Một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh mặt hàng dệt may trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp việt nam - Pdf 11

Đề án kinh tế thơng mại
Lời mở đầu
Công cuộc cải cách kinh tế và thực hiện chính sách mở cửa của Việt Nam đã
hơn mời năm năm, đã đạt đợc nhiều kết quả khả quan và rất đáng khích lệ. Tuy
nhiên, Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức không nhỏ,
quyết định đến quá trình phát triển kinh tế của đất nớc, đặc biệt khi đã là thành
viên của ASEAN, APEC và đang cố gắng để trở thành thành viên của WTO. Dù
muốn hay không, Việt Nam vẫn phải mở cửa nền kinh tế, hội nhập vào kinh tế
khu vực và trên thế giới. Vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta áp dụng biện pháp gì?
Nh thế nào để phát huy các lợi thế, tiềm năng của đất nớc, tận dụng một cách hiệu
quả các cơ hội cũng nh giảm thiểu những thách thức do quá trình hội nhập quốc
tế, đạt đợc mục tiêu trở thành nớc công nghiệp vào năm 2002 trong khi nớc ta
nằm trong nhóm nớc nghèo trên thế giới, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn
yếu. Đây là một khó khăn tất yếu mà Việt Nam phải đơng đầu và vợt qua trong
khi thời gian hội nhập hoàn toàn dành cho chúng ta là rất ngắn. Để giải quyết vấn
đề này, không bằng cách nào khác là chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế, nâng cao thứ hạng cạnh tranh ở các nhóm chỉ tiêu còn thấp. Điều
đó đòi hỏi chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng cụ thể
trong nền kinh tế quốc dân đảm bảo điều kiện hội nhập kinh tế trong thời đại hiện
nay.
Ngành dệt may đang đợc xem nh là một trong những ngành công nghiệp mũi
nhọn, với những lợi thế mà các ngành công nghiệp khác không có đợc nh: vốn
đầu t không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút đợc nhiều lao động. Đặc biệt
đây là ngành có nhiều lợi thế để mở rộng thị trờng trong nớc cũng nh thị trờng n-
ớc ngoài. Tuy nhiên, lịch trình cần giảm thuế quan theo Hiệp định về u đãi thuế
quan có hiệu lực chung (CEPT) cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
nhiều mặt hàng hiện đang đợc hởng bảo hộ thuế suất cao nh sợi 20%, vải 40%,
may 50% sẽ có sự cắt giảm liên tục và tơng đối nhanh còn 5% vào năm 2006.
Thách thức lớn nhất và cũng là mối quan tâm lớn nhất hiện nay của cả Chính phủ
lẫn các doanh nghiệp (DN) dệt may Việt Nam chính là sự đối mặt không chỉ là sự
cạnh tranh của các DN xuất khẩu sang thị trờng nớc ngoài mà ngay cả trên thị tr-

Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN năm 1995,
ASEM-1996, APEC-1998 và sắp tới là WTO đã đặt ra những thách thức mới đối
với các DN và từng ngành hàng của Việt Nam. Nâng cao năng lực cạnh tranh của
các DN và từng ngành hàng cụ thể để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và sức
sản xuất của nền kinh tế hiện đang là vấn đề cấp bách đối với các DN và Nhà nớc.
Để nghiên cứu vấn đề phức tạp này, trớc hết ta phải xem xét, hiểu rõ các vấn đề
về cạnh tranh, bản chất và vai trò của nó trong nền kinh tế hiện nay.
1. Cạnh tranh, các vấn đề về cạnh tranh.
1.1. Khái niệm về cạnh tranh.
Cạnh tranh là hiện tợng gắn liền với KTTT. Do đó cạnh tranh chỉ xuất hiện
dới những tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Ngày nay, có lẽ không còn ai hoài
nghi về sự phát triển tất yếu của nền KTTT ở nớc ta và vì vậy cạnh tranh đã đợc
nhìn nhận chung nh là động lực phát triển nội tại của nền KTTT. Có nhiều định
nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung, cạnh tranh đợc hiểu là sự chạy
đua hay ganh đua của các thành viên của một thị trờng hàng hoá, sản phẩm cụ thể
nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trờng và thị
phần của một thị trờng. Nh vậy về phơng diện kinh tế, cạnh tranh đợc hình thành
trên cơ sở của tiền đề là: có sự hiện diện của các thành viên thơng trờng, có cuộc
chạy đua vì mục tiêu kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên một thị
trờng hàng hóa cụ thể.
1.2. Bản chất và vai trò của cạnh tranh
Bản chất của cạnh tranh
3
Đề án kinh tế thơng mại
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể
tham gia thị trờng. Đối với ngời mua, họ muốn mua đợc hàng hoá có chất lợng
cao, với một mức giá thấp. Còn ngợc lại, các DN bao giờ cũng muốn tối đa hoá
lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí, tìm cách giành
giật khách hàng và thị trờng về phía mình, nh vậy cạnh tranh sẽ xảy ra. Cạnh
tranh là một tất yếu, bất khả kháng trong nền KTTT. Các DN bắt buộc phải chấp

lý và phơng thức sản xuất kinh doanh. Nh vậy là cạnh tranh đã khuyến khích áp
dụng có hiệu quả các nguồn lực trong phạm vi DN để giảm giá thành, giảm giá
bán, nâng cao chất lợng sản phẩm, bảo đảm hoạt động có hiệu quả, giành đợc u
thế trên thị trờng.
Trên thị trờng, các cuộc chạy đua giữa các DN diễn ra ngày càng gay gắt thì
ngời đợc lợi nhiều nhất chính là các khách hàng. Khi có cạnh tranh, các đối thủ
cạnh tranh do phải giành giật thị trờng và khách hàng nên luôn phải tìm cách để
nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá bán sản phẩm. Khi đó ngời tiêu dùng có
quyền lựa chọn các sản phẩm tốt nhất, phù hợp nhất, giá thấp nhất. Do vậy cạnh
tranh thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh loại bỏ các DN có chi phí cao trong sản xuất, điều này buộc các
nhà sản xuất phải lựa chọn phơng án sản xuất có chi phí thấp nhất. Vì vậy, cạnh
tranh tạo ra sự đổi mới, mang lại sự tăng trởng kinh tế. Ngoài ra, cạnh tranh còn là
động lực phát triển cơ bản kết hợp một cách hợp lý giữa lợi ích của DN, lợi ích
của ngời tiêu dùng và lợi ích của xã hội. Nh vậy, cạnh tranh thúc đẩy sản xuất
phát triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh không chỉ toàn những u điểm, mà nó còn có những
khuyết tật cố hữu mang tính đặc trng của cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng bắt
buộc các DN phải thực sự tham gia vào cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Trong
quá trình cạnh tranh, các DN phải quan tâm trớc hết là lợi ích bản thân mình,
không chú ý đến các vấn đề xã hội. Từ đó xuất hiện những mâu thuẫn hết sức gay
gắt giữa các DN và sẽ kéo theo những vấn đề về xã hội nh nạn thất nghiệp, tiền
công rẻ mạt, môi trờng sinh thái bị huỷ hoại
Cạnh tranh sẽ một mặt thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, mặt khác nó
cũng dẫn tới tình trạnh độc quyền trên thị trờng. Chính điều này cũng dẫn tới tình
trạng phân hóa ghê gớm, kẻ thắng ngời thua, đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà
nớc đảm bảo cho các DN có thể tự do cạnh tranh một cách lành mạnh.
1.3. Các hình thái của cạnh tranh.
Khi nhận dạng tính chất và mức độ biểu hiện của cạnh tranh trong các hình
thái thị trờng cho thấy tầm quan trọng của việc nhận dạng và xác định đợc các

tiết nền kinh tế theo chính sách kinh tế của Nhà nớc.
- Định hớng chuẩn mực, giữ gìn đạo đức và tập quán trong kinh doanh đã
đuợc thừa nhận.
Nh vậy có thể nói, pháp luật về cạnh tranh có độ bán kính điều chỉnh rất khác
nhau:
6
Đề án kinh tế thơng mại
- Điều chỉnh hoạt động cạnh tranh.
- Điều chỉnh quá trình đấu tranh chống các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
- Điều chỉnh vào đấu tranh chống độc quyền, hạn chế cạnh tranh.
Nhà nớc ban hành pháp luật về cạnh tranh nhằm đạt đợc mục tiêu hiệu quả
của nền kinh tế chính là biểu hiện vai trò điều tiết cần thiét của nền kinh tế quốc
dân.
2. Nội dung cơ bản về nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm
2.1. Các phơng thức cạnh tranh của DN
Các yếu tố ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa
Khi nghiên cứu và đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngành hàng, các
nhà kinh tế cho rằng phải xem xét khả năng cạnh tranh trên thơng trờng và phải
theo quan điểm phân tích cạnh tranh động. Nh vậy sẽ có khoảng 17 yếu tố tác
động đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thơng trờng nh sau:
Giá, chất lợng sản phẩm, mức độ chuyên môn hoá sản phẩm, năng lực nghiên
cứu và phát triển sản phẩm, năng lực nghiên cứu thị trờng, khả năng giao hàng và
giao đúng thời hạn, mạng lới phân phối, dịch vụ sau bán, liên kết đối với các đối
tác nớc ngoài, sự tin tởng của khách hàng, sự tin cậy của nhà cung cấp, tổ chức
sản xuất, kỹ năng của nhân viên, loại hình DN, sự hỗ trợ của chính phủ, năng lực
tài chính và các yếu tố khác.
Với hệ thống các chỉ tiêu nh đã nêu trên, việc tìm ra lời giải chung cho việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng là rất khó khăn và phức tạp. Tuy
nhiên, chỉ xem xét đến một số yếu tố quan trọng, các DN sẽ đặc biệt quan tâm

cho khách, dịch vụ sau khi bán, gồm các công việc nh bảo hành, bảo dỡng, lắp
đặt, chạy thử,... Các phơng thức dịch vụ ngày càng đợc sử dụng rộng rãi và đa
dạng hơn, nhất là khi lĩnh vực dịch vụ đang tăng dần tỷ trọng trong cơ cấu nền
kinh tế. Cạnh tranh bằng dịch vụ có hiệu quả rất cao vì khi đó khách hàng thấy
bản thân mình đợc tôn trọng.
Khi một DN thực hiện một chiến lợc tức là ký một cam kết dài hạn dựa trên
cơ sở những nguồn lực và năng lực nhất định. Nh vậy, một khi các đối thủ cạnh
tranh đã thiết lập những cam kết dài hạn về một phơng thức kinh doanh nào đó,
thì các đối thủ này cũng chậm trong việc sao chép lợi thế cạnh tranh của một DN
đợc đổi mới.
Sự vận động tổng thể của môi trờng ngành thể hiện ở mức độ năng động của
ngành. Những ngành năng động nhất là những ngành có tốc độ đổi mới sản phẩm
nhanh nhất. Khi các hàng rào ngăn cản việc sao chép là thấp thì các đối thủ cạnh
tranh là rất nhiều và môi trờng luôn năng động với các đối thủ luôn thay đổi, do
đó lợi thế cạnh tranh của DN trở nên nhất thời.
8
Đề án kinh tế thơng mại
2.2. Phơng pháp xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Để hội nhập có hiệu quả, một trong những phơng hớng chính của Đảng và
Nhà nớc ta đang tiến hành là tích cực thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất và
đầu t của các ngành kinh tế. Để làm đợc điều này thì việc xác định đợc năng lực
cạnh tranh của các sản phẩm là vô cùng cần thiết để có cơ sở tiến hành điều chỉnh
cơ cấu, đồng thời xây dựng đợc những chính sách hỗ trợ và điều tiết thích hợp đối
với các ngành kinh tế và lựa chọn đợc chiến lợc hội nhập phù hợp với khả năng
của từng ngành. Đây là một số phơng pháp định lợng để xác định tính cạnh tranh
của sản phẩm đợc đánh giá từ khía cạnh nguồn lực trong nớc và khả năng cạnh
tranh nói chung so với các nớc trên thế giới thông qua việc tính các hệ số sau.
Hệ số chi phí nguồn lực trong nớc (DRC)
DRC là hệ số phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả để sản xuất ra một
loại hàng hoá nào đó. Hệ số DRC có đặc điểm là thờng chỉ thay đổi theo lợi thế so

một cách tơng đối, dựa trên các nguồn lực và năng lực sản xuất của DN đó. DN có
lợi thế cạnh tranh thờng đạt đợc mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Tỷ suất
lợi nhuận thờng đợc xác định bằng một tỷ số nào đó, ví dụ nh lợi nhuận trên
doanh thu (ROS - return on sales) hoặc lợi nhuận trên tài sản (ROA - return on
assets). Các tỷ suất này càng cao càng thể hiện đợc lợi thế cạnh tranh của DN.
Để có lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành, DN phải có mức chi phí
đơn vị sản phẩm thấp hơn của đối thủ cạnh tranh (tạo lợi thế cạnh tranh bên
trong), hoặc làm cho sản phẩm của mình khác với sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh (khác biệt hoá sản phẩm nhằm định giá sản phẩm cao hơn đối thủ cạnh
tranh - tạo lợi thế cạnh tranh bên ngoài), hoặc thực hiện đồng thời cả hai cách.
Quyết định lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào bốn yếu tố đó là: hiệu quả, chất
lợng, đổi mới và nhạy cảm với khách hàng. Cả bốn yếu tố này cùng góp phần tạo
ra chi phí thấp hoặc lợi thế đa dạng hoá đối với một DN, mang lại cho DN lợi
nhuận cao hơn mức trung bình và giúp cho DN hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh
tranh.

Cơ sở hình thành và duy trì lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh của DN cũng nh lợi thế so sánh của một quốc gia, đều đợc
hình thành dựa trên nguồn lực và năng lực của mình.
Nguồn lực của DN đợc chia thành nguồn lực hữu hình (con ngời, đất đai, nhà
xởng, thiết bị) và nguồn lực vô hình (nhãn hiệu hàng hoá, danh tiếng, bản quyền,
bí quyết công nghệ, hay nghệ thuật marketing), nguồn lực hiện có và nguồn lực
mới. Nguồn lực đợc coi là đặc biệt khi các DN khác không thể có hoặc cha thể có
đợc.
10
Đề án kinh tế thơng mại
Năng lực của DN đợc hình thành từ những kỹ năng trong việc khai thác, phối
hợp các nguồn lực và hớng các nguồn lực vào mục đích sản xuất. Những kỹ năng
này thờng trực trong công việc hàng ngày của DN, đợc thể hiện qua cách thức ra
quyết định và quản lý các quá trình nội bộ của DN để đạt mục tiêu đã đề ra. Để có

Đề án kinh tế thơng mại
trờng hạn chế. Mục tiêu chiến lợc hình thành dựa trên việc phân tích các yếu tố
ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động của DN.
Bằng cách kết hợp lợi thế và mục tiêu chiến lợc, có 3 dạng chiến lợc cạnh
tranh phổ biến là chiến lợc nhấn mạnh chi phí, chiến lợc khác biệt hoá và chiến l-
ợc trọng tâm hoá. Các chiến lợc này có thể đợc sử dụng riêng rẽ hoặc đợc kết hợp
với nhau.
Chiến lợc nhấn mạnh chi phí
Chi phí đợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của DN. Chi phí càng thấp thì DN có lợi thế cạnh tranh càng cao
so với các đối thủ. Thứ nhất, DN có thể đặt mức giá thấp hơn đối thủ mà vẫn đảm
bảo lợi nhuận bằng của các đối thủ, hoặc đạt mức lợi nhuận cao hơn khi giá trong
ngành là bằng nhau. Thứ hai, khi cạnh tranh trong ngành tăng và các đối thủ bắt
đầu cạnh tranh bằng giá, thì DN sẽ đứng vững hơn trong cạnh tranh vì chi phí thấp
hơn của mình.
Để theo đuổi chiến lợc nhấn mạnh chi phí, DN phải có u thế cạnh tranh bên
trong hay khả năng làm chủ chi phí.
Tuy nhiên, vì nhấn mạnh chi phí nên sản phẩm của DN thờng không có mức
độ khác biệt hoá cao, nó chỉ có thể không quá chênh lệch so với mức của sản
phẩm khác biệt hoá. Vì vậy, chi phí thấp chỉ có u thế cạnh tranh khi sản phẩm của
DN đợc khách hàng chấp nhận.
Trong môi trờng quốc tế, cần đánh giá chiến lợc này theo 2 phơng diện: ph-
ơng diện marketing và phơng diện sản xuất. Về phơng diện marketing, việc tìm
kiếm các thị trờng mới cho phép tăng cầu tiềm năng và đạt đợc mức sản xuất tối u
nhất. Trong trờng hợp đòi hỏi chi phí để thích ứng với điều kiện đặc thù, cần phải
tính toán và so sánh giữa chi phí đầu t đặc biệt và khả năng sinh lời. Về phơng
diện sản xuất, nếu có thể, DN sẽ tổ chức sản xuất ở nớc ngoài để tận dụng nguồn
nhân công sẵn có, hạn chế các chi phí về chuyên chở, giảm chi phí trung bình ở
mức tối thiểu.
Chiến lợc khác biệt hoá sản phẩm

độ làm chủ hoàn toàn, để có thể tránh sự cạnh tranh bởi DN dẫn đầu về chi phí
hoặc DN khác biệt hoá. Về phơng diện sản xuất, chiến lợc trọng tâm hoá vẫn theo
đuổi logic chi phí tối thiểu. Ràng buộc quan trọng nhất là phải đảm bảo giữ vững
hình ảnh chuyên môn hoá và hình ảnh nhãn hiệu của DN ở nớc ngoài.
2.4. Tầm quan trọng của việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Cạnh tranh thơng mại đòi hỏi các DN phải điều chỉnh chiến lợc hoạt động
của mình thông qua các hoạt động nh: tập trung và huy động nguồn lực, phát huy
các lợi thế cạnh tranh, đảm bảo cạnh tranh có hiệu quả trong tình hình mới. Điều
đó đòi hỏi các DN hiện nay phải luôn chuẩn bị và đoán trớc xu hớng cạnh tranh,
sẵn sàng linh hoạt sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
13
Đề án kinh tế thơng mại
Sức cạnh tranh của sản phẩm thể hiện qua nhiều khía cạnh, có thể là bởi thế
mạnh của chất lợng, bởi sự hấp dẫn của hình thức, bởi giá cả phải chăng, hoặc vì
thoả mãn nhu cầu tâm lý, địa vị của khách hàng... Đặc biệt nếu sản phẩm có tính
cạnh tranh quốc tế cao, trong trờng hợp DN tiến hành kinh doanh tiêu thụ trên thị
trờng quốc tế, trớc hết sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho DN vì sản phẩm đã giành đ-
ợc sự quan tâm, u ái của khách hàng, sau là nâng cao mặt bằng chất lợng của sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và những đòi hỏi ngày càng khắt khe của
ngời tiêu dùng. Khi tiến hành kinh doanh trên thị trờng ngoài nớc, DN phải đối
mặt với rất nhiều vấn đề phức tạp. Không đơn giản nh sản xuất kinh doanh trong
nớc, việc sản xuất nếu không có điều kiện tổ chức tại nớc ngoài, DN phải chịu rất
nhiều khoản chi phí chuyên chở cũng nh những rủi ro có thể gặp trên đờng. Hơn
nữa, DN có thể không có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nớc ngoài,
nh vậy họ không thể nắm bắt đợc kịp thời nhu cầu của khách hàng. Để thu đợc
nhiều lợi nhuận trong kinh doanh, nhà kinh doanh quốc tế không còn cách nào
khác là phải tìm mọi cách để hoàn thiện sản phẩm của mình, nâng cao sức cạnh
tranh của sản phẩm giữa muôn ngàn sản phẩm cùng loại khác cũng đang tràn
ngập trên thị trờng thế giới.
Nh đã nói, DN có thể tăng khả năng cạnh tranh của mình qua các biện pháp

tại một cách vô nghĩa giữa thị trờng. Thứ hai, dựa vào các kết quả phân tích, đánh
giá môi trờng kinh doanh, DN có thể tìm ra khả năng cạnh tranh mới của sản
phẩm, bởi mọi sự thích hợp chỉ mang tính nhất thời và điểm mạnh, điểm yếu của
sản phẩm là khác nhau qua thời gian.
DN cần phân tích môi trờng bên ngoài và nắm bắt sự thay đổi của môi trờng
để đánh giá cơ hội và rủi ro đối với sản phẩm, từ đó xác định một cách đúng đắn
phơng pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
3.1.1. Môi trờng vĩ mô
Môi trờng kinh tế
Các vấn đề về tài chính tiền tệ (tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất), cơ cấu
sản xuất và tiêu dùng, nguồn lực của nền kinh tế, các chính sách kinh tế, thơng
mại ... của các quốc gia là khác nhau nên có ảnh hởng khác nhau đến mức độ
cạnh tranh trên thị trờng. Phân tích môi trờng này cần lu ý đến sức mua và cơ cấu
chi tiêu của khách hàng, các vấn đề liên quan đến mức tiền công địa phơng.
Môi trờng chính trị - luật pháp
Vấn đề cần quan tâm là vấn đề điều tiết và chi phối mối quan hệ giữa các DN
trong và ngoài nớc, các chính sách và biện pháp khuyến khích hay hạn chế một
lĩnh vực sản xuất nào đó. Trong những năm gần đây, một trong những khuynh h-
ớng cơ bản nhất là sự chuyển dịch hớng tới việc loại bỏ các quy tắc. Việc loại bỏ
15
Đề án kinh tế thơng mại
các lệnh cấm, các quy định đã làm cho hàng rào gia nhập thấp và tạo ra cạnh
tranh khốc liệt ở một số ngành.
Môi trờng văn hoá - xã hội
Các yếu tố văn hoá - xã hội có ảnh hởng trực tiếp đến sở thích, thói quen, thái
độ, niềm tin, phong tục tập quán của ngời tiêu dùng trong việc mua sắm và sử
dụng sản phẩm. Sự thay đổi môi trờng văn hoá - xã hội cũng tạo ra các cơ hội
cũng nh các nguy cơ đe doạ.
Môi trờng công nghệ
Công nghệ thay đổi có thể tạo ra sự làm chủ các sản phẩm mới. Nh vậy, nó có

Quyền lực thơng lợng của ngời cung ứng
Ngời cung ứng có thể chi phối đến DN là do sự thống trị hoặc khả năng độc
quyền của một số ít nhà cung ứng. Nhà cung ứng có thể đe doạ tới nhà sản xuất
do tầm quan trọng của sản phẩm đợc cung ứng; do đặc tính khác biệt hoá cao độ
của ngời cung ứng với ngời sản xuất, do sự thay đổi chi phí của sản phẩm mà nhà
sản xuất phải chấp nhận và tiến hành; do liên kết của những ngời cung ứng gây
ra ...
Trong buôn bán quốc tế, nhà cung ứng có vai trò là nhà xuất khẩu nguyên vật
liệu. Khi DN không thể khai thác nguồn nguyên vật liệu nội địa, nhà cung ứng
quốc tế có vị trí càng quan trọng. Mặc dù, có thể có sự cạnh tranh giữa các nhà
cung ứng và DN có quyền lựa chọn nhà cung ứng tốt nhất, thì quyền lực thơng l-
ợng của nhà cung ứng bị hạn chế vẫn không đáng kể. Trong mối quan hệ này, để
đảm bảo lợi nhuận cho DN trớc khả năng tăng cao chi phí đầu vào, đảm bảo sức
cạnh tranh của sản phẩm, DN phải biến đợc quyền lực thơng lợng của ngời cung
ứng trở thành quyền lực của mình.
Quyền lực thơng lợng của ngời mua
Ngời mua có quyền lực thơng lợng với DN (ngời bán) thông qua sức ép giảm
giá, giảm khối lợng hàng mua từ DN, hoặc đa ra yêu cầu chất lợng phải tốt hơn
với cùng một mức giá ...
Các nhân tố tạo nên quyền lực thơng lợng của ngời mua gồm: khối lợng mua
lớn, sự đe doạ của quá trình liên kết những ngời mua khi tiến hành thơng lợng với
DN, do sự tập trung lớn của ngời mua đối với các sản phẩm cha đợc dị biệt hoá
hoặc các dịch vụ...
Quyền lực thơng lợng của ngời mua sẽ rất lớn nếu DN không nắm bắt kịp
thời những thay đổi về nhu cầu của thị trờng, hoặc khi DN thiếu khá nhiều thông
tin về thị trờng (đầu vào và đầu ra). Các DN khác sẽ tìm cách lợi dụng điểm yếu
17
Đề án kinh tế thơng mại
này của DN, để tung ra thị trờng những sản phẩm thích hợp hơn, với giá cả phải
chăng hơn và bằng những phơng thức dịch vụ độc đáo hơn.

này đòi hỏi DN phải linh hoạt điều chỉnh các hoạt động của mình nhằm giảm
18
Đề án kinh tế thơng mại
thách thức, tăng thời cơ giành thắng lợi trong cạnh tranh. Muốn vậy, DN cần
nhanh chóng chiếm lĩnh thị trờng, đa nhanh ra thị trờng những sản phẩm mới chất
lợng cao, mẫu mã và giá cả phù hợp ...
3.2. Đánh giá khả năng cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam
Một thực tế hiện nay của chúng ta là năng lực cạnh tranh hiện nay của hàng
hóa Việt Nam, của DN Việt Nam và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nói
chung của ta còn rất yếu kém so với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới.
Tình trạng này thể hiện trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Hàng hóa mang nhãn hiệu
Việt Nam hiện nay tuy đã có một số mặt hàng (cha nhiều) đạt chất lợng tốt, nhng
nói chung chất lợng cha cao, trong khi đó giá thành lại cao hơn một số nớc trong
khu vực (Thái Lan, Trung Quốc, ) do nhiều nguyên nhân nh giá đầu vào của sản
xuất nói chung cao, lại phải gánh nhiều loại thuế, phí dịch vụ và các loại phí bất
hợp lý khác; máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, hiểu biết về thị trờng, kinh nghiệm
về kinh doanh, quản lý công tác tiếp thị, Marketing của các DN còn hạn chế,
Mặt khác, về phía quản lý Nhà nớc, một số chính sách thuế, quản lý, thủ tục hành
chính còn nhiều điều cha hợp lý góp phần làm cho các loại phí của các DN phải
gánh chịu tăng lên đáng kể, giá thành một số sản phẩm của ta cao hơn giá nhập
khẩu từ các nớc khác. Việc sắp xếp các DNNN, cổ phần hóa một bộ phận DNNN
triển khai khá chậm chạp và hầu nh cha đạt đợc mục đích mà rơi vào tình trạng
bình mới, rợu cũ vì tuy đã sắp xếp lại những tình trạng yếu kém về tài chính,
công nợ dây da, những yếu kém về quản lý kinh doanh, nhân sự vẫn ch a đợc
giải quyết một cách cơ bản nên vẫn không mạnh hơn, thậm chí có trờng hợp lại
yếu hơn trớc. Thêm vào đó, tệ nạn quan liêu tham nhũng trong bộ máy hành chính
quản lý của Nhà nớc đã gây ra không ít phiền hà, cản trở đối với DN, giảm thu hút
vốn đầu t của nớc ngoài và làm giảm mất tính khả thi, vô hiệu quả chủ trơng
chính sách đúng đắn của Nhà nớc
19

Khối lợng buôn bán hàng hàng dệt may trên thế giới hiện nay khoảng 350 tỷ
USD. Trong đó 150 tỷ là hàng dệt và 200 tỷ là hàng may mặc.
Các thị trờng nhập khẩu chủ yếu.
- EU: 140,5 tỷ USD, Trong đó hàng dệt 58 tỷ USD, hàng may sẵn 84 tỷ USD.
Nhập ngoài EU hàng dệt 18 tỷ USD, hàng may sẵn 48 tỷ USD.
- Mỹ: 70 tỷ USD, trong đó hàng may sẵn 56 tỷ.
- Hồng Kông: 27,7 tỷ USD, trong đó hàng dệt 13,4 tỷ, hàng may sẵn 14,3 tỷ.
- Nhật: 19 tỷ USD, trong đó hàng dệt 14,3 tỷ USD, hàng may sẵn 14,7 tỷ.
- Trung Quốc: 12 tỷ USD, trong đó hàng dệt 11 tỷ USD, hàng may sẵn 1 tỷ.
- Canada: 7 tỷ USD, trong đó dệt 4 tỷ, may sẵn 3 tỷ.
- Mêhicô: 7tỷ USD, trong đó dệt 4 tỷ, may sẵn 3 tỷ.
- ThuỵSỹ: 5 tỷ USD, trong đó hàng dệt 1,5 tỷ USD, hàng may sẵn 3,5 tỷ USD.
- Các nớc nhập khẩu trên 3 tỷ USD là Nga, Balan, áo.
21
Đề án kinh tế thơng mại
- Các nớc nhập khẩu trên 2 tỷ USD là: Tiểu vơng quốc A-rập, Hàn Quốc, Thổ
Nhĩ Kỳ, Singapo, Đài Loan, NaUy, Tuynidi.
Các nớc xuất khẩu chính:
- Trung Quốc: khoảng 47 tỷ USD.
- Hồng Kông: 25 tỷ USD.
- Hàn Quốc: 17 tỷ USD.
- Đài Loan: 14,2 tỷ USD.
- ấn Độ: 11,2 tỷ USD.
- Mê hi cô: khoảng 8 tỷ USD.
- Inđônêxia trên 7 tỷ USD.
- Thái Lan trên 5 tỷ USD.
- Pakitxtan trên 5 tỷ USD.
- Bănglađet: 5 tỷ USD.
- Philipin, singapo, Malaixia: mỗi nớc trên dới 3 tỷ USD.
Qua các số liệu trên chúng ta thấy rằng, các nớc phát triển nhập khẩu hàng

- Việt Nam đã là thành viên chính thức của hiệp hội các quốc gia Đông Nam
á (ASEAN) vào ngày 28-7-1995 và gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) kể từ ngày 1-1-1996.
- Tháng 11-1998 Việt Nam chính thức là thành viên của diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (AFTEX).
- Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao và thơng mại với hầu hết các nớc trên
thế giới sau khi quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam bình thờng hóa (ngày 12-7-1995).
Hiện Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện để gia nhập WTO.
Sau hơn 10 năm thực hiện cải cách nền kinh tế cùng với chính sách mở cửa,
Việt Nam đang bắt đầu giai đoạn CNH-HĐH đất nớc, chủ trơng chú trọng xây
dựng cơ sở hạ tầng và xuất hiện ngày càng nhiều khu công nghiệp trong cả nớc
góp phần tăng trởng kinh tế và thu nhập quốc dân, cố gắng đạt tốc độ tăng trởng
khoảng 5-6% trong những năm tới và có khả năng nhu cầu hàng dệt may của hơn
80 triệu ngời dân Việt Nam cũng sẽ tăng theo.
Những yếu tố trên bớc đầu tạo điều kiện cho công nghiệp dệt may thay đổi
nhiều mặt, thị trờng tiêu dùng sẽ có dịp phát triển với tốc độ nhanh hơn, nhiều DN
dệt may ra đời trong đó ngày càng có nhiều DN thuộc các thành phần kinh tế cổ
phần, TNHH, DNTN, liên doanh và 100% vốn đầu t nớc ngoài. Các chủng loại
sản phẩm dệt may ngày càng phong phú hơn, đa dạng hơn, chất lợng đợc nâng
23
Đề án kinh tế thơng mại
cao, giá cả cạnh tranh nên ngời tiêu dùng dễ dàng chấp nhận sản phẩm dệt may đ-
ợc sản xuất trong nớc. Các khách hàng nớc ngoài cũng mong muốn mua sản
phẩm dệt may xuất khẩu của nớc ta với yêu cầu sử dụng và sản xuất trong nớc với
giá thành hạ.
2.2. Thực trạng về khả năng cạch tranh của ngành công nghiệp dệt may
ở Việt Nam hiện nay
Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của KTTT. DN muốn
tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranh cao. Đặc biệt với ngành sản xuất
dệt may, do đó đặc điểm là không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử

triển cho ngành may. Kết quả là lợi ích thu đợc từ xuất khẩu thấp, chủ yếu là lấy
công làm lãi do không có mấy chênh lệch giữa giá thành và giá bán. Sự không
phát triển về công nghệ và thời trang đã làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm
dệt may Việt Nam đi rất nhiều, nhất là trên thị trờng EU. Theo thống kê, trong
tổng số 63 tỷ USD quần áo nhập khẩu vào thị trờng này hàng năm, chỉ có khoảng
9 tỷ USD quần áo tiêu dùng bình thờng, số còn lại (khoảng 87%) là sử dụng theo
mốt. Điều đó có nghĩa, giá trị hàm lợng chất xám trong sản phẩm đợc quan tâm
hơn giá trị vật liệu cấu thành nên nó.
Sự phát triển khập khiễng giữa ngành dệt và ngành may trong nớc cũng ảnh
hởng lớn tới khả năng cạnh tranh của ngành dệt may. Hàng năm, để đảm bảo hoạt
động xuất khẩu, ngành may phải nhập khẩu khoảng 80% nguyên phụ liệu mà chủ
yếu là các loại vải. Nguyên nhân là do máy móc thiết bị của ngành dệt nớc ta đã
cũ kỹ, lạc hậu mà tiềm lực trong nớc cha có điều kiện để hiện đại hoá một cách
đồng bộ, dẫn đến việc các nguyên liệu do ngành dệt trong nớc cung cấp không
đáp ứng đợc những yêu cầu về thông số kỹ thuật của bên đặt hàng xuất khẩu; các
công ty dệt thờng không đảm bảo thời hạn giao hàng, gây ảnh hởng tới tiến độ sản
xuất của ngành may xuất khẩu. Thực tế là do ngành dệt và may trong nớc cha có
sự gắn kết giữa các khâu và thiếu sự hợp tác vì mục tiêu chung - mục tiêu hớng
về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Việc liên tục phải nhập khẩu nguyên phụ liệu
của nớc ngoài dẫn đến tăng giá thành sản phẩm may, sức cạnh tranh của sản phẩm
vì thế mà giảm đi trên thị trờng quốc tế.
Cơ chế quản lý kinh tế nói chung và quản lý XNK của nớc ta nói riêng còn
nhiều bất cập, nhng bất lợi lớn hơn của các DN Việt Nam là sự bất bình đẳng so
với DN thuộc các nớc cùng khối ASEAN. Chẳng hạn, EU đã cho các DN Việt
Nam đợc hởng quy chế tối huệ quốc (MFN) và chế độ u đãi thuế quan phổ cập
(GSP), nhng những điều kiện về xuất xứ hàng hoá mà EU áp dụng đối với hàng
hoá của Việt Nam rất chặt chẽ, nên tỷ lệ hàng Việt Nam đợc giảm thuế nhập khẩu
theo GSP thực tế rất thấp. Còn trên thị trờng Mỹ, hàng dệt may Việt Nam cũng
cha đợc hởng quy chế MFN cũng nh GSP, nên hàng may xuất khẩu của Việt Nam
sang Mỹ phải chịu nhiều loại thuế cao làm cho khả năng cạnh tranh của sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status