TIỂU LUẬN:
Một số ý kiến nhằm mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của công ty
Vật tư Nông sản Hà Nội
Lời nói đầu
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đầy năng động cùng với sự cạnh tranh khốc
liệt hiện nay, việc dành đựoc thị trường tiêu thụ ngày càng lớn là mục tiêu phấn đấu của
hầu hết các doanh nghiệp. Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội cũng không nằm ngoài số
đó. Bởi doanh nghiệp có dành được thị trường tiêu thụ thì mới có được cơ hội tìm kiếm
lợi nhuận và sự tăng trưởng. Đối với mặt hàng vật tư nông sản đặc biệt là mặt hàng phân
bón cũng vậy.
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 78% số dân sống bằng nghề nông thì thị
trường hàng vật tư nông sản thật rộng lớn và phong phú. Tuy nhiên để khai thác và phát
triển thị trường tiêu thụ mặt hàng vật tư nông sản đặc biệt là hàng phân bón trong nước
lại không phải là điều dễ dàng đối với các doanh nghiệp nói chung và công tư Vật tư
Nông sản nói riêng.
Từ nhận thức trên, với mong muốn sử dụng kiến thức đã học trên ghế nhà trường và
* Theo quan điểm của Marketing: Thị trường là tập hợp những người mua hàng
hiện có và sẽ có.
Thị trường là một phạm trù riêng của nền sản xuất hàng hóa. Hoạt động cơ bản
của thị trường được thông qua ba nhân tố có mối quan hệ hữu cơ hay mật thiết với nhau
bao gồm: Nhu cầu, cung ứng và giá cả của hàng hóa và dịch vụ. Các quyết định của các
gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào; các quyết định của các công ty về sản xuất cho ai,
sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào; các quyết định của người công nhân về việc
làm, làm cho ai và làm trong bao lâu đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả.
Tựu chung ta thấy mọi khái niệm về thị trường đều đề cập tới mối quan hệ giữa
người mua và người bán. Các mối quan hệ này được biểu hiện một cách khác nhau giữa
các khái niệm. Ta có thể xem xét kỹ vấn đề qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Quan niệm về hệ thống thị trường hiện đại.
Các nguồn tài nguyên Nguồn lao động Tiền Tiền
Thuế Tiền
Dịch vụ Thuế
Thuế Dịch vụ
Tiền Thuế
Tiền Tiền
của mình ra thị trường với mong muốn là bán được nhiều sản phẩm nhằm thu được
nhiều lợi nhuận. Người tiêu dùng đến thị trường để mua hàng hóa đúng công dụng,
hợp thị hiếu với mức giá phải chăng mà người tiêu dùng có thể chấp nhận được. Đôi
bên thuận mua vừa bán là dấu hiệu cho thấy thị trường đã thực hiện chức năng thừa
nhận.
Chức năng thực hiện: Khi hàng hóa đã được thừa nhận trên thị trường
cũng có nghĩa là nó đã thực hiện hành vi mua bán, trao đổi giá trị và cũng chính là
chức năng thực hiện của thị trường. Nơi đâu có nhu cầu về hàng hóa dịch vụ ở đó tất
yếu sẽ có sự cung cấp hàng hóa dịch vụ.
Chức năng điều tiết: Thông qua việc nghiên cứu nắm bắt nhu cầu của thị
trường doanh nghiệp sẽ từng bước tự cải tiến sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của
người tiêu dùng và thu được nhiều lợi nhuận. Thị trường điều tiết hàng hóa dịch vụ
từ nơi bão hoà đến nơi khan hiếm đúng thời điểm; đúng số lượng, chất lượng bằng
các công cụ như giá cả, cung, cầu. Thị trường cũng khuyến khích doanh nghiệp cải
tiến sản phẩm theo hướng nâng cao chất lượng, giảm chi phí.
Chức năng thông tin: Chức năng này thể hiện ở chỗ nó chỉ ra cho nhà sản
xuất biết nên sản xuất cho ai?, sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, với khối
lượng bao nhiêu?, nên tung ra thị trường vào thời điểm nào?… Thị trường chỉ cho
người tiêu dùng thấy nên mua hàng hóa dịch vụ gì?, ở đâu?, hay hàng hóa thay thế
nào phù hợp với khả năng thu nhập của họ…
Xuất phát từ các chức năng trên thị trường thể hiện các vai trò cơ bản sau:
* Thị trường là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp:
Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì sản phẩm hàng hóa dịch vụ của
doanh nghiệp sản xuất ra phải được thị trường chấp nhận và thu được lợi nhuận. Do đó
công tác nghiên cứu tìm hiểu thị trường tiêu thụ sản phẩm, nắm vững các quy luật của
thị trường rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.
* Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh:
Doanh nghiệp dựa vào thị trường để đề ra các chiến lược sản xuất kinh doanh
của mình. Thông qua thị trường doanh nghiệp sẽ biết mình nên sản xuất cái gì?, sản
nhà kinh doanh đang phải đứng trước những thách thức trong việc nắm bắt và thích ứng
với trào lưu của thời đại. Bất cứ nhà doanh nghiệp nào cũng có thể bị bỏ lại sau cỗ máy
vận hành của nền kinh tế thị trường nếu không nhanh chóng theo kịp cỗ máy này.
Sự thành công sẽ đến với những doanh nghiệp nào năng động am hiểu thị
trường, biết tận dụng thời cơ triệt để nhanh chân chiếm lĩnh thị trường. Xu thế luôn phát
triển là điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Khai
thác thị trường theo chiều sâu và mở rộng là nhiệm vụ thường xuyên liên tục của một
doanh nghiệp kinh doanh.
Phát triển và mở rộng thị trường giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ
sản phẩm, khai thác triệt để tiềm năng của thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vai trò của doanh nghiệp trên thương trường.
2. Vai trò của công tác mở rộng tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp .
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là
yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, với mục đích đưa sản phẩm
từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng. Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian
giữa sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Trong quá trình tuần hoàn các nguồn vật chất,
việc mua và bán các sản phẩm của doanh nghiệp được thực hiện, giữa hai khâu này có
sự khác nhau quyết định tới bản chất của hoạt động thương mại đầu vào và đầu ra của
doanh nghệp. Thực tiễn cho thấy quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện
bằng các hình thức khác nhau qua các thời kỳ.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu
bằng mệnh lệnh. Ba vấn đề trung tâm: Sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? Sản xuất như
thế nào? đều do nhà nước quyết định do đó công tác tiêu thụ sản phẩm chỉ là việc tổ
chức bán sản phẩm hàng hoá theo kế hoạch và giá cả được ấn định từ trước.
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường có vị trí trung tâm vừa là mục tiêu, vừa
là môi trường kinh doanh. Các doanh nghiệp tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm
nên công tác tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc
nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực
hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng…nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
của những đối thủ đó.
- Nghiên cứu môi trường luật pháp và chính trị của khu vực thị trường mà
doanh nghiệp sẽ tham gia. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu các nhân tố
khác trong mối liên quan tác động qua lại lẫn nhau để từ đó thoả mãn tốt các nhu cầu
của khách hàng tiềm năng.
Chiến lược thâm nhập thị trường sẽ được các doanh nghiệp lựa chọn trong các
trường hợp sau:
- Khi khả năng tiêu thụ sản phẩm hiện tại trên thị trường truyền thống của
doanh nghiệp có xu hướng giảm. Do vậy các doanh nghiệp phải thâm nhập vào các
khu vực hoặc thị trường mới ít phát triển hơn và có nhu cầu về sản phẩm của doanh
nghiệp.
- Khi sản phẩm của doanh nghiệp bước vào pha bão hoà hoặc suy thoái của
chu kỳ sống sản phẩm dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn.
- Khi doanh nghiệp gặp thời cơ có thể kinh doanh được.
c. Phát triển sản phẩm.
Là việc doanh nghiệp đưa các sản phẩm mới vào bán trong các thị trường hiện
tại của doanh nghiệp. Đây là biện pháp cơ bản mà các doanh nghiệp áp dụng trong quá
trình kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các điều kiện để phát triển sản phẩm
như : điều kiện kỹ thuật, tổ chức, nguồn vốn dành cho việc nghiên cứu sản phẩm mới.
Với chiến lược này doanh nghiệp có thể sử dụng hệ thống phân phối và bán hàng hiện
có của mình. Việc làm này đảm bảo doanh nghiệp củng cố vị trí của mình trên thị
trường truyền thống bằng việc cung ứng những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị
trường và cạnh tranh.
d.Đa dạng hoá.
Doanh nghiệp đưa ra các sản phẩm mới vào bán trong các thị trường mới. Đây là
chiến lược có nhiều sự mạo hiểm, rủi ro. Bởi doanh nghiệp chưa xác định đầy đủ và
toàn diện những yêu cầu của khách hàng trên thị trường mới, hệ thống phân phối và
việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ trên thị trường đó. Ngoài ra việc đa dạng hóa sản
*Phương pháp dung hòa:
Phương pháp này thực chất là sự thoả thuận ngầm phân chia thị trường giữa các
bên. Thường xảy ra trong trường hợp các bên có tiềm năng tương đương nhau do đó
việc thương lượng là phương án tốt nhất cho các bên. Mặt khác “Biến thù thành bạn” là
phương châm cạnh tranh khôn khéo trên thương trường.
*Phương pháp khử bỏ:
Đây là phương pháp cứng rắn, cạnh tranh khốc liệt “Một mất một còn” bao gồm
nhiều hình thức khác nhau như: bán phá giá, chạy đua khoa học kỹ thuật, chất lượng…
*Phương pháp né tránh:
Trong trường hợp doanh nghiệp là đối thủ yếu, doanh nghiệp nên tránh đối đầu
trực tiếp với đối thủ cạnh tranh nhằm bảo toàn lực lượng. Doanh nghiệp có thể chọn:
- Lựa chọn thị trường mới đó là thị trường đã có song chưa được thoả mãn
và thị trường này do doanh nghiệp tạo nên.
- Tìm ra những thị trường lớn để kinh doanh và có quy mô phù hợp với
năng lực sản xuất và tổ chức của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai.
- Nhanh chóng phân biệt các nhu cầu khác nhau trên thị trường.
Tóm lại, mỗi chiến lược hay phương pháp cạnh tranh nào dù hay đến đâu cũng
chưa chắc đã là lời giải cho bài toán tổng quát toàn bộ thị trường, mà nó phỉ phát huy
hiệu quả với từng doanh nghiệp.
c.Đối với bản thân doanh nghiệp.
Khách hàng và đối thủ cạnh tranh là những đối tượng cần quan tâm nghiên cứu
của doanh nghiệp. Muốn làm tốt được điều đó doanh nghiệp trước tiên cần củng cố sự
vững chắc và niềm tin trong nội bộ doanh nghiệp, cụ thể là:
* Nguồn nhân lực: Kinh doanh là hoạt động của con người. Kết quả kinh doanh
phụ thuộc vào nguồn lực và trách nhiệm của cả tập thể nhân viên trong toàn doanh
nghiệp. Cần xây dựng một nền văn hóa doanh nghiệp vững chắc tạo nền tảng cho sự
phát triển của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp cần quan tâm đến đời sống, lợi ích của
nhân viên. Thu hút nhân tài bằng uy tín và triển vọng của doanh nghiệp. Trọng dụng
những người có năng lực cân nhắc họ lên những vị trí quan trọng. Đào tạo nguồn nhân
- Mở rộng thị trường theo chiều sâu là việc doanh nghiệp tiến hành khai thác một
cách tốt hơn thị trường hiện có của doanh nghiệp bằng việc cải tiến hệ thống phân phối;
thực hiện các chính sách về sản phẩm, về giá, về dịch vụ bán hàng và sau bán hàng.
- Mở rộng thị trường theo chiều rộng là việc doanh nghiệp tiến hành thâm nhập
vào thị trường mới với sản phẩm hiện có hoặc sản phẩm mới.
c.Tổng doanh thu (TR):
Tổng doanh thu được tính bằng công thức sau:
Trong đó:
TR:tổng doanh thu
N: số thị trường mà doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm của mình.
M: số loại sản phẩm mà doanh nghiệp bán trên thị trường.
Pij: giá bán sản phẩm j trên thị trường i.
Qij: sản lượng sản phẩm j tiêu thụ trên thị trường i.
n
i
m
j1 1
.
P
ij
x Q
ij
TR
Tổng doanh thu là chỉ tiêu tổng quát nhất của công tác mở rộng thị trường. Vì
vậy, chỉ tiêu này chụi sự tác động của rất nhiều yếu tố như tỷ gia hối đoái, tỷ lệ lạm
phát…
d.Lợi nhuận:
sản phẩm.
3.Giá cả của sản phẩm.
Giá cả là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với sự ra
đời và phát triển của sản xuất hàng hoá. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng
hoá, đồng thời biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung cầu hàng hoá, tích luỹ
và tiêu dùng, cạnh tranh…Giá trị hàng hoá là giá trị thị trường, giá trị được thừa nhận
của người mua. Giá trị luôn quyết định giá cả thị trường, là nội dung, là bản chất của giá
cả. Ngược lại giá cả là hình thức, là hiện tượng của giá trị.
Hiện nay trên thị trường, ngoài cạnh tranh bằng giá cả, có các loại hình cạnh
tranh khác tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch vụ nhưng giá cả vẫn
có một vai trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu giá cả hàng hoá không
được người tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng luôn quan tâm đến giá cả và coi đó
như một chỉ dẫn về chất lượng hàng hoá và các chỉ tiêu khác của hàng hoá, do vậy xác
định một chính sách giá đúng có vai trò sống còn đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Đối với thị trường Việt Nam, thu nhập của dân cư chưa cao, yêu cầu về chất lượng và
chủng loại chưa cao nên cạnh tranh bằng chiến lược giá vẫn được coi là vũ khí lợi hại.
Khi định giá doanh nghiệp cần ý thức được rằng chính sách giá cả của mình phụ
thuộc vào hình thái thị trường. Theo các nhà kinh doanh có bốn kiểu hình thái thị trường
(cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh độc quyền tập đoàn, độc quyền
tuyệt đối), và mỗi kiểu có những vấn đề riêng về lĩnh vực hình thành giá cả.
Quy trình định giá tổng thể như sau:
- Chọn mục tiêu định giá.
- Phân định cầu thị trường.
- Lượng giá chi phí.
- Phân tích giá đối thủ cạnh tranh.
- Chọn kỹ thuật định giá thích hợp.
- Chọn giá cuối cùng của mặt hàng.
4.Thị hiếu người tiêu dùng.
Với quan diểm “ Bán những thứ mà người tiêu dùng cần chứ không bán những
Sơ đồ 2: chu kỳ sống của sản phẩm.
Doanh thu
O T1 T2 T3 T4 thời gian
Giai đoạn triển khai (OT1) có lượng bán thấp và tăng chậm do sản phẩm bắt đầu xuất
hiện nên lợi nhuận là không có hoặc rất ít do chi phí giới thiệu sản phẩm cao.
Giai đoạn tăng trưởng (T1T2) được đánh dấu bằng sự chấp nhận nhanh chóng của thị
trường và lợi nhuận tương đối cao.
Giai đoạn chín muồi (T2T3) được đặc trưng bởi một tỷ lệ tăng doanh số bán giảm
- Phòng kế hoạch kinh doanh.
- Trạm kinh doanh tổng hợp Ngọc Hồi.
- Trạm kinh doanh tổng hợp Văn Điển.
- Xưởng sản xuất bao bì Ngọc Hồi.
- Kho số 1 Văn Điển.
- Cửa hàng kinh doanh tổng hợp 61c trường chinh.
- Cửa hàng kinh doanh tổng hợp Cầu Giấy.
- Chi nhánh Bắc Giang.
- Trạm kinh doanh tổng hợp Hải Phòng.
- Tổ kinh doanh tại thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội hoạt động kinh doanh với tổng số vốn kinh
doanh ban đầu là 11085 triệu đồng và được phép kinh doanh các ngành nghề sau:
- Kinh doanh vật tư nông nghiệp, lương thực, thực phẩm chế biến nông sản
và vật liệu xây dựng.
- Sản xuất phân bón.
- Sản xuất các sản phẩm tiêu dùng từ chất dẻo (chủ yếu là bao bì).
- Đại lý tiêu thụ hàng hoá.
2. Vài nét khái quát về sản phẩm kinh doanh của công ty Vật tư nông sản Hà
Nội.
Công ty Vật tư nông sản Hà Nội là đơn vị thành viên hoạch toán độc lập của
Tổng công ty Vật tư nông nghiệp. Do đó hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là
mua bán sản phẩm phục vụ nông nghiệp với mặt hàng chủ đạo là phân bón, hàng nông
sản, sản xuất và tiêu thụ bao bì. Ngoài ra công ty còn kinh doanh thêm một số mặt hàng
khác trong phạm vi quyền hạn kinh doanh của mình nhàm tăng thêm thu nhập cho cán
bộ công nhân viên (CBCNV) như xi măng, hạt nhựa, bia, thuốc lá.
Sau đây là một số đặc điểm về mặt hàng phân bón công ty đang tiến hành kinh
doanh :
2.1.Hàng phân bón:
- Phân lân (hợp chất chứa P):Hiệu quả sử dụng phân lân ở đồng bằng sông
Năm
Nh
ững
đ
ặc
đi
ểm c
ơ b
ản
1997
- Tháng 5/1997 Công ty dịch vụ nông nghiệp sát nhập vào Công ty Vật tư Nông
sản trở thành Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội.
- Công ty hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực: Nhập khẩu và kinh doanh phân
bón, sản xuất và kinh doanh bao bì, xuất khẩu nông sản (gạo), kinh doanh tổng
hợp một số mặt hàng như xi măng, hạt nhựa, thuốc lá…
- Lương bình quân: 450.000 đ/người/tháng.
1998
- Duy trì kinh doanh tổng hợp: phân bón, kinh doanh gạo tẻ nội địa, sản xuất và
tiêu thụ bao bì.
- Lương bình quân: 626.000 đ/người/tháng.
1999
- Thực hiện nội dung phương án xếp hạng doanh nghiệp theo thông tư 17, yêu
cầu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Tổng công ty Vật tư Nông
nghiệp. Tập trung nhập khẩu và kinh doanh phân bón.
II.Thực trạng thị trường và kết quả kinh doanh của Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội.
1. Nguồn cung ứng của Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội.
Nguồn cung ứng sản phẩm chủ yếu của công ty gồm 3 nguồn:
- Nguồn tự sản xuất: Trước đây khi chưa sáp nhập với công ty Vật tư dịch vụ nông
nghiệp, Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội có một xưởng sản xuất phân bón vi sinh và sản
xuất bao bì ở Văn Điển. Nhưng sau một thời gian hoạt động công ty nhận thấy việc sản xuất
phân vi sinh không có hiệu quả do công ty gặp khó khăn trong kỹ thuật nuôi cấy môi trường
sống vi sinh vật, kinh phí hạn hẹp, máy móc thiết bị lạc hậu, thói quen tiêu dùng manh mún
của người nông dân…nên công ty đã cho xưởng sản xuất phân bón này ngừng hoạt động.
Công ty vẫn duy trì xưởng sản xuất bao bì Văn Điển đáp ứng nhu cầu đóng gói cho công ty
và cho thị trường bên ngoài.
- Nguồn cung ứng từ phía Tổng công ty Vật tư Nông nghiệp: Công ty Vật tư Nông sản
Hà Nội là đơn vị thành viên hoạch toán độc lập của Tổng công ty nên công ty luôn có nguồn
hàng cung cấp từ phía Tổng công ty. Song lượng hàng nhập của công ty từ nguồn này ngày
càng giảm do công ty muốn chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn hàng với giá cả và chất
lượng phù hợp với nhu cầu của thị trường.
Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Số lượng phân bón Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội
nhập từ Tổng công ty Vật tư Nông nghiệp.
(Đơn vị: tấn)
M
ặt hàng
1998
1999
2000
Nh
33871,808
KCl 5842,273 6788,118 6197,6 3197,6
-
-
DAP
10510,0
9483
3093,981
4120,981
-
-
NPK 14508,661 11662,365
-
-
-
-
thị trường là mục tiêu phấn đấu của công ty. Công ty đã chủ động tìm kiếm nguồn hàng, với
giá cả và chất lượng phù hợp với khách hàng, chủ yếu từ các nhà sản xuất trong nước như:
Công ty phốtphát Lâm Thao, Công ty phân lân nung chảy Ninh Bình, nhập khẩu từ Trung
Quốc…với số lượng như sau:
Bảng 2: Số lượng phân bón Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội
nhập từ bên ngoài
(Đơn vị: tấn)
M
ặt hàng
1998
1999
2000
Nh
ập
Xu
ất
Nh
ập
Xu
ất
Nh
16748,35
15794,73
8
16806
13614,612
DAP
-
-
21575,6
18265,27
1
22095
25142,503
SA
-
-
-
3120
124,676
Lân TQ
-
-
-
-
930
502,5
Lân LT
-
-
-
-
2. Khách hàng của Công ty Vật tư Nông sản Hà Nội.
Khách hàng chủ yếu của công ty là các đại lý, các cửa hàng bán buôn…họ thường liên hệ
trực tiếp với văn phòng công ty cụ thể là phòng kế hoạch kinh doanh của công ty. Ngoài ra
khách hàng của công ty còn là những người mua lẻ thông qua hệ thống chi nhánh, cửa hàng
của công ty. Nhưng người tiêu dùng cuối cùng của công ty lại là những người nông dân,
nghề chính của họ là trồng trọt. Tuy họ có thói quen tiêu dùng manh mún song họ là những
người biết sản phẩm của công ty đưa ra thị trường có tốt thực sự hay không. Hiện tại công ty
chưa chú trọng vào đối tượng khách hàng này mà chỉ tập trung bán hàng với số lượng lớn,
thường là bán tại cảng cho các đại lý, cửa hàng bán buôn .
Trong quan hệ với bạn hàng công ty luôn thực hiện theo nguyên tắc: Đôi bên cùng có lợi,
cùng phát triển, cùng tồn tại. Năm 1999 công ty đã tổ chức hội nghị khách hàng thành công
tốt đẹp với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp trên các miền của đất nước. Qua hội nghị
này công ty đã có được những bài học quý báu về thị trường và những bạn hàng của mình.
3. Đối thủ cạnh tranh của công ty.
Cũng như mọi lĩnh vực kinh doanh khác, kinh doanh hàng vật tư nông nghiệp nói chung
và hàng phân bón nói riêng đều có mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Mặt khác,