TIỂU LUẬN: Lợi nhuận và chế độ phân phối lợi nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất - Pdf 11



TIỂU LUẬN:

Lợi nhuận và chế độ phân phối lợi
nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp
Thống Nhất

lời mở đầu Trong những năm qua thực hiên đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ,vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN ,nền kinh tế nước
ta đã có sự biến đổi sâu sắc và phát triển mạnh mẽ .Tất cả các hạt động kinh doanh của
doanh nghiệp phải thoả mãn nhu cầu của thị trường và thu về một khoản lợi nhuận cho
mình
Thu lợi nhuận tối đa là cái đích mà doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển,trong điều kiện mới hiện nay phải hướng tới .Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng
tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Qua đó
cho biết việc thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận có hiệu quả hay không và nó có
phải là động lực kích thích vươn lên trong cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp hay
không.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng đó em đã chọn đề tài:”Lợi nhuận
và chế độ phân phối lợi nhuận tại Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất”, để nghiên
cứu, phân tích , tìm hiểu đồng thời bổ sung thêm kiến thức và sự hiểu biết về mặt lý
Phần I.
Tổng quan về lợi nhuân và chế độ phân phối lợi nhuân của doanh nghiệp trong
điều kiện hiện nay
I/Lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận
1.Lợi nhuận của doanh nghiệp
1.1Khái niệm lợi nhuận
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập với mục đích chủ yếu là thực
hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ với
nhiều hình thức sở hữu khác nhau : doanh nghiệp nhà nước , công ty cổ phần , công ty
trách nhiêm hữu hạn …
Và một đòi hỏi có tính tất yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường là doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải thu được lợi nhuận tức là
đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp cho thấy lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu nhập
và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh đem lại

tình hình thực hiện chế độ tài chính , việc quản lý lao động vật tư , tiền vốn có được
tiết kiệm hay không đều được phản ánh ở kết quả cuối cùng trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh ngiệp đó là lợi nhuận . Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến hoạt
động sản xuất kinh doanh để tiêt kiệm chi phí từ khâu cung ứng vật tư đến khâu chế
biến thành phẩm và đem tiêu thụ sao cho giá thành càng thấp hơn giá bán thì doanh
nghiệp càng thu dược nhiều lợi nhuận và ngược lại
Tuy nhiên cần lưu ý không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chất
lượng hoạt động sản xuất kinh doanh và càng không thể dùng nó để so sánh chất lượng
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiêp khác vì : Lợi nhuận là kết quả tài
chính cuối cùng ,nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố ,có những nhân tố thuộc về chủ
quan ,có những nhân tố khách quan và có sự bù trừ lẫn nhau .Do điều kiện sản xuất
kinh doanh ,điều kiện vận chuyển ,thị trường tiêu thụ ,thời điểm tiêu thụ khác nhau
thường làm cho số lợi nhuận giữa các doanh nghiệp cũng không giống nhau. Các
doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được sẽ khác
nhau .ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu
được còn có thể lớn hơn những doanh nghiệp quy mô nhỏ nhưng công tác quản lý lại
tốt hơn .Vì thế để đánh giá ,so sánh chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp thì
ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối còn phải dùng chỉ tiêu tương đối là tỉ suất lợi nhuận
hay còn gọi là mức doanh lợi
2.Tỷ suất lợi nhuận
Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận ,mỗi cách có nội dung kinh tế khác nhau
.Dưới đây là một số cách tính tỷ suất lợi nhuận
2.1.Tỷ suất lợi nhuận vốn (doanh lợi vốn):Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được
với số vốn bình quân sử dụng trong kỳ (gồm có :vốn cố định và vốn lưu động hoặc
vốn sở hữu )

P
Công thức tính: T
sv
=  100

=
 100

Công thức: T
SG
=


Trong đó : T
SG
: tỷ suất lợi nhuận giá thành
P : lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ
Z
T
: giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
Thông qua tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả chi phí bỏ vào sản
suất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ.
2.3 / Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng: là một chỉ số tổng hợp phản ánh kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
P
Công thức : T
ST
=  100
T
Trong đó : T
ST
: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng


Lợi nhuận Doanh thu Chi phí Thuế gián
hoạt động = hoạt động - hoạt động - thu
tài chính(b) tài chính tai chính

Đối với các hoạt động không thường xuyên khác thì lợi nhuận được xác định như
sau :

Lợi nhuận Doanh thu Chi phí
bất thường(c) = bất thường - bất thường

Sau khi đã xác định được lợi nhuận từ các hoạt động ,ta tiến hành tổng hợp lại được
lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp như sau.

Lợi nhuận trước Lợi nhuận từ Lợi nhuận Lợi nhuận
thuế thu nhập = hoạt động + hoạt động + bất thường(c)
doanh nghiệp kinh doanh (a) tài chính(b)

Cách xác định lợi nhuận như trên là đơn giản ,dễ tính ,do đó nó được áp dụng rộng
rãi trong các doanh nghiệp .Tuy vậy đối với các doanh nghiệp sản xuất nhiều mặt hàng
thì khối lượng công viêc tính toán sẽ rất lớn
4 Vai trò của lợi nhuận.
Lợi nhuận là thước đo , là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh .Qua chỉ tiêu lợi nhuận cho phép đánh giá chất lượng hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ khâu cung cấp , sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
và thanh toán , biểu hiện cụ thể là: trình độ tổ chức và quản lý lao động , trình độ tổ
chức và quản lý vốn cố định và vốn lưu động.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn cố dịnh và vốn
lưu động , tạo điêu kiện mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh .Bởi vì có lợi nhuận
thì mới có thể trích lập vào các quỹ của doanh nghiệp.Và cũng từ các quỹ của doanh

doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, đứng vững và phát triển
trong cơ chế thị trường .Tuy nhiên lợi nhuận có trở thành mục tiêu ,động lực của
donah nghiệp hay không còn phụ thuộc vào chính sách phân phối thu nhập của nhà
nước .Chính sách phân phối thu nhập là một chính sách tài chính quan trọng ,nó giải
quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế của nhà nước ,chủ sở hữu và người lao động trong
việc phân phối kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp .Chính vì vậy việc phân phối
kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định chung trong
chế độ phân phối thu nhập của nhà nước ban hành .Tuỳ theo từng thành phần kinh tế
và tuỳ theo cơ chế tài chính từng thời kỳ ,mà kết quả tài chính của doanh nghiệp có thể
được phân phối là khác nhau và tỉ lệ cho các phần là khác nhau.
Nhưng nhìn chung lợi nhuận của doanh nghiệp đươc phân phối như sau
- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
- Chia cho các chủ đầu tư
- Trả các khoản chi phí không được tính vào chi phí hợp lệ khi xác định thu nhập
chịu thuế
Số còn lại được dùng để trích lập các quỹ của doanh nghiệp như : quỹ đầu tư phát
triển ,quỹ dự phòng tài chính ,quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
Lợi nhuận của doanh nghiệp được tính toán và xác định vào cuối kỳ hach toán
(tháng ,quý) ,nhưng chỉ đươc xác định chính xác khi quyết toán đươc duyệt .Do vậy để
đảm bảo nguồn thu ổn định của ngân sách nhà nước và đảm bảo kịp thời sử dụng các
nguồn thu cho mục đích trong năm ,khi quyết toán này được duyệt sẽ xác định chính
xác số được phân bổ cho các mục đích .Nêú số tạm phân phối trong năm nhỏ hơn số
chính thức được phân phối ,doanh nghiệp sẽ tiến hành phân phối thêm.Nếu số tạm
phân phối trong năm lớn hơn số được chia chính thức ,doanh nghiệp tiến hành điều
chỉnh lại trên sổ kế toán .
2.Nội dung của việc thục hiện chế độ phân phối lơi nhuận ở doanh nghiệp.
Theo thông tư số 64/1999/TT- BTC này 07/06/1999 hướng dẫn chế độ phân phối lợi
nhuận sau thuế và quản lý các quỹ trong các doanh nghiệp nhà nước sau khi kết
chuyển lỗ theo điều 22 của luật thuế thu nhập doanh nghiệp và nộp thuế theo luật định
,lợi nhuận sau thuế được phân phối như sau:

vào mỗi quỹ.
2.8 Sau khi trích đủ quỹ khen thưởng ,quỹ phúc lợi theo mức quy định trên thì bổ sung
toàn bộ số lợi nhuận còn lại vào quỹ đầu tư phát triển.
2.9 Thủ tục và tục điểm trích lập các quỹ .
- Trên cơ sở báo cáo tài chính hàng quý về số lợi nhuận thực hiện ,doanh nghiệp kê
khai và nộp thuế theo luật định , lợi nhuận còn lại được tạm trích vào các quỹ nói trên
nhưng số tạm trích vào các quỹ không được vượt quá 70% tổng số lợi nhuận sau thuế
của quỹ đó.
-Sau khi công bố công khai bâ\áo cáo tài chính năm theo hưóng dẫn của Bộ Tài
Chính ,doanh nghiệp được phân phối toàn bộ số lợi nhuận sau thuế của cả năm theo
quy định của thông tư .

Sơ đồ tóm tắt nội dung phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.

ho
ạt
Lợi
nhuận

ho
ạt
Nộp
thuế

thu
Lợi
nhuận

(l
ợi
Nộp
tiền
thu sử
dụng
vốn
ngân
Trả
các
khoả
n
tiền
b
ị phần II .thực trạng lợi nhuận và tình hình thực hiện chế độ phân phối lợi nhuận
tại công ty xe máy -xe đạp thống nhất

I/Giới thiệu khái quát về công ty xe máy xe đạp Thống Nhất .
1. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển.
Công ty xe máy -xe đạp Thống Nhất (Thống Nhất motorcycle-bicycle company)có
địa điểm đặt tại 198B-Tây Sơn-Đống Đa-Hà Nội(địa chỉ mới số2 Thái Hà-Hà Nội).
Đây là một công ty chuyên sản xuất xe đạp với công nghệ sản xuất gần như khép
kín từ việc chế tạo phụ tùng chi tiết đến lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh .Bên cạnh đó
cũng có một số chi tiết sản phẩm mua của các đơn vị thành viên trong Liên hiệp xe
máy -xe đạp Hà Nội về để lắp ráp thành xe đạp hoàn chỉnh như : săm ,lốp, nan hoa
Năm 2001 công ty sản xuất và tiêu thụ gần 60000 chiếc xe đạp với nhiều kiểu dáng
và màu sắc khác nhau .Là một công ty có quy mô vừa ,trực thuộc Liên hiệp Xí nghiệp
xe máy xe đạp Hà Nội (LIXEHA) gồm có 13 xí nghiệp thành viên.
Công ty xe máy- xe đạp Thống Nhất trước đây có tên gọi là xí nghiệp xe đạp Thống
Nhất được thành lập tháng 6 năm 1960 trực thuộc bộ Cơ Khí và Luyện kim. Tiền thân
của xí nghiệp là hãng xe đạp Dân Sinh của tập đoàn sản xuất xe đạp Sài Gòn. Trong
quá trình phát triển của mình, xe đạp Thống Nhất đã trải qua nhiều thăng trầm biến
đổi, có thời kỳ xe đạp Thống Nhất là biểu tượng của chất lượng xe đạp Việt Nam
nhưng cũng có thời kỳ nhãn hiệu xe đạp Thống Nhất bị lãng quên. Cùng với sự phát
triển của nền kinh tế, sau 18 năm hoạt động ( 1960-2978) xí nghiệp xe đạp Thống Nhất
tách khỏi bộ Cơ khí và Luyện kim về trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nôi, nằm trong
liên hiệp xí nghiệp xe đạp. Xí nghiệp xe đạp Thống Nhất cùng với các xí nghiệp thành
viên khác trong liên hiệp hạch toán nội bộ, không có tư cách pháp nhân. Năm 1981
UBND thành phố Hà Nội đã quyết định thành lập liên hiệp các xí nghiệp xe đạp nhằm
quản lý các xí nghiệp xe đạp và phụ tùng xe đạp độc lập trong đó có xí nghiệp xe đạp

thu
25.416.242 28.151.851 2.735.609 111%
2. Tổng chi phí 27.760.338 31.753.570 3.993.232 114%
+ CPSX 25.102.900 28.093.700 2.990.800 112%
+CPBH và
CPQLDN
2.657.438 3.659.870 1.002.432 138%
3.Tổng lợi nhuận 504.134 150.175 - 353.959 30%
4.Nộp ngân sách
nhà nước
1217.344 553.511 - 663.833 45%
5.Thu nhập bình
quân
1.141 1.187 46 104%

Tổng doanh thu năm 2000 tăng 11% so với tổng doanh thu năm 1999 ,điều đó chứng
tỏ năm 2000công ty hoạt động có hiệu qua hơn. Tuy nhiên tổng lợi nhuận của công ty
lại giảm sút mạnh so với năm 1999, nguyên nhân là do tổng chi phí của công ty năm
2000 tăng hơn so vưói năm 1999 khoảng 14%, đặc biệt là chi phí bấn hàng và chi phí
quản lý doanh nghiệp tăng 38%, đây chính là một hạn chế của công ty. Bên cạnh đó
đời sống của cán bộ cong nhân viên trong ty cũng đã được cải thiện ,thể hiện ở thu
nhập bình quân của người lao động tăng.
2.Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và bộ máy quản lý ở Công ty xe máy -xe
đạp Thống Nhất.
2.1.Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Công ty xe máy -xe dạp Thống Nhất là một đơn vị sản xuất hàng tiêu dùng.Tổ chức
sản xuất gồm có 6 phân xưởng sản xuất, trong đó có 5 phân xưởng sản xuất chính và
một phân xưởng sản xuất phụ. Mỗi phân xưởng có chức năng , nhiệm vụ khác nhau,
phối hợp với nhau trong việc tạo xe đạp thành phẩm. Nhiệm vụ chính của từng phân
xưởng như sau: Sơ đồ :Quy trình công nghệ của công ty 2.2.Đặc điểm bộ máy quản lý:
Sau quá trình nghiên cứu và cải tiến bộ máy quản lý, đến nay công ty tổ chức bộ
máy quản lý theo hệ trực tuyến gồm 5 phòng và 1 ban. Chức năng và nhiệm vụ của các
phòng ban như sau:
- Phòng tài vụ :Làm nhiệm vụ kế toán ,có chức năng thu thập ,xử lý và cung cấp thông
tin kinh tế phục vụ cho công tác quản lý ,kiểm tra tình hình sử dụng vật tư ,lao động
,tài sản cố định ,tiền vốn và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
-Phòng tổ chức lao động và tiiền lương :Có nhiệm vụ tổ chức ,quản lý lao động, giải
quyết chế độ lao động như: điều lệ ,tuyển dụng lao động ,hưư trí ,bảo vệ lao động ,tiền
lương; tham mưu cho ban giấm đốc công ty trong việc xây dựng phương án thanh toán
tiền lương,xây dựng dịnh mức lao động

n v
ật
-Phòng kinh doanh :Làm nhiệm vụ cung ứng vật tư ,thanh toán, quyết toán vật tư ,giao
dịch tiêu thụ sản phẩm và lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
-Ban thiết kế cơ bản: Theo dõi ,lập dự toán các công trình mới và sửa chữa.
Trong đó ,ban lãnh đạo công ty gồm :
+ Đứng đầu là giám đốc công ty phụ trách mọi mặt của công ty và chịu thách nhiệm
trước nhà nước và cấp trên về hoạt động của công ty. Giúp việc cho giám đốc là 2 phó
giám đốc.
+ Một phó giám đốc kỹ thuật : Thay mặt giám đốc quản lý bộ phận sản xuất ,sáng
kiến cải tiến kỹ thuật ,an toàn lao động.
+Một phó giám đốc kinh doanh ;Thay mặt giám đốc quả lý kinh doanh ,mua ban vật
tư ,hàng hoá ,lên ké hoạch sản xuất
Quản lý và chịu trách nhiệm với giám đốc ở các phòng ban là các trưởng phòng
,trưởng ban. Còn chịu trách nhiệm quản lý ở khâu sản xuất tại các phân xưởng là các
quản đốc phân xưởng.

Sơ đồ bộ máy quản lý và sản xuất của Công ty xe máy -xe đạp Thống Nhất

g
hành
Phòng
KD
t
ổng
PX

d
ụng

PX
khun
g

PX
sơn
PX
lin
h
PX
mạ
PX
lắp
ráp
-Một kế toán ngân hàng ,tiền lương và các khoản trích theo lương:Có nhiệm vụ giao
dịch với các ngân hàng để theo dõi về các khoản thanh toán với người bán, vưới khách
hàng và các khoản vay qua ngân hàng. Bên cạnh đó còn làm nhiệm vụ tổng hợp số liệu
từ cácphân xưởng, phòng ban gửi lên, phối hợp với các bộ phận khác để tính toán và
thanh toán lương, phụ cấp lương cho CBCNV, trích BHXH, BHYT, KPCĐ theo chế
độ quy định.
- Một kế toán tiêu thụ :Có nhiệm vụ hạch toán chi tiết và tổng hợp kết quả tiêu thụ
thành phẩm và kết qủa hoạt động dịch vụ ,giám sát việc chấp hành quy định N-X-T
tiêu thụ thành phẩm, đôn đốc việc kiểm tra, thanh toán kịp thời ,theo dõi các khoản
phải thu,phải trả khách hàng và tiến hành thanh toán công nợ với khách hàng.
- Một kế toán thanh toán với nhà cung cấp: Có nhiệm vụ theo dõi các khoản thu chi
tiền mặt , thanh toán công nợ đối với nhà cung cấp và ngân sách nhà nước.
- Một thủ quỹ: Có nhiệm vụ cùng với kế toán thanh toán,kế toán tiêu thụ ,kế toán
ngân hàng tiến hành thu chi tiiền mặt, theo dõi các khoản thu chi tồn quỹ tiền mặt tai
đơn vị.
Mỗi bộ phận , mỗi kế toán có nhiệm vụ riêng song giữa họ lại có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình.

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của công ty như sau.
Kế
toán
tiêu
Kế
toán
thành
Thủ
quỹ

Hình thức ghi sổ nhật ký chứng từ
tài
Bảng cân đối kế
toán và các báo
Sổ
qu


1. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Cơ chế thị trường cùng với nó là liên kết và hoà nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ
đã đem lại cho nền kinh tế nhiều thời cơ, vận hội mới nhưng cũng có nhiều thách thức
. Trong bối cảnh chung áy , những năm qua công ty đã có nhiều cố gắng vươn lên
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, biết phát triển và khai thác khả năng
sản xuất phù hợp với đặc điểm và thế mạnh riêng của công ty , đảm bảo sản xuất kinh
doanh đạt hiêu quả cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status