu vị trí vai trò của nguồn vốn huy động MSBHN đã huy
động vốn từ mọi loại khách hàng.
Từ khách hàng là doanh nghiệp với các loại tiền gửi: tiền gửi không kỳ
hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi đảm bảo thanh toán.
Từ khách hàng là cá nhân: tiền gửi tiết kiệm với các hình thức huy động
vốn như trên trong những năm qua MSBHN đã huy động được khối lượng vốn
khá lớn, biểu hiện qua hai năm 2000 - 2001.
Bảng số 5: Tình hình huy động vốn
Đơn vị: Triệu đồng

+26.6

1.2. Tiền gửi có kỳ hạn 84.473

100.306

+15.833

+18.8

1.3. Tiền gửi đảm bảo thanh
toán
2.314

19.908

+17.594

+ 760

2. Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi
CHẹ NGHĩA
52.702

70.158

+17.458

+ 33


thức; tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản
chuyên chi, tài khoản giữ hộ chuyên dùng, tài khoản uỷ thác, tài khoản ký ngân,
tài khoản tiền gửi chung.
+ Tài khoản tiền gửi thanh toán.
Được MSBHN mở cho khách hàng để phục vụ việc thanh toán theo nhu
cầu của khách hàng. Khách hàng có thể rút tiền hoặc thực hiện việc thanh toán
từ tài khoản này bất kỳ thời điểm nào trong thời gian giao dịch của MSBHN.
Thời gian giao dịch của MSBHN từ 8h đến 11h30' sáng, từ 1h30 đến
4h30'chiều.
+ Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn.
Tài khoản tiền gửi này có xác định kỳ hạn và được mở theo nhu cầu của
khách hàng để hưởng lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán khách hàng
được rút hoặc chuyển tiền sang tài khoản tiền gửi khác của mình khi đến hạn (từ
khi có thoả thuận với MSBHN) nhưng không được thực hiện thanh toán cho
bên thứ 3 từ tài khoản này.
+ Tài khoản chuyên chi.
Tài khoản này được mở cho khách hàng để chi trả cho các nhu cầu thanh
toán và không được sử dụng để thu tiền từ bên thứ ba. Theo thoả thuận với
khách hàng, MSBHN sẽ chuyển tiền từ tài khoản tiền gửi khác của khách hàng
hoặc từ tài khoản của cơ quan cấp trên tới một mức nhất định theo thoả thuận.
Định kỳ theo một lịch trình đã thoả thuận; khi chủ tài khoản của các tài khoản
được ghi nợ có lệch chuyển tiền.
+ Tài khoản giữ hộ chuyên dùng.
Tài khoản này được mở để theo dõi tiền do MSBHN giữ theo yêu cầu
của khách hàng nhằm phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của họ hoặc theo quy
định của pháp luật. Nguyên tắc gửi tiền, rút tiền, sử dụng tất toán tài khoản phù
hợp với luật pháp. Tài khoản này không được sử dụng để thanh toán khác với

10/4/1998 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị MSB về thực hiện quy chế cho vay
của TCTD đối với khách hàng ban hành theo quyết định số 324/1998/QĐ -
NHNN1 ngày 30/9/1998 của thống đốc ngân hàng Nhà nước.
Căn cứ vào quy định số 161/QĐ - HĐQT ngày 20/11/1998 của Chủ tịch
Hội đồng Quản trị MSB về hội đồng tín dụng và cán bộ tín dụng. Ngày
22/12/1998 Tổng giám đốc MSB đã ra hướng dẫn về nghiệp vụ cho vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn. Cụ thể như sau:
Nghiệp vụ được phân ra làm ba giai đoạn.
- Giai đoạn trước khi cho vay
- Giai đoạn trong khi cho vay
- Giai đoạn sau khi cho vay
Và mỗi khi phát sinh các nghiệp vụ liên quan đến vấn đề cho vay, thu
nợ, thu lãi thì phải tiến hành kịp thời và chính xác dựa trên cơ sở các chứng từ
hợp lý hợp lệ, tuân tthủ các quy định và chế độ kế toán hiện hành.
1.1. Giai đoạn trước khi cho vay.
Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn MSB yêu cầu khách hàng gửi hồ sơ
cần thiết và quy định về hồi sơ nó tuỳ thuộc vào từng đối tượng khách hàng.
Như khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp thì hồ sơ gồm có:
- Hồ sơ khách hàng
- Hồ sơ cho vay.
Ví dụ: NH đồng ý cho Ông Minh vay 300 triệu với lãi suất 0,85%/1tháng
có tài sản thế chấp là một ngôi nhà trị giá 400 triệu.
* Hồ sơ khách hàng gồm có:
- Quyết định hoặc giấy phép thành lập
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư
- Giấy phép hành nghề của cơ quan quản lý chuyên môn
- Điều lệ hoạt động

được một trong bốn quyết định sau:
- Đồng ý cho vay, không kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay về nguyên tắc, có kèm theo điều kiện bổ sung hoặc
- Đồng ý cho vay và trình cấp trên trực tiếp (có lý do) hoặc
- Không đồng ý cho vay (có lý do).
Thời gian phê duyệt không quá hai ngày đối với cho vay ngắn hạn và 5
ngày đối với cho vay trung - dài hạn (tại chi nhánh). Phê duyệt có kết quả thì
MSB phải thực hiện hông báo ngày bằng văn bản cho khách hàng để triển khai
thực hiện.
Nếu được vay thì khách hàng và ngân hàng phải đàm phán ký kết hợp
đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (để đảm bảo tính pháp lý trước các
cơ quan pháp luật, hợp đồng tín dụng phải được ký trên văn bản đã được soạn
thảo toàn bộ bằng máy ính theo mẫu quy định). Rồi thông báo cho cơ quan quản
lý về tài sản đảm bảo tiền vay. Sau đó thì ngân hàng mở một hồ sơ khách hàng
vì mỗi một khách hàng vay đều được MSB quản lý bằng việc mở duy nhất một
"Một hồ sơ khách hàng vay" để cập nhậtt văn bản và thông tin liên quan đến
khách hàng vay. Các khoản vay của từng khách hàng vay được quản lý riêng
biệt bằng "Hồ sơ nghiệp vụ" nằm trong "Hồ sơ khách hàng vay" và được quản
lý đồng thời bằng văn bản và tệp tính trong thời gian thực hiện khoản vay.
Sau khi hoàn thiện thủ tục cho vay và căn cứ vào yêu cầu của khách
hàng. MSB thực hiện giải ngân cho khách hàng như sau:
- MSB hướng dẫn khách hàng làm thủ tục rút tiền vay: Giấy vay tiền
khách hàng phải lập 3 liên theo quy định.
+ Một liên do cán bộ tín dụng giữ
+ Một liên do khách hàng giữ để theo dõi trả nợ
+ Một liên do kế toán cho vay giữ để theo dõi viẹc thu hồi nợ.
- Kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay: MSB thực hiện kiểm tra lại mục


- Tờ trình xử lý khoản vay
- Các báo cáo tình hình thực hiện khoản vay.
- Các quy định hiện hành của MSB, Nhà nước và thông tin khác.
b. Phê duyệt: Cấp thẩm quyền cho vay phê duyệt ngay trên "Tờ trình xử
lý khoản vay" đối với khoản cho vay không thông qua Hội đồng tín dụng; hoặc
Hội đồng tín dụng quyết nghị phê duyệtt bằng văn bản.
Đối với khoản cho vay do Hội đồng tín dụng quản lý phê duyệt, trừ
trường hợp khẩn cấp phải xử lý ngay để đảm bảo an toàn vốn cho MSB.
4 - Thông báo triển khai thực hiện: Sau khi có kết quả phê duyệt xử lý
khoản vay của cấp thẩm quyền hoặc của Hội đồng tín dụng, MSB phải tthh
thông báo văn bản cho khách hàng hoặc cho chi nhánh MSB để triển khai thực
hiện.
5 - Cập nhật vào hồ sơ nghiệp vụ (bằng văn bản và phân hệ "Quản lý cho
vay" trên máy tính) những văn bản phát sinh và thông tin đã được phê duyệt.
2. Quy trình kế toán.
* Các thể thức thanh toán.
UNC là lệnh viết của chủ tài khoản yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình
trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình chuyển vào tài khoản được
hưởng, để thanh toán tiền mau bán, cung ứng hàng hoá, dịch vụ UNC được áp
dụng để thanh toán cho người được hưởng có tài khoản ở cùng ngân hàng, khác
hệ hống ngân hàng, khác tỉnh.
Ví dụ: Đơn vị Bình Minh có TKTG tại Ngân hàng Hàng Hải, phát hành
1 UNC thanh toán cho đơn vị Hoa Ban có TKTG tại Ngân hàng Hàng Hải số
tiền là 100 triệu đồng.
Quy trình: Đơn vị Bình Minh mang 3 liên UNC ra Ngân hàng, Ngân
hàng nhận được UNC của khách hàng đối chiếu chữ ký, con dấu, số tài khoản,
đã đăng ký với Ngân hàng đã chính xác chưa, kiểm tra số dư có đủ số tiền để
thanh toán không, nếu kiểm tra tất cả điều kiện trên mà đạt được các yêu cầu
trên thì kế toán ngân hàng tiến hành thanh toán.

Đơn vị Thu Hiền lập bảng kê nộp séc kèm theo cả séc và nộp cho Ngân
hàng Đầu tư. Ngân hàng Đầu tư giao cho Ngân hàng Hàng Hải nhận được tờ
séc ngân hàng kiểm tra các yếu tố trên tờ séc, yêu cầu trả cho, số CMT, Địa chỉ,
số tài khoản, kiểm tra số dư tài khoản khách hàng có đủ tiền không nếu thấy đầy
đủ hợp lệ các yếu tố trên thì Ngân hàng tiến hành thanh toán.
Nợ TK Lan Anh 10.000T
Có TK liên quan 10.000T
Dùng séc để hạch toán lưu chứng từ.
1 liên bảng kê báo nợ cho khách hàng
2 liên giao cho khách hàng bên kia nhận được.
1 liên ghi có 1 liên báo có.
Nợ cho TK liên quan 10.000T
Có cho TK khách hàng 10.000T
Nhận xét:
* Ưu điểm:
Chi nhánh MSBHN đã hoàn thành kế hoạch huy động vốn của trung tâm
giao trong 2 năm gần đây (2000-2001). Đặc biệt trong hai năm này, cơ cấu
nguồn vốn của chi nhánh có sự thay đổi lớn, từ chỗ chi nhánh chỉ huy động tiền
gửi ngắn hạn của các tổ chức kinh tế, chi nhánh đã khai thác được nguồn vốn
trung hạn của tổ chức kinh tế, đạt 46.769,5 triệu VND năm 2000, tăng lên
101,625 VNĐ năm 2001. Đồng thời chi nhánh cũng tăng được nguồn vốn huy
động từ ngoại tệ lên.
Mặt khác, chi nhánh đã bắt đầu có thêm được nguồn uỷ thác đầu tư và
nguồn huy động từ các tổ chức tín dụng khác.
Từ đồng vốn huy động được bằng VNĐ đạt khá, nên chi nhánh kịp thời
hỗ trợ vốn cho trụ sở chính để cân đối vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu về nguồn
vốn kinh doanh và thanh toán của chi nhánh, đồng thời chi nhánh còn tăng số

Vốn huy động dài hạn của chi nhánh chỉ chiếm một tỷ trong nhỏ, không
đáp ứng được nhu cầu cho vay dài hạn, phải sử dụng vốn ngắn hạn cho vay
trung và dài hạn. Dẫn đến việc chi nhánh không đảm bảo được chỉ tiêu chuyển
hoàn vốn của NHNN.
Thứ ba: Là về dịch vụ thanh toán: Để phục vụ việc sử dụng tài khoản
hiện nay chi nhánh cung cấp cho khách hàng các phương thức chuyển tiền,
chuyển tiền nước ngoài được thực hiện thông qua mạng SWIFT chuyển tiền
trong nước được chi nhánh chuyển qua hệ thống liên Ngân hàng. Tuy hoạt động
chuyển tiền của chi nhánh thu được kết quả như trên nhưng hoạt động này vẫn
chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng thể hiện.
Mạng lưới phục vụ khách hàng: Tại Hà Nội, chi nhánh chỉ hoạt động tại
44 Nguyễn Du ngoài ra không có phòng giao dịch nào khác.
Chính vì vậy khi muốn giao dịch thanh toán chuyển tiền, khách hàng
phải đến 44 Nguyễn Du, do đó khách hàng sẽ thấy bất tiện, điều này sẽ làm
giảm số lượng khách hàng đến với Ngân hàng.
+ Phương thức phục vụ, phương châm của các Ngân hàng là phục vụ
khách hàng tận tình: Khi khách hàng có nhu cầu thanh toán ở bất ký đâu tại thời
điểm nào …. Ngân hàng có thể thực hiện ngay cho khách hàng. Mà hiện nay chi
nhánh chỉ áp dụng dịch vụ thanh toán tại cơ sở khách hàng cho các khách hàng
quen, có uy tín với Ngân hàng.
Vì vậy, trong thời gian tới chi nhánh nên mở rộng các hình thức thanh
toán.
Như vậy với ưu và nhược điểm như trên, chi nhánh cần phải tìm ra biện
pháp để duy trì các điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu của Ngân hàng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status