Nâng cao khả năng cạnh tranh hàng dệt kim trong hoạt động XK của Cty Dệt Kim Đông Xuân - Pdf 11

Mở đầu
Sau hơn 10 năm chuyển đổi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh
tế, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của Nhà Nớc, đó là sự chuyển hớng chiến lợc và là bớc ngoặt
cơ bản đa nền kinh tế nớc ta thoát khỏi khủng hoảng đứng vững vơn lên. Cho đến
nay nền kinh tế nớc ta đã đi dần vào thế ổn định và phát triển.
Hoạt động trong cơ chế thị trờng tất cả các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp
đều phải đợc giải quyết trên thị trờng. Tất cả các mục tiêu, chiến lợc kinh doanh
nói chung và chiến lợc cạnh tranh nói riêng đều đợc định hớng thông qua thị tr-
ờng, thị trờng là nơi thử nghiệm sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Đối
với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trong hoạt động xuất khẩu là nhân tố sống còn của doanh nghiệp.
Song để cạnh tranh trên thị trờng là vấn đề không hoàn toàn đơn giản do có sự tác
động mạnh mẽ và rộng lớn của nhiều nhân tố khác nhau. Hơn nữa để cạnh tranh
trong điều kiện kinh tế thế giới nh hiện nay là vô cùng khó khăn, nhất là cạnh
tranh trong ngành dệt may nói chung và mặt hàng dệt kim nói riêng, do ngày càng
có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này, khoa học công nghệ ngày càng
phát triển làm cho vòng đời công nghệ của sản phẩm bị rút ngắn càng gây sức ép
cho các doanh nghiệp muốn đứng vững đợc trên thị trờng kinh doanh, giữa các
quốc gia lại có sự khác biệt về luật pháp, cách sống, văn hoá và sự nhận thức của
khách hàng... những yếu tố này luôn vây quanh hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp để ngày càng nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình.
Đứng trớc tình hình đó, các doanh nghiệp đều cố gắng tìm ra các biện pháp
để nâng cao khả năng của mình. Một trong những biện pháp đó không ngừng
nâng cao chất lợng hàng hoá, giảm giá thành sản phẩm đến mức hợp lý với chất l-
ợng cải tiến, đa dạng hoá nhiều mặt hàng. Để làm đợc điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp đầu t vào máy móc, thiết bị, nâng cao hàm lợng chất xám chứa trong sản
phẩm. Công tác này đã đợc các công ty chú ý nhất là từ khi có chiến lợc tăng tốc
của Tổng công ty dệt may Việt Nam.
Nằm trong tình trạng chung đó, khả năng cạnh tranh của công ty Dệt Kim

cạnh tranh gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật những thuận lợi trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
Vì vậy khi nghiên cứu sâu về t bản chủ nghĩa và cạnh tranh t bản chủ nghĩa,
Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ
suất lợi nhuận và qua đó đã hình thành nên hệ thống giá cả thị trờng. Quy luật này
dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán đợc
hàng hoá dới giá trị của nó nhng vẫn thu đợc lợi nhuận. Và ngày nay trong nền
kinh tế thị trờng, cạnh tranh vẫn là một điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh,
là môi trờng, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và sự
phát triển của xã hội nói chung.
Nh vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá,
trong cơ chế vận động của thị trờng, hay có thể nói, thị trờng là một vũ đài thực sự
của cạnh tranh, là nơi gặp gỡ của các đối thủ mà kết quả của cuộc đua tài sẽ là sự
tồn tại và phát triển của những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao.
Cuối cùng, ta có thể hiểu: "cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt
giữa các đối thủ thể hiện trên thị trờng nhằm giành giật những điều kiện sản xuất
thuận lợi và là nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất phát triển".
Ngày nay, ngời ta tính toán rằng, tỷ lệ lợi nhuận đạt đợc ít nhất phải bằng
tỷ lệ cho việc đầu t cho những mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu một doanh
nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh
tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại đợc. Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh
3
nghiệp phải là một quá trình lâu dài, nếu không muốn nói vĩnh viễn nh là quá
trình duy trì sự sống.
1.2 Vai trò của cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh
Nh phần trên chúng ta đề cập, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trng của nền
kinh tế hàng hoá, đảm bảo cho việc tự do trong sản xuất kinh doanh và đa dạng
hoá hình thức sở hữu. Trong cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trên thị trờng nói
riêng thì các doanh nghiệp luôn tìm cách đa ra các biện pháp hữu hiệu để duy trì

ứng đợc mọi yêu cầu của ngời tiêu dùng trong xã hội. Ngời tiêu dùng có thể thoải
mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của
mình. Những lợi ích mà họ thu đợc từ hàng hoá ngày càng đợc nâng cao, thoả
mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trớc, trong và sau
khi bán đợc quan tâm nhiều hơn. Đây chính những là những lợi ích mà ngời tiêu
dùng có đợc từ cạnh tranh đem lại.
Cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nớc.
Vì để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng
nghiên cứu, tìm hiểu áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh
nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nớc đợc phát triển, năng suất lao động đợc
nâng cao. Ngày càng nhiều các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế dới nhiều
hình thức khác nhau nh: t nhân, trách nhiệm hữu hạn...làm đa dạng các thành
phần kinh tế đất nớc. Và đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức
mà Nhà nớc sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để ngời tiêu dùng có thể lựa
chọn đợc sản phẩm tốt, có chất lợng cao, giá rẻ...
Ngoài ra, nói đến cạnh tranh là nói đến tính sống còn, gay gắt và cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế thì mức độ gay gắt và khốc liệt là hơn nhiều. Hiện nay trên
thị trờng quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những
đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, điều này
không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của mình mà không
quan tâm đến nhu cầu thị trờng và khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu h-
ớng: tăng chất lợng sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để có đợc điều này các
doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nớc mình, từ đó
tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu t
các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ
thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lợng sản phẩm.
Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho mỗi quốc gia, các nguồn lực sẽ đ-
ợc tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học công nghệ của đất nớc không
ngừng đợc cải thiện.
Nh vậy, có thể nói cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp

quy luật mua rẻ bán đắt. Vì trên thị trờng ngời bán muốn bán sản phẩm của mình
với giá cao nhất nhng ngời mua lại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất có thể.
Giá cả cuối cùng là giá cả đợc thống nhất giữa ngời bán và ngời mua sau một quá
trình mặc cả với nhau.
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau: là một cuộc cạnh tranh dựa
trên sự cạnh tranh mua. Khi số lợng hàng hoá bán ra (tức lợng cung) nhỏ hơn nhu
cầu cần mua của ngời mua (tức là lợng cầu) nghĩa là xảy ra sự khan hiếm hàng
hoá thì cuộc cạnh tranh trở nên quyết liệt, giá cả sẽ tăng lên vì ngời mua sẵn sàng
chấp nhận giá cao để mua đợc hàng hoá cần mua.
6
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: là một cuộc cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp với nhau, họ thủ tiêu lẫn nhau để giành khách hàng và thị trờng,
cuộc cạnh tranh này dẫn đến giá cả hạ xuống và có lợi cho thị trờng. Trong khi đó
các doanh nghiệp khi tham gia thị trờng không chịu đợc sức ép sẽ phải bỏ thị tr-
ờng, nhờng thị phần của mình cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn.
b. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế thì cạnh tranh bao gồm:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích
tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải
tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị
của hàng hoá cá biệt do doanh nghiệp sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội. Kết quả
cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp hay đồng minh giữa các doanh nghiệp trong các ngành với nhau nhằm
giành giật lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này xuất hiện sự phân bổ vốn đầu t
một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau, kết quả hình thành tỷ suất lợi nhuận
bình quân.
c. Căn cứ vào mức độ cạnh tranh, gồm có:
- Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh mà trên thị trờng có nhiều
ngời bán và không ngời nào có u thế để cung cấp một số lợng sản phẩm quan

- Cạnh tranh không lành mạnh: là cuộc cạnh tranh không bằng chính nội
lực của công ty mà dùng những thủ đoạn, mánh lới, mu mẹo nhằm cạnh tranh một
cách không công khai thông qua việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Nhà Nớc yêu
cầu và luồn lách qua những kẽ hở của pháp luật.
2. mô hình 5 lực lợng của michael porter trong cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị
trờng cũng đều phải chịu một áp lực cạnh tranh nhất định, mà hiện trạng cuộc
cạnh tranh phụ thuộc vào 5 lực lợng cạnh tranh cơ bản đợc biểu diễn theo mô hình
sau:
Nguy cơ đe doạ từ những ngời
8
Các đối thủ
tiềm năng
mới vào cuộc
Quyền lực
thơng lợng
của ngời cung Sự ép giá
ứng củangời mua
Nguy cơ đe doạ từ những sản phẩm
thay thế
Hình 1: Mô hình 5 lực lợng của Michael Porter
Mô hình 5 lực lợng của Michael Porter đợc nhiều nhà phân tích vận đụng
để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc của một ngành công
nghiệp.
* Nguy cơ đe doạ từ những ngời mới vào cuộc:
Là sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trờng những có
khả năng mở rộng sản xuất, chiếm lĩnh thị trờng của các doanh nghiệp khác. Để
hạn chế mối đe doạ này, các nhà quản lý thờng dựng lên các hàng rào nh:
- Mở rộng khối lợng sản xuất của doanh nghiệp để giảm chi phí.
- Khác biệt hoá sản phẩm.

* Quyền lực thơng lợng của ngời mua
Ngời mua có quyền thơng lợng với doanh nghiệp (tức ngời bán) thông qua
sức ép giảm giá, giảm khối lợng hàng mua từ doanh nghiệp, đa ra yêu cầu chất l-
ợng phải tốt hơn với cùng một mức giá...
Các nhân tố tạo nên quyền lực ngời mua gồm: khối lợng mua lớn, sự đe doạ
của quá trình liên kết những ngời mua khi tiến hành thơng lợng với doanh nghiệp,
do sự tập trung lớn của ngời mua đối với sản phẩm cha đợc dị biệt hoá hặc dịch vụ
bổ sung còn thiếu...
Quyền lực thơng lợng của ngời mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không
nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trờng, hoặc khi doanh nghiệp
thếu khá nhiều thông tin về thị trờng (nh các thông tin về đầu vào và thông tin về
đầu ra). Các doanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để
tung ra thị trờng những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăng hơn và
bằng phơng thức dịch vụ tốt hớn.
* Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế:
Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu h-
ớng sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về
thị trờng của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đa ra thị trờng những sản
10
phẩm thay thế có khả năng khác biệt hoá cao độ với sản phẩm của doanh nghiệp,
hoặc tạo ra các điều kiện u đãi hơn về dịch vụ hay các điều kiện về tài chính.
Nếu sản phẩm thay thế càng giống sản phẩm của doanh nghiệp thì mối đe
doạ đối với doanh nghiệp càng lớn. Điều này sẽ làm hạn chế giá cả, số lợng hàng
bán và ảnh hởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu có ít sản phẩm tơng tự sản
phẩm của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội tăng giá và tăng thêm lợi
nhuận.
* Cạnh tranh của các đối thủ trong ngành:
Cạnh tranh giữa các công ty trong một ngành công nghiệp đợc xem là vấn
đề cốt lõi nhât của phân tích cạnh tranh. Các hãng trong ngành cạnh tranh khốc
liệt với nhau về giá cả, sự khác biệt hoá sản phẩm, hoặc sự đổi mới sản phẩm giữa

- Tốc độ tăng trởng cao của nớc sở tại luôn tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực sự tăng lên về khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng quốc tế, khi tăng trởng cao khả năng tích tụ tập trung t bản cao do đó khả
năng sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày
càng cao.
- Tỷ giá hối đoái ảnh hởng rất lớn đế khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khi tỷ giá hối đoái giảm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ
tăng lên trên thị trờng quốc tế vì khi đó giá bán của doanh nghiệp thấp hơn giá
bán của đối thủ cạnh tranh của nớc khác, và ngợc lại tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm
cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng quốc tế giảm.
- Lãi suất ngân hàng ảnh hởng mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm
cho giá thành sản xuất tăng lên từ đó đẩy giá bán tăng lên, do đó khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với đối thủ cạnh tranh, đặc biệt các đối thủ
cạnh tranh có tiềm lực về vốn.
* Nhân tố chính trị pháp luật
Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động trong
lĩnh vực xuất khẩu bởi các doanh nghiệp này hoạt động trên thị trờng quốc tế với
lợi thế mạnh trong cạnh tranh là lợi thế so sánh giữa các nớc. Chính trị ổn đinh,
12
pháp luật rõ ràng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia
cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả.
* Nhóm nhân tố về khoa học kỹ thuật
Nhóm nhân tố này tác động một cách quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhất
tạo nên khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng là chất lợng và giá cả.
Khoa học công nghệ hện đại sẽ làm cho chi phí cá biệt của các doanh nghiệp
giảm, chất lợng sản phẩm chứa hàm lợng khoa học công nghệ cao. Khoa học, kỹ
thuật, công nghệ ảnh hởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trheo hớng

Số lợng doanh nghiệp cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rất lớn
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi số lợng đối thủ cạnh tranh nhiều
thì thị phần của các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ giảm khi đó doanh nghiệp muốn
thống lĩnh thị trờng hay là doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao nhất thì
doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữa cờng độ cạnh tranh, ngày càng nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình. Hơn nữa cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt quyết
liệt hơn nếu nh có sự xuất hiện thêm một vài doanh nghiệp mới tham gia cạnh
tranh. Khi đó, các doanh nghiệp cũ với lợi thế về sản phẩm, vốn, chi phí cố định
và mạng lới kênh phân phối... sẽ phản ứng quyết liệt đối với doanh nghiệp mới.
Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp mới có u thế hơn về công nghệ, chất lợng sản
phẩm, áp dụng các biện pháp để giành thị phần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp mới sẽ cao hơn nếu các doanh nghiệp cũ không sử
dụng hữu hiệu công cụ trong cạnh tranh.
* Các đơn vị cung ứng đầu vào:
14
Các nhà cung ứng đầu vào có thể gây ra những khó khăn làm giảm khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong những trờng hợp sau:
- Nguồn cung cấp mà doanh nghiệp cần chỉ có một hoặc một vài công ty độc
quyền cung ứng.
- Nếu doanh nghiệp không có nguồn cung ứng nào khác thì doanh nghiệp sẽ
yếu thế hơn trong mối tơng quan thế và lực đối với nhà cung ứng hiện có.
- Nếu nhà cug cấp có đủ khả năng, đủ nguồn lực để khép kín sản xuất, có hệ
thống mạng phân phối hoặc mạng lới bán lẻ thì có thế lực đáng kể đối với
doanh nghiệp với t cách là khách hàng.
Tất cả những khó khăn đối với doanh nghiệp có thể gặp phải ở trên sẽ dẫn
đến sự phụ thuộc của doanh nghiệp vào các nhà cung ứng, các doanh nghiệp phải
xây dựng cho mình một hay nhiều ngời cung ứng, nghiên cứu tìm hiểu nguồn đầu
vào thay thế khi cần thiết và cần có chính sách dự trữ hàng hoá hợp lý.
* Sức ép của các sản phẩm thay thế
Sự ra đời của những sản phẩm thay thế là một yếu tố nhằm đáp ứng sự biến

thị trờng nhất định của mình. Trong phạm vi này doanh nghiệp có thể phục vụ
khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh, do đó doanh
nghiệp đã tạo dựng đợc một bức rào chắn, đảm bảo giữ vững đợc phần thị trờng
của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lợc khác biệt hoá sản
phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách
hàng vào các hàng hoá của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Nh vậy hàng hoá và cơ cấu hàng hoá một cách tối u là một trong những yếu
tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
b. Yếu tố giá cả.
Giá cả của một hàng hoá trên thị trờng đợc hình thành thông qua quan hệ
cung cầu. Ngời bán và ngời mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới mức giá
cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay
không của khách hàng. Trong nền kinh tế thị trờng có sự cạnh tranh của các
doanh nghiệp, khách hàng có quyền mua và lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất
16
và cùng một loại hàng hoá với chất lợng tơng đơng nhau chắc chắn họ sẽ lựa chọn
sản phẩm có mức giá thấp hơn, khi đó lợng bán của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Giá cả đợc thể hiện là vũ khí cạnh tranh thông qua việc định giá của hàng
hoá: định giá thấp (nh giá khi mới xâm nhập, giá giới thiệu), định giá ngang giá
thị trờng hay định giá cao. Việc định giá cần phải xem xét các yếu tố sau: lợng
cầu đối với hàng hoá và tính tới số tiền mà dân c có thể để dành cho loại hàng hoá
đó, chi phí kinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm. Phải nhận dạng đúng cạnh
tranh để từ đó có cách định giá thích hợp cho mỗi loại thị trờng.
Với một mức giá ngang giá thị trờng giúp doanh nghiệp giữ đợc khách
hàng đặc biệt là khách hàng truyền thống, nếu doanh nghiệp tìm ra đợc các biện
pháp hạ giá thành thì lợi nhuận thu đợc sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh sẽ cao.
Ngợc lại, với một mức giá thấp hơn giá thị trờng sẽ thu hút đợc nhiều khách hàng
và tăng lợng bán, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập và chiếm lĩnh thị trờng
mới. Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn giá thị trờng chỉ sử dụng đợc với các

đảm bảo trớc khi bán mà còn phải đợc đảm bảo ngay cả sau khi bán bằng các dịch
vụ bảo hành. Chất lợng hàng hoá thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp ở chỗ:
+ Nâng cao chất lợng hàng hoá sẽ làm tăng khối lợng hàng hoá bán ra, kéo
dài chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Hàng hoá chất lợng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thích
khách hàng mua hàng và mở rộng thị trờng.
+Chất lợng hàng hoá cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
d. Tổ chức hoạt động xúc tiến.
Trong kinh doanh thơng mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt đợc
hiệu quả cao nếu chỉ nghĩ rằng: "có hàng hoá chất lợng cao, giá rẻ là đủ để bán
hàng". Những giá trị của hàng hoá, dịch vụ, thậm chí cả những lợi ích đạt đợc khi
tiêu dùng sản phẩm cũng phải đợc thông tin tới khách hàng hiện tại, khách hàng
tiềm năng, cũng nh những ngời có ảnh hởng tới việc mua sắm. Để làm đợc điều
đó các doanh nghiệp cần thực hiện tốt các hoạt động xúc tiến thơng mại.
Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến thơng mại là tập hợp nhiều nội dung
khác nhau nhằm tăng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị trờng, tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Công tác tổ chức hoạt động xúc tiến thơng mại gồm một số nội dung sau:
- Quảng cáo.
- Khuyến mại.
- Hội chợ triển lãm.
- Bán hàng trực tiếp.
18
- Quan hệ công chúng và các hoạt động khuyếch trơng khác.
Quảng cáo là việc sử dụng các phơng tiện truyền tin nh đài, báo, truyền
hình... về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến ngời tiêu dùng nhằm làm cho
khách hàng chú ý tới sự có mặt của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ sẽ đợc
cung cấp. Quảng cáo phải tạo đợc sự khác biệt giữa hàng hoá của doanh nghiệp

- Bán thêm máy móc thiêt bị làm tăng doanh thu, lợi nhuận.
Qua dịch vụ sau bán hàng hoá của mình có đáp ứng đợc nhu cầu, thị hiếu
của ngời tiêu dùng không, để từ đó ngày càng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của
mình. Do vậy, dịch vụ sau bán hàng là một biện pháp tốt tăng uy tín trong cạnh
tranh.
f. Ph ơng thức thanh toán.
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phơng thức thanh
toán khác nhau nh: thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngân hàng, mở L/C...
giúp cho hoạt động mua bán đợc diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi
cho cả ngời bán và ngời mua. Việc lựa chọn phơng thức thanh toán hợp lý sẽ có
tác động kích thích đối với khách hàng, tăng khối lợng tiêu thụ và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
g. Yếu tố thời gian.
Sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật nh hiện nay làm thay đổi
nhanh chóng nếp nghĩ, sở thích hay nhu cầu của ngời tiêu dùng cũng nh sự rút
ngắn chu kỳ sống của sản phẩm. Đối với các doanh nghiệp yếu tố quan trọng
quyết định thành công trong kinh doanh hiện đại chính là thời gian và tốc độ chứ
không còn là yếu tố truyền thống nh : nguyên vật liệu hay lao động.
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã làm cho các cuộc
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt khốc liệt hơn và trong cuộc chạy đua này ai
biết nắm bắt thời cơ và đi trớc thì ngời đó sẽ chiến thắng.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tổ chức tốt hoạt động thu thập và xử lý
thông tin thị trờng, phải biết nắm bắt thời cơ, lựa chọn mặt hàng theo yêu cầu của
thị trờng, nhanh chóng tổ chức kinh doanh tiêu thụ thu hồi vốn trớc khi chu kỳ sản
phẩm kết thúc.
20
Hiện nay ở nhiều nớc phát triển cạnh tranh bằng thời gian là một biện pháp
rất quan trọng mang tính sống còn của doanh nghiệp. Đi trớc một bớc trong cạnh
tranh là đã giành đợc chiến thắng quan trọng trong việc thu hút khách hàng, mở
rộng thị trờng, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp.

21
1
1



=
t
tt
t
DT
DTDT
Gt
1
1
Pr
PrPr



=
t
tt
t
Gr
Trong đó:
Gr
t
: Tốc độ tăng trởng thời kỳ nghiên cứu
Pr

đặc điểm của mỗi lĩnh vực cạnh tranh.
ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh sát thực nhất khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp kinh doanh. Bên cạnh đó còn giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tin về
22
các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất và các thị phần họ chiếm giữ thờng là những
khu vực có lợi nhuận cao mà rất có thể doanh nghiệp cần chiếm lĩnh trong tơng
lai.
Những chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh chung
của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, còn nếu xét riêng
về hoạt động xuất khẩu thì khả năng cạnh tranh đợc đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
23
* Tốc độ tăng của hoạt động xuất khẩu qua các năm:
Công thức
Trong đó: EG
t
: Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EX
t
: Kim ngạch xuất khẩu kỳ nghiên cứu
EX
t-1
: Kim ngạch xuất khẩu kỳ trớc
ý nghĩa: qua chỉ tiêu này ta có thể thấy đợc tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu giữa hai năm liền nhau để biết xem khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp
qua thời gian là tăng hay giảm và tăng, giảm với tỷ lệ là bao nhiêu. Nếu tăng thì
chứng tỏ khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có phần tăng lên, còn nếu giảm
thì khả năng đó có thể giảm và doanh nghiệp cần tìm ra nguyên nhân của sự giảm
sút đó để năm sau có thể khắc phục.
Thị phần của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt kim cũng
nh chỉ tiêu ở phần trên, thị phần trong hoạt động xuất khẩu bao gồm hai cách tính:

Thị phần của KNXKHMM của doanh nghiệp
doanh nghiệp so với =
đối thủ mạnh nhất KNXKHMM của đối thủ mạnh nhất
Trong đó:KNXKHMM: kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc
ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh độ lớn về kim ngạch xuất khẩu hàng may
mặc của doanh nghiệp mình so với một số đối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị
trờng. Từ đây có thể so sánh đợc thị phần của doanh nghiệp mình trên thị trờng
với thị phần của một số doanh nghiệp mạnh khác để phân tích xem với quy mô,
tiềm lực hiện nay của công ty nh vậy thì hoạt động xuất khẩu của công ty đã thực
sự hiệu quả cha. Ngoài ra còn biết thêm các thông tin về đối thủ, thị phần xuất
khẩu họ chiếm giữ và lấy đó làm căn cứ cho công ty có thể nghiên cứu và tìm ra
những chiến lợc cạnh tranh cho phù hợp.
Đánh giá khả năng cạnh tranh là một việc làm cần thiết đối với mọi doanh
nghiệp vì qua đó mỗi doanh nghiệp có thể đa ra những mục tiêu, chiến lợc cạnh
tranh thích hợp với tình trang hiện tại của công ty mình. Hoạt động xuất khẩu
hàng may mặc là một hoạt động đợc rất nhiều doanh nghiệp trong nghành may
quan tâm và vì thế số lợng các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu ngày càng tăng,
làm cho cục diện cạnh tranh ngày càng gay gắt. Thuộc một trong số những doanh
nghiệp đó công ty Dệt Kim Đông Xuân cũng đã không ngừng phấn đấu để nâng
cao khả năng cạnh tranh của mình nhằm khẳng định vị thế trên thị trờng xuất
khẩu hàng may mặc.
5. Môi trờng cạnh tranh trong điều kiện hiện nay.
A. Đặc điểm của môi trờng cạnh tranh quốc tế trong điều kiện hiện
nay
5. 1 Môi trờng luật pháp.
Mỗi quốc gia có một hệ thống luật pháp riêng để điều chỉnh các hoạt động
kinh doanh quốc tế, bao gồm luật thơng mại quốc tế, luật đầu t nớc ngoài, luật
25

Trích đoạn Chiến lợc cạnh tranh hiệnnay của công ty trong hoạt động xuất khẩu. Tình hình cạnh tranh hàng dệtkim trong hoạt động xuất khẩu của công ty và sức ép cạnh tranh từ các đối thủ. Khả năng cạnh tranh hiệnnay của công ty. Đối thủ trong nớc. Các đối thủ nớc ngoài.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status