LUẬN VĂN: Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mĩ - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Định hướng và một số giải pháp đẩy
mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam vào thị trường Mĩ

Lời mở đầu gành dệt may là một ngành tiên phong của phần lớn các quốc gia khi bước vào công
cuộc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vị trí quan trọng của ngành dệt may trong
nền kinh tế là do ngành này phục vụ nhu cầu tất yếu của con người, tạo được nhiều việc
làm cho xã hội, đồng thời việc xuất khẩu hàng dệt may giúp cho cán cân thanh toán quốc
tế của nước xuất khẩu ngày càng tốt hơn.
Quá trình phát triển của các nước công nghiệp tiên tiến như Anh, Pháp, Nhật trước
đây, cũng như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore hiện nay đều đã trải qua bước phát triển
sản xuất, xuất khẩu những sản phẩm dệt may và coi đây là một ngành xuất khẩu chủ yếu.

rất tiềm năng, nhưng để hàng dệt may Việt Nam chiếm lĩnh được thị trường Mĩ lại không
phải dễ; bởi những diễn biến phức tạp của động thái thị trường, những yếu tố ảnh hưởng
như hệ thống pháp luật, chính sách hạn chế nhập khẩu tinh tế, hạn ngạch, luôn làm nản
lòng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Nhưng cũng chính bởi vậy, việc tìm kiếm các
giải pháp hợp lý, mang tính thực tiễn cao nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt
Nam sang thị trường này lại luôn hấp dẫn. Thực tế, đã có đông đảo các tác giả tham gia
nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt nam sang thị trường Mĩ,
theo đó một khối lượng lớn các bài viết liên quan ra đời. Theo trào lưu chung tôi mạnh
dạn nghiên cứu đề tài này với mong muốn tìm ra những giải pháp mang tính mới mẻ và
thực tế cao nhằm giúp các doanh nghiệp dệt may Việt nam có thể tham khảo, đánh giá từ
đó tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất cho mình, đồng thời đây cũng tài liệu tham khảo
bổ ích cho các bạn đọc quan tâm đến dệt may Việt nam. CHƯƠNG I
Lý LUậN CHUNG Về XUấT KHẩU
và tình hình sản xuất, buôn bán hàng dệt may
trên thế giới

I . khái niệm và vai trò của xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động bán, cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho bên nước ngoài (bao
gồm việc bán, cung cấp hàng hoá và dịch vụ sang thị trường nước ngoài; bán, cung cấp
hàng hoá và dịch vụ cho người nước ngoài ở trong nước hay bán, cung cấp hàng hóa và
dịch vụ cho các doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp, khu chế xuất ở trong nước hoặc
hàng hoá và dịch vụ từ các khu chế xuất bán ra thị trường trong nước) trên cơ sở dùng
tiền tệ làm phương tiện thanh toán; tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một bên hay hai

khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô, tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế. Một quốc gia đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá tất
nhiên là cần nhập khẩu những thiết bị công nghệ hiện đại để khai thác chế biến nguồn tài
nguyên sẵn có. Tuy nhiên, những quốc gia này thường không có đủ tiềm lực tài chính để
làm việc đó, ngoài những biện pháp như vay nợ, nận tài trợ nước ngoài, quốc gia này
thường chọn biện pháp an toàn là tăng cường xuất khẩu những gì sẵn có để bổ xung cho
nguồn vốn hạn hẹp của mình.
 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất
Tuỳ thuộc vào chính sách hướng ngoại hay hướng nội của mỗi quốc gia mà xuất khẩu
có mức độ tác động đến chuyển dịch cơ cấu và phát triển sản xuất khác nhau
+ Với chính sách hướng nội, các hoạt động sản xuất đều nhằm phục vụ các nhu cầu
trong nước là chủ yếu, việc xuất khẩu chỉ được thực hiện đối với những sản phẩm thừa so
với nhu cầu xã hội.Vì vậy, xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi nhỏ, tăng trưởng
chậm, không phát huy được lợi thế so sánh của quốc gia, các ngành sản xuất kinh doanh
không có cơ hội phát triển. Điều này có nghĩa là cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và
không kích thích phát triển mạnh sản xuất vì hoạt động sản xuất phụ thuộc phần lớn vào
nhu cầu trong nước và nguồn lực nội tại của quốc gia.
+ Với chính sách hướng ngoại, thị trường thế giới được coi là mục tiêu để tổ chức sản
xuất và xuất khẩu; việc xuất khẩu hàng hoá có tác động tích cực đến sự phát triển của các
ngành sản xuất và dịch vụ trong cùng nhóm ngành; các nhóm ngành trong tổng thể nền
kinh tế lại có liên quan với nhau trên giác độ vĩ mô, do đó xuất khẩu là nhân tố có ảnh
hưởng đáng kể đến chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và thúc đẩy phát triển nền sản xuất
của toàn xã hội:
_ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nhóm ngành hàng có liên quan có cơ hội phát triển.
Chẳng hạn, ngành may công nghiệp phát triển, sẽ kéo theo sự phát triển ngành dệt phục
vụ nó phát triển, tiếp đến sự phát triển của ngành dệt thúc đẩy sự phát triển của công
nghiệp sợi và trước đó là nghề trồng bông, dâu tằm…
_ Xuất khẩu có vai trò thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cường hiệu quả sản xuất của
từng quốc gia. Thông qua xuất khẩu, nhu cầu về một sản phẩm sẽ tăng cao, nó lôi cuốn
một lượng lớn lao động xã hội tương xứng, vô hình chung lượng lao động này sẽ chuyên

sống nhân dân.
Xuất khẩu kích thích phát triển sản xuất trong nước qua đó tạo việc làm cho lao động
xã hội, tăng thu nhập, tăng khả năng chi tiêu của họ, từ đó giảm thất nghiệp trong nước.
Mặt khác, xuất khẩu còn tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng làm cho người dân
trở nên sung túc hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của họ.
 Xuất khẩu làm nền tảng để mở rộng và phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau.
Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu, cơ bản, là hình thức ban đầu của hoạt
động kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tế, bảo
hiểm, vận tải quốc tế, tín dụng quốc tế phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của các
ngành này lại là những điều kiện tiền đề cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
2.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
Mở rộng thị trường là nhu cầu tất yếu của bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển
bền vững và có vị thế trên thương trường, việc mở rộng này được thực hiện phần lớn
thông qua hoạt động xuất khẩu, xuất khẩu đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích sau:
 Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh
tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Những yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp
phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Chẳng hạn, một doanh
nghiệp may muốn đưa sản phẩm của mình vào thị trường Mĩ, họ phải tổ chức lại cơ cấu
sản xuất sao cho có hiệu quả nhất để sản phẩm của họ cạnh tranh được với các sản phẩm
cùng loại của các đối thủ cạnh tranh, đồng thời phải thoả mãn các điều kiện mà phía Mĩ
đưa ra.
 Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải đổi mới và hoàn thiện công tác
quản lý sản xuất, kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành. Sản phẩm đã
xuất khẩu luôn gặp sự cạnh tranh mạnh mẽ của các sản phẩm cùng loại trên cùng một thị
trường, nguy cơ bị mất vị thế luôn có thể sảy ra, các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu
luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm của mình để giữ vững
vị thế và tiếp tục mở rộng thị trường.
 Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ
kinh doanh với các bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng

hoá, giá cả và các điều kiện giao hàng Sau khi đã thoả thuận đầy đủ mọi điều khoản, các
bên sẽ ký kết hợp đồng xuất khẩu.
Hạn chế của hình thức xuất khẩu này là có thể làm tăng rủi ro trong kinh doanh do các
doanh nghiệp chưa hiểu rõ thị trường bên ngoài, chưa nắm rõ được các thói quen kinh
doanh, cũng như thị hiếu của người tiêu dùng; các rủi ro trong đàm phán và ký kết hợp
đồng, rủi ro về vận tải biển, rủi ro trong giao nhận hàng.
Tuy nhiên, hình thức này lại có ưu điểm là giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt được
các chi phí trung gian do đó có thể tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Do các doanh
nghiệp có thể liên hệ trực tiếp, đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài nên
có thể nắm bắt nhanh và chính xác nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, xu hướng biến động
của thị trường từ đó có thể đưa ra những chính sách linh hoạt về sản phẩm sao cho phù
hợp; nhờ đó việc mở rộng thị trường cho sản phẩm sẽ thuận lợi hơn.
Xuất khẩu trực tiếp thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có nguồn vốn đủ lớn,
đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực và trình độ chuyên môn cao; đồng thời sản
phẩm được xuất khẩu thường đã có vị thế trên thị trường trong nước và quốc tế.
2. Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu mà trong đó việc thiết lập quan hệ giữa
người bán và người mua đều phải thông qua khâu trung gian thương mại- người thứ ba-
đó là các môi giới hoặc đại lý.
Do quá trình trao đổi giữa người bán với người mua phải thông qua một người thứ ba
nên tránh được những rủi ro gây ra từ việc không am hiểu thị trường như nhu cầu, thị hiếu
của người tiêu dùng hoặc do sự biến động của nền kinh tế.Tuy nhiên áp dụng phương
thức giao dịch này, doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều vào các đại lý, các đại lý hoạt
động có hiệu quả thì hoạt động xuất khẩu mới suôn sẻ, đồng thời doanh nghiệp phải mất
một tỷ lệ hoa hồng nhất định, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống.
Hình thức này thường áp dụng ở những doanh nghiệp mới vươn ra thị trường nước
ngoài, sản phẩm xuất khẩu thường là những sản phẩm mới hoặc những sản phẩm có tính
cạnh tranh cao .

3. Xuất khẩu uỷ thác

công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên (bên đặt gia công) để chế
biến ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu lại một khoản phí gọi là
phí gia công.
Hình thức này áp dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển có
nhiều tài nguyên, lao động dồi dào với giá rẻ nhưng lại thiếu vốn yếu kém về công nghệ,
thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Gia công quốc tế đem lại lợi ích cho cả hai bên. Bên đặt gia công tận dụng được giá rẻ
về nhân công, nguyên phụ liệu của nước gia công. Bên nhận gia công tạo được việc làm
cho lao động trong nước, nhập được máy móc thiết bị, công nghệ mới. Tuy nhiên họ dễ
bị phụ thuộc vào nước đặt gia công về số lượng, chủng loại, mẫu mã hàng hoá gia công
và đặc biệt là dễ bị ép giá gia công.
6. Xuất khẩu tại chỗ
Đây là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia cho người nước ngoài ở
quốc gia đó hoặc việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ của các khu chế xuất ra thị trường
nước sở tại. Đặc điểm của loại hình xuất khẩu này là hàng hoá không cần vượt ra biên
giới quốc gia mà người tiêu dùng vẫn có thể mua được. Người xuất khẩu không cần phải
trực tiếp ra nước ngoài để đàm phán với người nhập khẩu mà chính người nhập khẩu lại
tìm đến người xuất khẩu. Và người xuất khẩu cũng không cần phải làm thủ tục hải quan,
mua bảo hiểm, hay thuê phương tiện vận chuyển do đó có thể giảm được một lượng chi
phí khá lớn.
7. Xuất khẩu theo nghị định thư
Đây là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là trả nợ) được ký theo nghị định thư
giữa hai chính phủ. Xuất khẩu theo nghị định thư có nhiều ưu điểm như khả năng thanh
toán chắc chắn (do Nhà nước trả cho đơn vị xuất khẩu), giá cả hàng hóa tương đối cao,
việc sản xuất thu mua có nhiều ưu tiên Trên thực tế, hình thức này ít được áp dụng, chủ
yếu là ở các nước XHCN trước kia.

8. Tái xuất khẩu
Tái xuất khẩu là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu,
chưa qua chế biến ở nước tái xuất.

nghiên cứu nền kinh tế của từng nước dưói các góc độ: Thứ nhất, cấu trúc công nghiệp
của nước đó là nền kinh tế tự cấp tự túc, là kinh tế xuất khẩu nguyên liệu thô, nền kinh tế
đang công nghiệp hoá hay là nền kinh tế công nghiệp hoá; từ đó xác định các yêu cầu về
sản phẩm và dịch vụ mà thị trường tại nước đó đang cần. Thứ hai, từ việc nghiên cứu cấu
trúc công nghiệp và các nhân tố chính trị xác định mức phân phối thu nhập từ đó xác định
thị trường là hấp dẫn hay kém hấp dẫn. Thứ ba, động thái kinh tế của quốc gia đó là nước
có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, có tốc độ tăng trưởng ổn định, có mức tăng trưởng
thấp hay là nước có nền kinh tế trì trệ hoạc suy thoái; việc làm này giúp doanh nghiệp xác
định tổng múc nhu cầu thì trường và tổng mức nhập khẩu sản phẩm của quốc gia nghiên
cứu từ đó xác định lường sản phẩm có thể tiêu thụ được tại thị trường này.
1.3. Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường chính trị- pháp luật: bao gồm thái độ
đối với người kinh doanh nước ngoài, sự ổn định chính trị, sự điều tiết tiền tệ, tính hiệu
lực của bộ máy chính quyền, các quy định mang tính bắt buộc về pháp luật…việc nghiên
cứu này giúp doanh nghiệp nắm chắc đựơc những yếu tố ảnh hưởng bất khả kháng, xác
định được rủi ro kinh doanh cũng như biết được rõ những ưu đãi của quốc gia đối với
doanh nhân nước ngoài.
1.4. Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hoá:là việc tìm hiểu những yếu tố
thuộc về văn hoá có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, việc nghiên cứu này nhằm tìm
ra những điểm tương đồng cũng như sự khác biệt về văn hoá tiêu dùng, văn hoá đàm
phán ký kết hợp đồng kinh doanh, từ đó giúp doanh nghiệp có quyết định chính xác về
sản phẩm kinh doanh cũng như những yêu cầu trong văn hoá đàm phán ký kết hợp đồng
kinh doanh.
1.5. Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh, là việc xác định mức độ
cạnh tranh của thị trường, mức độ cạnh tranh của thị trường phụ thuộc vào số lượng các
doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trên thị trường đó và mức độ ưu đãi của chính
phủ cũng như tinh thần dân tộc của khách hàng dành cho các doanh nghiệp trong nước
hoặc tâm lý chuộng hàng ngoại, việc nghiên cứu các nhân tố này giúp doanh nghiệp xác
định đâu là đối thủ cạnh tranh, đồng thời biết được tâm lý khách hàng, từ đó có những
biện pháp phù hợp để thâm nhập thị trường.
1.6. Nghiên cứu nhu cầu thị trường: nhu cầu thị trường được đánh giá qua các chỉ tiêu

triển vọng nhất và khả năng chiếm lĩnh thị trường đó
Ngoài những nội dung cơ bản trên, doanh nghiệp kinh doanh tại thị trường nước
ngoài còn phải thực hiện việc nghiên cứu hành vi hiện thực, tập tính tinh thần của khách
hàng; nghiên cứu cách thức tổ chức thị trường nước ngoài…
2. Lập phương án kinh doanh
Trên cơ sở những kết quả của quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường, đơn vị kinh
doanh lập phương án kinh doanh. Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm
đạt đến những mục tiêu xác định trong kinh doanh.
Việc xây dựng phương án kinh doanh bao gồm các bước sau:
2.1. Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân
Trong bước này, người xây dựng chiến lược cần rút ra những nét tổng quát về tình
hình, phân tích thuận lợi và khó khăn trong kinh doanh.
2.2. Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu.
Đây là một trong những nội dung ban đầu, cơ bản nhưng rất quan trọng và cần thiết để
tiến hành hoạt động xuất khẩu. Để lựa chọn được mặt hàng mà thị trường cần, đòi hỏi
doanh nghiệp phải có một quá trình nghiên cứu, phân tích có hệ thống nhu cầu thị trường.
2.3. Lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu, doanh nghiệp cần phải tiến hành lựa
chọn thị trường xuất khẩu mặt hàng đó. Việc lựa chọn thị trường đòi hỏi doanh nghiệp
phải phân tích tổng hợp nhiều yếu tố bao gồm cả những yếu tố vi mô cũng như yếu tố vĩ
mô và khả năng của doanh nghiệp. Đây là một quá trình đòi hỏi nhiều thời gian và chi
phí.
1.3. Lựa chọn bạn hàng.
Lựa chọn bạn hàng căn cứ khả năng tài chính, thanh toán của bạn hàng và căn cứ vào
phương thức, phương tiện thanh toán. Việc lựa chọn bạn hàng luôn theo nguyên tắc đôi
bên cùng có lợi. Thông thường khi lựa chọn bạn hàng, các doanh nghiệp thường trước hết
lưu tâm đến những mối quan hệ cũ của mình. Sau đó, những bạn hàng của các doanh
nghiệp khác trong nước đã quan hệ cũng là một căn cứ để xem xét lựa chọn ở các nước
đang phát triển. Các bạn hàng thường được phân theo khu vực thị trường mà tuỳ thuộc
vào sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn để buôn bán quốc tế, mà các quốc gia ưu tiên.

m./ Điều kiện về các trường hợp bất khả kháng.
n./ Chữ ký của các bên.
Với những hợp đồng phức tạp, nhiều mặt hàng thì có thể thêm các phụ kiện là bộ
phận không tách rời của hợp đồng.
4. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán.
Sau khi đã ký kết hợp đồng hai bên thực hiện những gì mình đã cam kết trong hợp
đồng. Với tư cách là nhà xuất khẩu, doanh nghiệp sẽ thực hiện những công việc sau:
Sơ đồ 2: Trình tự các bước thực hiện hợp đồng

Gi
ục mở L/C và
kiểm tra L/C
Xin gi
ấy phép
xuất khẩu

Chu
ẩn bị hàng
hoá xuất khẩu
Ki
ểm tra hàng
hoá
U
ỷ thác

Đối với những doanh nghiệp, sau khi thu mua nguyên phụ liệu sản xuất ra sản
phẩm, cần phải lựa chọn, kiểm tra, đóng gói bao bì hàng hoá xuất khẩu, kẻ ký mã hiệu
sao cho phù hợp với hợp đồng đã ký và phù hợp với luật pháp của nước nhập khẩu.
*Kiểm định hàng hoá.
Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra số lượng, trọng
lượng của hàng hoá. Việc kiểm tra được tiến hành ở hai cấp: cơ sở và ở cửa khẩu nhằm
bảo đảm quyền lợi cho khách hàng và uy tín của nhà sản xuất.
* Thuê phương tiện vận chuyển.
Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tự thuê phương tiện vận chuyển hoặc uỷ thác cho một
công ty uỷ thác thuê tàu. Điều này phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp
đồng.
Cơ sở pháp lý điều tiết mối quan hệ giữa các bên uỷ thác thuê tàu với bên nhận uỷ thác
là hợp đồng uỷ thác thuê tàu. Có hai loại hợp đồng uỷ thác thuê tàu: Hợp đồng uỷ thác
thuê tàu cả năm và hợp đồng thuê tàu chuyến. Nhà xuất khẩu căn cứ vào đặc điểm của
hàng hoá để lựa chọn hợp đồng thuê tàu cho thích hợp.
*Mua bảo hiểm hàng hoá.
Hàng hoá trong buôn bán quốc tế thường xuyên được chuyên chở bằng đường biển,
điều này thường gặp rất nhiều rủi ro, do đó cần phải mua bảo hiểm cho hàng hoá. Công
việc này cần được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm. Có hai loại hợp đồng bảo
hiểm: hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm chuyến. Khi mua bảo hiểm cần lưu
ý những điều kiện bảo hiểm và lựa chọn công ty bảo hiểm.
*Làm thủ tục hải quan.
Hàng hoá khi vượt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục hải quan.
Việc làm thủ tục hải quan gồm ba bước chủ yếu sau:
- Khai báo hải quan: Doanh nghiệp khai báo tất cả các đặc điểm hàng hoá về số
lượng, chất lượng, giá trị, tên phương tiện vận chuyển, nước nhập khẩu. Các chứng từ
cần thiết, phải xuất trình kèm theo là: Giấy phép xuất khẩu, phiếu đóng gói, bảng kê chi
tiết
- Xuất trình hàng hoá.
- Thực hiện các quyết định của hải quan.

1.1 Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua tổng lượng
vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng sử dụng có hiệu quả các
nguồn vốn. Vốn có thể là vốn tự có, vốn huy động (từ bên ngoài hoặc từ các thành viên
thuộc doanh nghiệp ), vốn tích luỹ từ tỷ lệ chiết khấu hàng năm. Một doanh nghiệp có
nguồn tài chính mạnh, được quản lý có hiệu quả sẽ có khả năng cung ứng tốt các nguồn
hàng, có khả năng đảm nhận những đơn đặt hàng lớn, do đó khả năng chiếm lĩnh thị
trường sẽ tốt hơn.
Khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể
hiện qua các chỉ tiêu:
- Vốn chủ sở hữu (vốn tự có)
- Vốn huy động
- Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
- Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
Các tỷ lệ về khả năng sinh lợi
1.2. Yếu tố công nghệ
Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật liệu và thông
tin, nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản
xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin. Như vậy công nghệ gồm phần cứng là những
yếu tố phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: nhà xưởng, máy
móc thiết bị , phần này giúp tăng năng lực cơ bắp và trí lực của con người; và phần mềm
gồm: (1)phần con người là đội ngũ nhân lực có sức khoẻ, có kỹ năng, kỹ xảo, kinh
nghiệm sản xuất, làm việc có trách nhiệm và năng suất cao, (2)phần thông tin gồm các dữ
liệu, thuyết minh, dự án, mô tả, sáng chế, chỉ dẫn kỹ thuật, điều hành sản xuất, (3)phần tổ
chức gồm những liên hệ, bố trí, sắp xếp, đào tạo đội ngũ cho các hoạt động như phân chia
nguồn nhân lực, tạo mạng lưới, lập kế hoạch, kiểm tra điều hành .
Công nghệ của doanh nghiệp càng hiện đại thì năng suất sản xuất, chất lượng hàng
hóa càng được nâng cao; chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm giảm. Điều này làm tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm và uy tín doanh nghiệp trên thị trường trong nước, khu
vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường; đồng thời giúp doanh

đầu tư sản xuât kinh doanh dẫn đến không mở rộng được quy mô sản xuất, không mở
rộng được thị trường xuất khẩu. Một chính sách điều chỉnh lạm phát phù hợp từ phía
chính phủ sẽ khuyến khích được sản xuất trong nước và hoạt động xuất khẩu cũng được
đẩy mạnh.
2.1.3. Các chính sách liên quan đến hoạt động ngoại thương
2.1.3.1. Các chính sách thuế và phi thuế
*Thuế quan: trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị
hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế xuất khẩu được Chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất
khẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ
kinh tế đối ngoại. Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuất
trong nước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống.
Nhìn chung, công cụ này thường chỉ áp dụng đối với một số ít mặt hàng nhằm hạn chế số
lượng xuất khẩu và bổ sung cho nguồn thu của ngân sách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status