Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Mở đầu
Sau hơn 10 năm chuyển đổi thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh
tế, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của Nhà Nớc, đó là sự chuyển hớng chiến lợc và là bớc ngoặt
cơ bản đa nền kinh tế nớc ta thoát khỏi khủng hoảng đứng vững vơn lên. Cho đến
nay nền kinh tế nớc ta đã đi dần vào thế ổn định và phát triển.
Hoạt động trong cơ chế thị trờng tất cả các vấn đề cơ bản của doanh nghiệp
đều phải đợc giải quyết trên thị trờng. Tất cả các mục tiêu, chiến lợc kinh doanh
nói chung và chiến lợc cạnh tranh nói riêng đều đợc định hớng thông qua thị tr-
ờng, thị trờng là nơi thử nghiệm sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Đối
với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu khả năng cạnh tranh
của sản phẩm trong hoạt động xuất khẩu là nhân tố sống còn của doanh nghiệp.
Song để cạnh tranh trên thị trờng là vấn đề không hoàn toàn đơn giản do có sự tác
động mạnh mẽ và rộng lớn của nhiều nhân tố khác nhau. Hơn nữa để cạnh tranh
trong điều kiện kinh tế thế giới nh hiện nay là vô cùng khó khăn, nhất là cạnh
tranh trong ngành dệt may nói chung và mặt hàng dệt kim nói riêng, do ngày càng
có nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này, khoa học công nghệ ngày càng
phát triển làm cho vòng đời công nghệ của sản phẩm bị rút ngắn càng gây sức ép
cho các doanh nghiệp muốn đứng vững đợc trên thị trờng kinh doanh, giữa các
quốc gia lại có sự khác biệt về luật pháp, cách sống, văn hoá và sự nhận thức của
khách hàng... những yếu tố này luôn vây quanh hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp để ngày càng nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình.
Đứng trớc tình hình đó, các doanh nghiệp đều cố gắng tìm ra các biện pháp
để nâng cao khả năng của mình. Một trong những biện pháp đó không ngừng
nâng cao chất lợng hàng hoá, giảm giá thành sản phẩm đến mức hợp lý với chất l-
ợng cải tiến, đa dạng hoá nhiều mặt hàng. Để làm đợc điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp đầu t vào máy móc, thiết bị, nâng cao hàm lợng chất xám chứa trong sản
phẩm. Công tác này đã đợc các công ty chú ý nhất là từ khi có chiến lợc tăng tốc
của Tổng công ty dệt may Việt Nam.
triển, tuy nhiên chỉ đến khi xuất hiện trao đổi thông qua vật ngang giá là tiền tệ thì
cạnh tranh mới xuất hiện, và cạnh tranh đặc biệt phát triển trong nền sản xuất
hàng hoá t bản chủ nghĩa mà theo Mác nguyên nhân của nó là sự ganh đua, sự
cạnh tranh gay gắt giữa các nhà t bản nhằm giành giật những thuận lợi trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch.
Vì vậy khi nghiên cứu sâu về t bản chủ nghĩa và cạnh tranh t bản chủ nghĩa,
Mác đã phát hiện ra quy luật cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ
suất lợi nhuận và qua đó đã hình thành nên hệ thống giá cả thị trờng. Quy luật này
dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán đợc
hàng hoá dới giá trị của nó nhng vẫn thu đợc lợi nhuận. Và ngày nay trong nền
kinh tế thị trờng, cạnh tranh vẫn là một điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh,
là môi trờng, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và sự
phát triển của xã hội nói chung.
Nh vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hoá,
trong cơ chế vận động của thị trờng, hay có thể nói, thị trờng là một vũ đài thực sự
của cạnh tranh, là nơi gặp gỡ của các đối thủ mà kết quả của cuộc đua tài sẽ là sự
tồn tại và phát triển của những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao.
Cuối cùng, ta có thể hiểu: "cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt
giữa các đối thủ thể hiện trên thị trờng nhằm giành giật những điều kiện sản xuất
thuận lợi và là nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện
thúc đẩy sản xuất phát triển".
Ngày nay, ngời ta tính toán rằng, tỷ lệ lợi nhuận đạt đợc ít nhất phải bằng
tỷ lệ cho việc đầu t cho những mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, nếu một doanh
nghiệp tham gia thị trờng mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh
tranh yếu thì sẽ không thể tồn tại đợc. Quá trình duy trì sức cạnh tranh của doanh
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nghiệp phải là một quá trình lâu dài, nếu không muốn nói vĩnh viễn nh là quá
trình duy trì sự sống.
1.2 Vai trò của cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
biệt quan trọng hơn cả đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập
khẩu.
Từ những phân tích trên đây chúng ta dễ nhận thấy hàng hoá có chất lợng
ngày càng tốt, mẫu mã ngày càng phong phú, đa dạng, đẹp và hấp dẫn hơn, đáp
ứng đợc mọi yêu cầu của ngời tiêu dùng trong xã hội. Ngời tiêu dùng có thể thoải
mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của
mình. Những lợi ích mà họ thu đợc từ hàng hoá ngày càng đợc nâng cao, thoả
mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ có các dịch vụ trớc, trong và sau
khi bán đợc quan tâm nhiều hơn. Đây chính những là những lợi ích mà ngời tiêu
dùng có đợc từ cạnh tranh đem lại.
Cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nớc.
Vì để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng
nghiên cứu, tìm hiểu áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh
nhờ đó mà tình hình sản xuất của đất nớc đợc phát triển, năng suất lao động đợc
nâng cao. Ngày càng nhiều các doanh nghiệp tham gia vào nền kinh tế dới nhiều
hình thức khác nhau nh: t nhân, trách nhiệm hữu hạn...làm đa dạng các thành
phần kinh tế đất nớc. Và đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức
mà Nhà nớc sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để ngời tiêu dùng có thể lựa
chọn đợc sản phẩm tốt, có chất lợng cao, giá rẻ...
Ngoài ra, nói đến cạnh tranh là nói đến tính sống còn, gay gắt và cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế thì mức độ gay gắt và khốc liệt là hơn nhiều. Hiện nay trên
thị trờng quốc tế có nhiều doanh nghiệp của nhiều quốc gia khác nhau với những
đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, điều này
không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của mình mà không
quan tâm đến nhu cầu thị trờng và khả năng cạnh tranh của mình theo hai xu h-
ớng: tăng chất lợng sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để có đợc điều này các
doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nớc mình, từ đó
tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú trọng đầu t
các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đa các tiến bộ khoa học công nghệ kỹ
quan trọng cho khách hàng. Sự tín nhiệm của khách hàng và vị thế của công ty
Dệt Kim Đông Xuân ngày càng đợc nâng cao cũng là do cạnh tranh hàng hoá mà
có đợc.
1.3 Các loại hình cạnh tranh
a. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị tr ờng:
- Cạnh tranh giữa ngời bán và ngời mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo
quy luật mua rẻ bán đắt. Vì trên thị trờng ngời bán muốn bán sản phẩm của mình
với giá cao nhất nhng ngời mua lại muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất có thể.
Giá cả cuối cùng là giá cả đợc thống nhất giữa ngời bán và ngời mua sau một quá
trình mặc cả với nhau.
- Cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau: là một cuộc cạnh tranh dựa
trên sự cạnh tranh mua. Khi số lợng hàng hoá bán ra (tức lợng cung) nhỏ hơn nhu
cầu cần mua của ngời mua (tức là lợng cầu) nghĩa là xảy ra sự khan hiếm hàng
hoá thì cuộc cạnh tranh trở nên quyết liệt, giá cả sẽ tăng lên vì ngời mua sẵn sàng
chấp nhận giá cao để mua đợc hàng hoá cần mua.
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Cạnh tranh giữa những ngời bán với nhau: là một cuộc cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp với nhau, họ thủ tiêu lẫn nhau để giành khách hàng và thị trờng,
cuộc cạnh tranh này dẫn đến giá cả hạ xuống và có lợi cho thị trờng. Trong khi đó
các doanh nghiệp khi tham gia thị trờng không chịu đợc sức ép sẽ phải bỏ thị tr-
ờng, nhờng thị phần của mình cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranh mạnh hơn.
b. Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế thì cạnh tranh bao gồm:
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất một loại hàng hoá nhằm mục đích
tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch bằng các biện pháp cải
tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất làm cho giá trị
của hàng hoá cá biệt do doanh nghiệp sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội. Kết quả
cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn.
- Cạnh tranh giữa các ngành: là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh
điểm tiêu dùng của sản phẩm, miễn là họ thu đợc lợi nhuận tối đa.
d. Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh:
- Cạnh tranh lành mạnh: là cuộc cạnh tranh mà các chủ thể tham gia kinh
doanh trên thị trờng dùng chính tiềm năng, nội lực của mình để cạnh tranh với các
đối thủ. Những nội lực đó là khả năng tài chính, khả năng nhân lực, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, về uy tín, hình ảnh của công ty...Trên thị trờng hay của
tất cả những gì tựu chung trong hàng hoá bao gồm cả hàng hoá cứng (tức hàng
hoá hiện vật) và hàng hoá mềm (tức hàng hoá dịch vụ).
- Cạnh tranh không lành mạnh: là cuộc cạnh tranh không bằng chính nội
lực của công ty mà dùng những thủ đoạn, mánh lới, mu mẹo nhằm cạnh tranh một
cách không công khai thông qua việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Nhà Nớc yêu
cầu và luồn lách qua những kẽ hở của pháp luật.
2. mô hình 5 lực lợng của michael porter trong cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trờng, bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị
trờng cũng đều phải chịu một áp lực cạnh tranh nhất định, mà hiện trạng cuộc
cạnh tranh phụ thuộc vào 5 lực lợng cạnh tranh cơ bản đợc biểu diễn theo mô hình
sau:
Nguy cơ đe doạ từ những ngời
8
Các đối thủ
tiềm năng
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mới vào cuộc
Quyền lực
thơng lợng
của ngời cung Sự ép giá
ứng củangời mua
Nguy cơ đe doạ từ những sản phẩm
thay thế
Hình 1: Mô hình 5 lực lợng của Michael Porter
phẩm mà nhà sản xuất phải chấp nhận và tiến hành, do liên kết của những ngời
cung ứng gây ra...
Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng đóng vai trò là nhà xuất khẩu
nguyên vật liệu. Khi doanh nghiệp không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội
địa, nhà cung ứng quốc tế đóng vai trò quan trọng. Mặc dù, có thể có sự cạnh
tranh giữa các nhà cung ứng và doanh nghiệp có thể lựa chọn nhà cung ứng tốt
nhất thì quyền lực thơng lợng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể.
Trong mối quan hệ này, để đảm bảo lợi nhuận cho doanh nghiệp trớc khả năng
tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp
phải biến đợc quyền lực thơng lợng của ngời cung ứng thành quyền lực của mình.
* Quyền lực thơng lợng của ngời mua
Ngời mua có quyền thơng lợng với doanh nghiệp (tức ngời bán) thông qua
sức ép giảm giá, giảm khối lợng hàng mua từ doanh nghiệp, đa ra yêu cầu chất l-
ợng phải tốt hơn với cùng một mức giá...
Các nhân tố tạo nên quyền lực ngời mua gồm: khối lợng mua lớn, sự đe doạ
của quá trình liên kết những ngời mua khi tiến hành thơng lợng với doanh nghiệp,
do sự tập trung lớn của ngời mua đối với sản phẩm cha đợc dị biệt hoá hặc dịch vụ
bổ sung còn thiếu...
Quyền lực thơng lợng của ngời mua sẽ rất lớn nếu doanh nghiệp không
nắm bắt kịp thời những thay đổi về nhu cầu của thị trờng, hoặc khi doanh nghiệp
thếu khá nhiều thông tin về thị trờng (nh các thông tin về đầu vào và thông tin về
đầu ra). Các doanh nghiệp khác sẽ lợi dụng điểm yếu này của doanh nghiệp để
tung ra thị trờng những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải chăng hơn và
bằng phơng thức dịch vụ tốt hớn.
* Nguy cơ đe doạ từ các sản phẩm thay thế:
Khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ hiện tại tăng lên thì khách hàng có xu h-
ớng sử dụng sản phẩm và dịch vụ thay thế. Đây là nhân tố đe doạ sự mất mát về
thị trờng của doanh nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đa ra thị trờng những sản
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ra và những yếu tố đầu vào biến động theo xu hớng khác nhau. Tình hình này đòi
hỏi doanh nghiệp phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động cuả mình nhằm giảm
thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn vậy, doanh nghiệp
cần nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng, đa ra thị trờng những sản phẩm mới chất l-
ợng cao mẫu mã và giá cả phù hợp...
11
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3. các nhân tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
xuất khẩu
3.1 Các nhân tố khách quan:
a. Môi tr ờng kinh tế
* Nhóm nhân tố kinh tế:
- Tốc độ tăng trởng cao của nớc sở tại luôn tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực sự tăng lên về khả năng cạnh tranh trên thị tr-
ờng quốc tế, khi tăng trởng cao khả năng tích tụ tập trung t bản cao do đó khả
năng sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày
càng cao.
- Tỷ giá hối đoái ảnh hởng rất lớn đế khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Khi tỷ giá hối đoái giảm, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ
tăng lên trên thị trờng quốc tế vì khi đó giá bán của doanh nghiệp thấp hơn giá
bán của đối thủ cạnh tranh của nớc khác, và ngợc lại tỷ giá hối đoái tăng sẽ làm
cho giá bán hàng hoá cao hơn đối thủ cạnh tranh đồng nghĩa với việc khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng quốc tế giảm.
- Lãi suất ngân hàng ảnh hởng mạnh mẽ đến khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng với lãi suất cao sẽ làm
cho giá thành sản xuất tăng lên từ đó đẩy giá bán tăng lên, do đó khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp sẽ giảm so với đối thủ cạnh tranh, đặc biệt các đối thủ
cạnh tranh có tiềm lực về vốn.
* Nhân tố chính trị pháp luật
Chính trị và pháp luật là cơ sở nền tảng cho các hoạt động sản xuất kinh
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
nhiên phong phú, vị trí địa lý thuận lợi, sẽ giúp doanh nghiệp giảm đợc chi phí, có
điều kiện khuyếch trơng sản phẩm, mở rộng thị trờng... Bên cạnh đó, những khó
khăn ban đầu do điều kiện tự nhiên gây ra sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
b. Môi tr ờng ngành
* Khách hàng:
Khách hàng sẽ tạo ra áp lực làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp bằng việc đòi hỏi chất lợng sản phẩm cao hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ bán
hàng tốt hơn... và do đó, để duy trì và tồn tại trên thị trờng buộc các doanh nghiệp
phải thoả mãn tốt các nhu cầu của khách hàng trong điều kiện cho phép, điều này
sẽ làm tăng cờng độ và tính chất cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Số lợng các doanh nghiệp trong ngành hiện có và số lợng doanh nghiệp
tiềm ẩn.
Số lợng doanh nghiệp cạnh tranh và đối thủ ngang sức sẽ tác động rất lớn
đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi số lợng đối thủ cạnh tranh nhiều
thì thị phần của các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ giảm khi đó doanh nghiệp muốn
thống lĩnh thị trờng hay là doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao nhất thì
doanh nghiệp phải đẩy mạnh hơn nữa cờng độ cạnh tranh, ngày càng nâng cao
khả năng cạnh tranh của mình. Hơn nữa cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt quyết
liệt hơn nếu nh có sự xuất hiện thêm một vài doanh nghiệp mới tham gia cạnh
tranh. Khi đó, các doanh nghiệp cũ với lợi thế về sản phẩm, vốn, chi phí cố định
và mạng lới kênh phân phối... sẽ phản ứng quyết liệt đối với doanh nghiệp mới.
Tuy nhiên, nếu các doanh nghiệp mới có u thế hơn về công nghệ, chất lợng sản
phẩm, áp dụng các biện pháp để giành thị phần có hiệu quả hơn thì khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp mới sẽ cao hơn nếu các doanh nghiệp cũ không sử
dụng hữu hiệu công cụ trong cạnh tranh.
* Các đơn vị cung ứng đầu vào:
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
doanh nghiệp có hàng hoá đem bán ra thị trờng và phải làm sao để co hàng hoá
của mình thích ứng đợc với thị trờng nhằm tằng khả năng tiêu thụ, mở rộng thị tr-
ờng, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trờng, doanh nghiệp phải thực
hiện đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh. Thực chất của đa dạng hoá đó là quá
trình mở rộng hợp lý dạnh mục hàng hoá, tạo nên một cơ cấu hàng hoá có hiệu
quả của doanh nghiệp. Hàng hoá của doanh nghiệp phải luôn đợc hoàn thiện
không ngừng để có thể theo kịp nhu cầu thị trờng bằng cách cải tiến các thông số
chất lợng, mẫu mã, bao bì đồng thời tiếp tục duy trì các hàng hoá đang là thế
mạnh của doanh nghiệp. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần nghiên cứu tìm ra các
hàng hoá mới nhằm phát triển và mở rộng thị trờng tiêu thụ hàng hoá. Đa dạng
hoá hàng hoá kinh doanh không chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trờng, thu đợc nhiều
lợi nhuận mà còn là một biện pháp phân tán rủi ro trong kinh doanh khi mà tình
hình cạnh tranh trở nên gay gắt, quyết liệt.
Đi đôi với thực hiện đa dạng hoá mặt hàng, để đảm bảo đứng vững trong
điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp có thể thực hiện trọng tâm hoá hàng
hoá vào một số loại hàng hoá nhằm cung cấp cho một nhóm ngời hoặc một vùng
thị trờng nhất định của mình. Trong phạm vi này doanh nghiệp có thể phục vụ
khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh, do đó doanh
nghiệp đã tạo dựng đợc một bức rào chắn, đảm bảo giữ vững đợc phần thị trờng
của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần thực hiện chiến lợc khác biệt hoá sản
phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp dẫn cho khách
hàng vào các hàng hoá của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp.
Nh vậy hàng hoá và cơ cấu hàng hoá một cách tối u là một trong những yếu
tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
b. Yếu tố giá cả.
Giá cả của một hàng hoá trên thị trờng đợc hình thành thông qua quan hệ
cung cầu. Ngời bán và ngời mua thoả thuận mặc cả với nhau để đi tới mức giá
cuối cùng đảm bảo hai bên cùng có lợi. Giá cả đóng vai trò quyết định mua hay
thống nhằm thu hút thêm khách hàng mới, mở rộng thị trờng xuất khẩu cho công
ty.
c. Chất l ợng hàng hoá.
Nếu nh trớc kia giá cả đợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh tranh
thì ngày nay nó phải nhờng chỗ cho chỉ tiêu chất lợng hàng hoá. Trong thực tế,
cạnh tranh bằng giá là "biện pháp nghèo nàn" nhất vì nó làm giảm lợi nhuận thu
đợc, mà ngợc lại cùng một loại hàng hoá, chất lợng hàng hoá nào tốt đáp ứng đợc
nhu cầu thì họ cũng sẵn sàng mua với một mức giá cao hơn, nhất là trong thời đại
ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển mạnh, đời
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
sống của nhân dân đợc nâng cao hơn trớc. Chất lợng hàng hoá là hệ thống nội tại
của hàng hoá đợc xác định bằng các thông số có thể đo đợc hoặc so sánh đợc,
thoả mãn các điều kiện kỹ thuật và những yêu cầu nhất định của ngời tiêu dùng và
xã hội. Chất lợng hàng hoá đợc hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và
công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên vật liệu, trình độ quản lý...
Chất lợng hàng hoá không chỉ tốt, bền, đẹp mà còn do khách hàng quyết
định. Muốn đảm bảo về chất lợng thì một mặt phải thờng xuyên chú ý tới tất cả
các khâu trong quá trình sản xuất, mặt khác, chất lợng hàng hoá không những đợc
đảm bảo trớc khi bán mà còn phải đợc đảm bảo ngay cả sau khi bán bằng các dịch
vụ bảo hành. Chất lợng hàng hoá thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp ở chỗ:
+ Nâng cao chất lợng hàng hoá sẽ làm tăng khối lợng hàng hoá bán ra, kéo
dài chu kỳ sống của sản phẩm.
+ Hàng hoá chất lợng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp kích thích
khách hàng mua hàng và mở rộng thị trờng.
+Chất lợng hàng hoá cao sẽ làm tăng khả năng sinh lời, cải thiện tình hình
tài chính của doanh nghiệp.
d. Tổ chức hoạt động xúc tiến.
Trong kinh doanh thơng mại hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không đạt đợc
tranh của doanh nghiệp:
- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt giúp cho doanh nghiệp tăng lợng bán,
tăng doanh thu, lợi nhuân, thu hồi vốn nhanh.
- Tổ chức hoạt động xúc tiến tốt sẽ tạo ra uy tín của sản phẩm trên thị
trờng, làm cho khách hàng biết đến và hiểu rõ kỹ càng công dụng
của sản phẩm.
- Tổ chức tốt hoạt động xúc tiến giúp cho doanh nghiệp tìm đợc nhiều
bạn hàng mới, khai thác đợc nhiều thị trờng, kích thích sản xuất kinh
doanh phát triển.
Tuy nhiên công ty Dệt Kim Đông Xuân chỉ tham gia một số hội chợ nên kết quả
do xúc tiến thơng mại đem lại là cha cao và rõ rệt.
e. Dịch vụ sau bán hàng.
Để nâng cao uy tín và trách nhiệm của mình đối với ngời tiêu dùng về hàng
hoá của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện tốt các dịch vụ sau
bán hàng.
Nội dung hoạt động dịch vụ sau bán hàng gồm: hớng dẫn sử dụng hàng
hoá, lăp đặt, sửa chữa, bảo đảm các dịch vụ thay thế ...
- Tạo đợc uy tín cho hàng hoá và doanh nghiệp trên thị trờng.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Duy trì mở rộng thị trờng.
- Bán thêm máy móc thiêt bị làm tăng doanh thu, lợi nhuận.
Qua dịch vụ sau bán hàng hoá của mình có đáp ứng đợc nhu cầu, thị hiếu
của ngời tiêu dùng không, để từ đó ngày càng hoàn thiện và đổi mới sản phẩm của
mình. Do vậy, dịch vụ sau bán hàng là một biện pháp tốt tăng uy tín trong cạnh
tranh.
f. Ph ơng thức thanh toán.
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng các phơng thức thanh
toán khác nhau nh: thanh toán chậm, trả góp, thanh toán qua ngân hàng, mở L/C...
giúp cho hoạt động mua bán đợc diễn ra thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, có lợi
doanh nghiệp.
Việc đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là rất quan
trọng đối với bất kì một doanh nghiệp nào để xác định đợc khả năng hiện tại của
bản thân doanh nghiệp và xác định sức mạnh của các đối thủ cần quan tâm.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thờng đợc đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ tăng trởng của doanh nghiệp tính theo doanh thu:
Công thức:
Trong đó:
GT
t
: Tốc độ tăng trởng thời kỳ nghiên cứu
DT
t
: Doanh thu thời kỳ nghiên cứu
DT
t-1
: Doanh thu kỳ trớc
ý nghĩa: chỉ tiêu này đánh giá mức độ tăng lên hoặc giảm đi của thị phần
của doanh nghiệp trên thị trờng, đồng nghĩa với sự lớn lên hay giảm
sút sức canh tranh của doanh nghiệp trên thị trờng.
* Tốc độ tăng trởng của doanh nghiệp theo lợi nhuận
Công thức:
21
1
1
=
t
về tốc độ tăng lợi nhuận và lợi nhuận mới tực sự phản ánh kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp .
* Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp có hai cách xác định thông dụng với những tác
dụng khác nhau:
Mức độ cạnh tranh
theo thị phần Doanh thu của doanh nghiệp
của =
doanh nghiệp Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
ý nghĩa: chỉ tiêu này nói lên mức độ rộng lớn của thị trờng của một doanh
nghiệp và vai trò vị trí của doanh nghiệp đó trong thị trờng. Thông qua sự biến
động của chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá mức đọ hoạt động có hiệu quả hay không
của doanh nghiệp trong việc thực hiên chiến lợc thị trờng, chiến lợc Maketing,
chiến lợc cạnh tranh và hỗ trợ cho việc đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chỉ tiêu trên có một nhợc điểm là khó có thể đảm bảo tính chính
xác khi xác định nó, nhất là khi thị trờng mà doanh nghiệp đang tham gia quá
rộng lớn vì nó gây nhiều khó khăn trong việc tính đợc chính xác doanh thu thực tế
của các doanh nghiệp. Mặt khác công việc này cũng đòi hỏi nhiều thời gian và chi
phí.
Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính toán hơn nhiều so với chỉ tiêu trên nó khắc
phục đợc những nhợc điểm của những chỉ tiêu trên.
Do các đối thủ cạnh tranh mạnh thì sẽ có nhiều thông tin hơn nên la chọn
phơng pháp này ngời ta có thể lựa chọn từ 2-5 doanh nghiệp mạnh nhất tuỳ theo
đặc điểm của mỗi lĩnh vực cạnh tranh.
ý nghĩa: chỉ tiêu này phản ánh sát thực nhất khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp kinh doanh. Bên cạnh đó còn giúp cho doanh nghiệp có thêm thông tin về
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
các đối thủ cạnh tranh mạnh nhất và các thị phần họ chiếm giữ thờng là những
khu vực có lợi nhuận cao mà rất có thể doanh nghiệp cần chiếm lĩnh trong tơng
ý nghĩa của chỉ tiêu này: cho biết độ lớn về kim ngạch xuất khẩu của
doanh nghiệp so với kim ngạch chung của toàn nghành trong nớc, từ đó thấy đợc
vị trí của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu chung của toàn nghành. Sự biến
động của chỉ tiêu qua các năm sẽ giúp doanh nghiệp đánh giá đợc khả năng cạnh
tranh của mình trong hoạt động xuất khẩu, có sự tăng lên hay giảm đi và nguyên
nhân từ đâu.
Tuy nhiên số lợng doanh nghiệp trong nớc tham gia hoạt động xuất khẩu
hàng may mặc ở trong nớc là một con số không nhỏ và rất khó kiểm soát nên để
có đợc số liệu về tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của tất cả các doanh
nghiệp trong nớc một cách chính xác là rất khó nên ta có thể tính cách thứ hai nh
sau:
24
1
1
=
t
tt
t
EX
EXEX
EG
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cách 2:
Thị phần của KNXKHMM của doanh nghiệp
doanh nghiệp so với =
đối thủ mạnh nhất KNXKHMM của đối thủ mạnh nhất
Trong đó:KNXKHMM: kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc