z
Viết một đề tài nghiên cứu khoa học là một trong những việc khó
nhất mà tôi phải hoàn thành từ trước đến nay. Trong quá trình thực hiện đề
tài tôi đã gặp rất nhiều khó khăn và bỡ ngỡ. Nếu không có những sự giúp
đở và động viên của nhiều người có lẽ khó có thể tôi hoàn thành tốt đề tài
này.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến thầy TS. Nguyễn Văn
Tân, người trực tiếp hướng d
ẫn tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi dành lời cảm ơn tiếp theo cho thầy cô ở trường đại học Lạc
Hồng, những người bạn đường trên hành trình đi tìm tri thức, những người
đã hướng dẫn, hỗ trợ tôi suốt bốn năm học đại học.
Cảm ơn những Anh, Chị trong cơ quan lao động thực tế đã nhiệt tình
giúp đở tôi trên con đường thu thập tư liệu và đóng góp ý kiế
n cho đề tài
của tôi.
Tôi cảm ơn bạn bè mình, những người bạn thân trong suốt 4 năm đại
học đã giúp đở và động viên tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Lời cuối, con xin chân thành cảm ơn ba mẹ, những Người đã sinh
thành, dưỡng dục và nuôi dạy con nên người. Suốt đời này con luôn ghi
nhớ ơn Người.
Mặc dù tôi đã cố gắng hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học trong
phạm vi và khả năng cho phép nh
ưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi kính mong nhận được sự cảm thông và tận tình chỉ
bảo của Quý thầy cô và các bạn.
Sinh viên thực hiện
Trần Quang Đôn
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
1.3.2 Quy trình phát hành và thanh toán thẻ 19
1.3.2.1 Quy trình phát hành thẻ 19
1.3.2.2 Quy trình thanh toán thẻ 20
1.4 Một số lợi ích của thẻ thanh toán 22
1.4.1 Đối với Ngân hàng phát hành 22
1.4.2 Đối với chủ thẻ 23
1.4.3 Đối với Ngân hàng thanh toán 24
1.4.4 Đối với CSCNT 24
1.5 Các nhân tố tác động đến hoạt động thanh toán thẻ 25
1.5.1 Nhóm nhân tố khách quan 25
1.5.2 Nhóm nhân tố chủ quan 27
1.6 Các loại rủi ro trong hoạt động thanh toán th
ẻ 27
1.6.1 Rủi ro do giả mạo 27
1.6.2 Rủi ro tín dụng 28
1.6.3 Rủi ro về kỹ thuật 28
1.6.4 Rủi ro về đạo đức của cán bộ Ngân hàng 28
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI
NHÁNH ĐỒNG NAI 30
2.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Techcombank 30
2.1.2 Sơ đồ tổ chức của Techcombank 33
2.1.3 Thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam trong vài năm gần đây 35
2.1.3.1 Về hoạt động huy động vốn 37
2.1.3.2 Về dư nợ tín dụng 38
2.1.3.3 Về dịch vụ thanh toán quốc tế 39
2.1.3.4 Về hoạt động kinh doanh thẻ 40
2.3.2.3 Hạn chế khác 63
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
2.3.3.1 Môi trường xã hội chưa phát triển 64
2.3.3.2 Môi trường cạnh tranh giữa các Ngân hàng trên thị trường 64
2.3.3.3 Nguyên nhân từ phía Ngân hàng 65
2.3.3.4 Chưa có quy chế chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về
thẻ, thẻ tín dụng và đặc biệt là chính sách quản lý ngoạ
i hối đối với các thẻ
quốc tế 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3: PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN THẺ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
ĐỒNG NAI 69
3.1 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ của NHTMCP Kỹ Thương
Việt Nam Chi Nhánh Đồng Nai 69
3.1.1 Triển vọng phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tại Việt Nam trong
những năm tới 69
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ của NHTMCP Kỹ
Thương Việt Nam Chi Nhánh Đồng Nai trong những năm tới 70
3.1.3 Mục tiêu chung của NHTMCP Kỹ Thương Việt Nam trong những năm
tới 71
3.2 Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại NHTMCP Kỹ Thương Việt
Nam Chi Nhánh Đồng Nai trong những năm tới 73
3.2.1 Nâng cao tiện ích của thẻ do Techcombank phát hành 73
3.2.2 Đẩy mạnh việc mở tài khoản cá nhân 73
3.2.3 Đa dạng hóa chủng loại thẻ phát hành 74
3.2.4 Điều chỉnh mức phí sủ dụng thẻ 75
3.2.5 Tăng cường hoạt động phòng chống rủi ro trong thanh toán thẻ 77
3.2.6 Mở rộng và phát triển mạng lưới ATM, CSCNT 78
3.2.7 Triển khai tốt hoạt động marketing về thẻ 78
PIN (Personal Identify Number) : Số mật mã cá nhân.
POS (Point Of Sale) : Máy chấp nhận thẻ
TCB : Techcombank
TCTQT : Tổ chức thẻ quốc tế
Techcombank : NH TMCP Kỹ Thương Việt Nam
TMCP : Thương mại Cổ phần
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TTKDTM : Thanh toán không dùng ti
ền mặt
Vietcombank : NH TMCP Ngoại Thương Việt Nam
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Techcombank 37
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn của Techcombank 38
Bảng 2.3: Hoạt động kinh doanh thẻ của Techcombank 40
Bảng 2.4: Quy định về giao dịch đối với thẻ F@stAcess 42
Bảng 2.5: Hạn mức thẻ Techcombank Visa Credit 44
Bảng 2.6: Số lượng thẻ phát hành tại TCB Đồng Nai 47
Bảng 2.7: Tình hình sử dụng thẻ thanh toán tại Đồng Nai 48
Bảng 2.8: Ảnh hưởng của thu nhập đế
n quyết định sử dụng thẻ của khách hàng 50
Bảng 2.9: Kiểm định mối liên hệ giữa thu nhập và quyết định sử dụng thẻ của khách
hàng 51
Bảng 2.10: Mục đích sử dụng thẻ của người dân ở Đồng Nai 54
Bảng 2.11: Kiểm định giả thuyết về khách hàng sử dụng thẻ chủ yếu để gửi và rút
tiền từ thẻ 56
Bảng 2.12: Mức
độ hài lòng và trục trặc của khách hàng sử dụng thẻ Ngân hàng tại
Đồng Nai 57
Bảng 2.13: Tình hình giao dịch thẻ của TCB ĐN qua các năm 58
Hình 2.1: Thẻ F@stAcess 39
Hình 2.2: Thẻ F@stAcess – I 40
Hình 2.3: Thẻ Techcombank Visa Debit 41
Hình 2.4: Thẻ Techcombank Visa Credit 42
Hình 2.5: Thẻ Techcombank Vietnam Airlines 43
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tiền mặt đã xuất hiện từ lâu và là một phương thức thanh toán không thể thiếu
ở bất cứ một quốc gia nào. Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, có rất nhiều
phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện dụng và hiện đại hơn ra đời và được gọi
chung là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Và thẻ thanh toán là một
trong những phương tiện TTKDTM được sử
dụng phổ biến nhất trong giai đoạn
hiện nay.
Cùng với sự phát triển của hệ thống NH và những ứng dụng thành tựu công
nghệ thông tin, tự động hóa…, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã,
đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền
mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là
phương tiệ
n thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa.
Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi
lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt
động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt có thể dẫn đến
một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để
tổ chức hoạt động thanh toán
(như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm,
đếm tiền của hệ thống NH, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn
NHNN thừa nhận một thực tế rằng, mặc dù số l
ượng cá nhân sử dụng thẻ
ATM đã vượt mục tiêu đã đề ra cho năm 2010, nhưng trên thực tế, người dân chỉ sử
dụng thẻ ATM để rút tiền mặt thanh toán hàng hóa dịch vụ.
Đại diện Vụ Thanh toán – NHNN cho biết, nguyên nhân chính của vấn đề này
là do chất lượng, tiện ích mới trong thanh toán không dùng tiền mặt còn hạn chế,
các tiện ích thiết thực và phổ biến chưa được triển khai mạnh.
Các d
ịch vụ thanh toán trực tuyến như mobile banking, internet banking, ví
điện tử… mới chỉ dừng ở qui mô nhỏ hẹp, chưa triển khai trên diện rộng để đáp ứng
nhu cầu thanh toán nhỏ lẽ của khách hàng.
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ thanh toán tiền mặt lớn. Việc
dùng tiền mặt thanh toán dẫn đến nhiều thiệt hại cho cả cơ quan quản lý và người
tiêu dùng, như: tốn kém chi phí, không an toàn, d
ễ bị cướp, mất trộm; tạo nhiều cơ
3
hội cho kinh tế ngầm, trốn thuế, tham nhũng; khó quản lý, kiểm soát chính xác thu
nhập của những người có thu nhập cao để tính thuế thu nhập cá nhân.
Chính vì thế, khi các NH phát triển các dịch vụ đa dạng và hiện đại chính là
động thái quyết định thúc đẩy nhanh hiện thực hóa mục tiêu không dùng tiền mặt.
Thị trường Việt Nam có đầy đủ các loại hình, thẻ thanh toán cá nhân, thẻ
thương mại, thanh toán qua mobile, internet, … Vấn đề còn lại là phát triển các d
ịch
vụ dựa trên các công nghệ thanh toán này để thanh toán không dùng tiền mặt thiết
thực và gần gũi hơn với cuộc sống người dân. Chỉ như thế thì thẻ NH và thanh toán
không dùng tiền mặt mới thiết thực và được ưa chuộng.[11]
Trước đây, đề tài nghiên cứu khoa học của tác giả Trần Nguyên Linh đã bàn
về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi đề tài nghiên cứu sẽ đi sâu vào phân tích những khía
c
ạnh khác nhau. Nếu như bài nghiên cứu của tác giả đi trước chỉ nghiêng về suy
• Địa bàn điều tra: Đồng Nai
• Đối tượng: Công chức, Nhân viên văn phòng, Tự doanh, Sinh viên, Công
nhân,…
• Số phiếu phát ra và thu về: 80 phiếu
• Thời gian khảo sát: 15/02/2011 đến 05/04/2011
• Phương pháp điều tra: phát phiếu điều tra cho từng đối tượng điều tra và
hướng dẫn trả lời.
Phương pháp so sánh: so sánh tình hình tài chính giữa các kỳ tại NH.
Phương pháp thống kê: nhằm xử lý số liệu đã thu thập được để đưa ra báo cáo.
Cụ thể thống kê bằng phần mềm SPSS.
Nguồn dữ liệu được thu thập từ các báo cáo của trung tâm thẻ, của NH
Techcombank, các tạp chí, các website có liên quan do chính tác giả tổng hợp và xử
lý.
6. Những đóng góp mới của đề tài:
Qua thời gian trãi nghiệ
m thực tế, dựa vào tình hình thực tế tại NH và qua các
báo cáo, số liệu cụ thể tại NH và kết quả điều tra được đã làm cho đề tài của tác giả
có những tính mới sau:
Từ định hướng phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại NH và từ kết quả khảo
sát tực tế, tác giả đã đưa ra những giải pháp phát triển hoạt động thanh toán thẻ tại
5
NH. Đó là những giải pháp về kỹ thuật công nghệ, về con người, về hoạt đông
marketing …
Đồng thời đề tài cũng đề xuất triển khai phát hành một số loại thẻ phù hợp với
tình hình hiện nay.
Từ những giải pháp trên, đã giúp cho mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ và hạn
chế những rủi ro trong thanh toán thẻ tại NH.
7. Hạn chế của đề tài:
Hoạt động kinh doanh thẻ đa dạng, phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động. Trong
giới hạn của đề tài chỉ nghiên cứu và giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình
hưởng một mức lợi tức còn những người cần tiền sẽ có
được số tiền họ cần với mức
phí hợp lý. [2]
Có thể nói NHTM nói riêng và hệ thống tài chính NH nói chung chiếm một vị
trí quan trọng trên nền kinh tế và nó rất nhạy cảm đối với các biến động kinh tế và
ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động, đời sống kinh tế xã hội. [2]
Luật tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997,
định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một loại hình t
ổ chức tín dụng được thực hiện toàn
bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định
nghĩa: Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định
của Luật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ,
7
làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Luật tổ chức tín dụng không có định nghĩa hoạt động NH vì khái niệm này đã
được định nghĩa trong Luật NHNN, cũng do Quốc hội khoá X thông qua cùng ngày.
Luật NHNN định nghĩa: Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ Ngân hàng với nộ
i dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.[1], ( Trang 15)
Dù có định nghĩa như thế nào thì tập trung lại có thể nói NHTM là một tổ
chức trung gian tài chính thực hiện ba nghiệp vụ chính là nhận tiền gửi, cho vay và
cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng.
1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại:
Đồng hành với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
sản xuất hàng hóa
và lưu thông tiền tệ cũng như sự phát triển của các chế độ xã hội, chức năng của
NHTM ngày càng phong phú, mở rộng và hoàn thiện. Tuy nhiên, xét về bản chất
dịch vụ NH, chức năng này xuất phát từ chính chức năng đầu tiên của NH là nhận
tiền gửi. Các cá nhân tổ chức, trên cơ sở mở các tài khoản tiền gửi thanh toán hay
các tài khoản tiền gửi khác nhằm giao dịch khi có nhu cầu thanh toán có thể uỷ
quyền cho NH thực hiện giúp mình: thu hộ, chi hộ … Theo pháp luậ
t ở hầu hết các
nước và ở nước ta, thì chỉ có các NH mới được phép mở tài khoản tiền gửi thanh
toán hay tài khoản tiền gửi giao dịch cho khách hàng mà không một định chế nào
được phép làm điều này.[1], (Trang 16-22)
1.1.3 Những hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại:
Do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, các NH không ngừng tăng
cường mở rộng danh mục các sản phẩm của NH nhằ
m đáp ứng nhu cầu ngày càng
đa dạng của khách hàng, sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đạt được lợi nhuận cao.
Tuy nhiên, có thể sắp xếp các hoạt động đó vào ba nhóm sau:
− Hoạt động huy động tiền gửi.
− Hoạt động tín dụng.
− Hoạt động cung cấp các dịch vụ.
1.1.3.1 Hoạt động huy động tiền gửi:
Khác với các doanh nghiệp phi tài chính, nguồn vốn ch
ủ sở hữu của các
NHTM chiếm rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, bởi vậy để đảm bảo cho hoạt động của
9
mình công tác quan trọng đầu tiên của các NHTM đó chính là hoạt động huy động
vốn. Công tác huy động vốn bao gồm: huy động vốn tiền gửi và huy động vốn phi
tiền gửi. Các NHTM huy động các nguồn vốn nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh
doanh thông qua các nghiệp vụ: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
tiết kiệm, phát hành các chứng từ có giá, vay của các NH và trung gian tài chính
khác … [1], (Trang 30)
1.1.3.2 Hoạt độ
ng tín dụng:
mình là một trung gian tài chính có nhiều quan hệ với khách hàng, có khả năng tiếp
cận với nhiều nguồn thông tin, các NH ngày nay đã cung cấp các d
ịch vụ khác nhau
từ dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, môi giới, tư vấn tài chính … cho đến
việc lập két giữ tiền, của cải phục vụ cho khách hàng. Các dịch vụ này có thể hoàn
toàn độc lập hoặc có liên quan tới hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng (đặc
biệt là dịch vụ thanh toán) nhưng chúng đều đem lại thu nhập cho NH dưới dạng
phí. Hiện nay, thu nhập từ hoạt
động cung cấp các dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng thu nhập của các NHTM. [1], (Trang 30-36)
1.2 Khái quát chung về thẻ Ngân hàng:
1.2.1 Lịch sử phát triển của thẻ Ngân hàng:
1.2.1.1 Sự ra đời và phát triển của thẻ Ngân hàng trên thế giới:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được
nâng cao, nhu cầu tiêu dùng cũng vì thế phát triển mạnh và qua đó nhu cầu thanh
toán nhanh, thuận tiện và an toàn đã trở thành một yêu c
ầu của khách hàng đối với
NH. Điều này gây áp lực lên các NH, các NH phải tìm ra các sản phẩm mới, dịch vụ
mới hoặc ít ra phải nâng cao chất lượng các dịch vu hiện đang có của mình nhằm
cung cấp cho khách hàng những sản phẩm, những dịch vụ tốt nhất. Cũng trong thời
gian đó, khoa học kỹ thuật trên thế giới đã có những bước phát triển vượt bật trong
lĩnh vực công ngh
ệ thông tin tạo điều kiện thuận lợi cho các NH, các tổ chức tín
dụng phát triển và hoàn thiện các sản phẩm, các dịch vụ của mình, đặc biệt là các
phương thức thanh toán của mình, trong đó phải kể đến sự ra đời của các phương
thức thanh toán bằng thẻ.
Những hình thức sơ khai của thẻ lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ vào năm 1920
với cái tên tạm gọi là ”
đĩa mua hàng” (shooper’s plate). Người sở hữu “đĩa” này sẽ
được mua hàng tại cửa hiệu phát hành ra chúng và hàng tháng họ sẽ hoàn trả tiền
12
Hình thức thanh toán thẻ nhanh chóng được ứng dụng hầu hết ở các châu lục
khác ngoài Mỹ, năm 1960 chhiếc thẻ nhựa đầu tiên xuất hiện tại Nhật, điều này cho
thấy sự phát triển của thẻ ở Châu Á. [11]
1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thẻ Ngân hàng tại Việt Nam:
Năm 1990 hợp đồng làm đại lí chi trả thẻ Visa giữa NH Pháp BFCE và NH
Ngoại thương Việt Nam mở
đầu cho sự du nhập của thẻ thanh toán vào Việt Nam .
Sự liên kết này chủ yếu là nhằm phục vụ cho lượng khách du lịch quốc tế đang đến
Việt Nam ngày càng nhiều. Sau NH Ngoại Thương, Sài Gòn Thương Tín cũng liên
kết với trung tâm thanh toán thẻ Visa về làm đại lí thanh toán. Có lẽ chính sách mở
cửa thông thoáng đã đem lại cho Việt Nam một bộ mặt kinh tế – xã hội nhiều triển
vọng. Các dự án đầu tư n
ước ngoài tăng từ số lượng đến quy mô, các định chế tài
chính lớn đã chú ý đến Việt Nam và đi theo những tập đoàn này là các dịch vụ song
hành trong đó thẻ thanh toán là không thể thiếu được.
Năm 1995 cùng với NH Ngoại thương TP.HCM, NHTMCP Á Châu, NH Liên
doanh First-Vina-Bank và NHTMCP Eximbank được Thống đốc NHNN Việt Nam
cho phép chính thức gia nhập TCTQT Mastercard.
Năm 1996 NH Ngoại thương chính thức là thành viên của tổ chức Visa
International. Tiếp sau đó là NH Á Châu, NH Công thương Việt Nam cũng lần lượt
là thành viên chính thức của tổ chức Visa Card, trong đó NH Ngoại thương và Á
Châu thực hiện thanh toán trực tiếp với tổ chức này. Cũng trong năm này NH Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank) phát hành thí điểm thẻ NH đầu tiên, đồng thời Hội
các NHTT thẻ Việt Nam cũng được thành lập với bốn thành viên sáng lập gồm
Vietcombank, NHTMCP Á Châu, NHTMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) và First
Vinabank. Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ lúc ấy chỉ là quyết định số 74 do
Thống
đốc NHNN kí ban hành ngày 10/4/1993, qui định “thể lệ tạm thời về phát
hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở Việt Nam vào thời điểm đó
tại các điểm chấp nhậ
n thanh toán bằng thẻ.
Thẻ thanh toán là phương thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua
máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa NH, Tổ chức tài
chính với các điểm thanh toán (Merchant). Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh
chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán.
14
Tóm lại: các cách diễn đạt trên đều phản ánh lên đây là một phương thức
thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch
vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy rút tiền tự động.
[3], [14]
1.2.3 Đặc điểm cấu tạo của thẻ Ngân hàng:
Thẻ thường thiết kế với kích thước chữ nhật tiêu chuẩn để phù hợp với khe
đọ
c thẻ, có kích thước thông thường là 8,5cm x 5,5cm. Trên bề mặt thẻ dập nổi tên
chủ thẻ, số thẻ, băng giấy để chủ thẻ ký tên, và băng từ (thẻ từ) hoặc chip (thẻ chip)
lưu trữ thông tin về tài khoản đã được khách hàng đăng ký tại NH nào đó. Các góc
điều được gọt tròn gồm có hai mặt:
• Mặt trước của thẻ:
− Tên, biểu tượng thẻ và huy hi
ệu của tổ chức phát hành thẻ.
− Số thẻ: là số NH làm riêng cho mỗi chủ thẻ, số này được dập nổi trên thẻ . Số
này NH dùng để quản lý khách hàng khi giao dịch.
− Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ này được lưu hành.
− Họ và tên chủ thẻ.
• Mặt sau của thẻ:
− Dãy băng từ có khả năng lưu trử thông tin như: số
thẻ, ngày hiệu lực, tên
khách hàng, tên NHPH, số PIN.
− Băng chữ ký mẫu của khách hàng.[3], [14]
qua, nhưng đã bộc lộ một số nhược điểm: do thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá
được, thẻ chỉ mang thông tin cố định, không gian chứa dữ liệu ít, không áp dụng
được kỹ thuật mã hoá, bảo mậ
t thông tin
− Thẻ thông minh (Smart Card): đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán,
thẻ có cấu trúc hoàn toàn như một máy vi tính. [3], [14]
Thẻ
băng
từ
Thẻ
rút
tiền
mặt
Thẻ
vàng
Thẻ
thường
Thẻ
trong
nước
Thẻ
quốc
tế
Thẻ do
tổ chức
phi
Ngân
hàng
phát
hành
cấp, có mức thu nhập, mức sống và nhu cầu tài chính cao. Loại thẻ này tùy theo
từng vùng mà có hạn mức tín dụng khác nhau. [3], [14]
1.2.4.3 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ:
− Thẻ tín dụng (credit card):
Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ
trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành
thẻ.
− Thẻ ghi nợ (debit card): Là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ
trong phạm vi số tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại một tổ
chức cung ứng dịch vụ thanh toán
được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuôc vào số dư hiện hữu
trên tài khoản của chủ thẻ.
Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản:
Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập
tức vào tài khoản chủ thẻ.
Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đợ
c khấu trừ vào tài
khoản chủ thẻ sau đó vài ngày.
− Thẻ rút tiền mặt (Cash card): là loại thẻ rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự
động hoặc ở NH. Với chức năng chuyên biệt chỉ dùng để rút tiền, yêu cầu đặt ra đối
với loại thẻ này là chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản NH hoặc chủ thẻ được
cấp tín dụng thấu chi m
ới sử dụng được.
Thẻ rút tiền mặt có hai loại:
Loại 1: chỉ rút tiền tại những máy tự động của NHPH.
Loại 2: được sử dụng để rút tiền không chỉ ở NHPH mà còn được sử dụng
để rút tiền ở các NH cùng tham gia tổ chức thanh toán với NHPH thẻ. [3], [14]