MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng
phát triển kinh tế nhiều thành phần với sự đa dạng hóa các hình thức sở hữu,
nhằm phát huy mọi tiềm lực vật chất và lao động sáng tạo của toàn dân tộc để
phát triển đất nước. Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực
lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết
vĩ mô nền kinh tế.
Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói
chung - bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước đã đóng góp rất lớn trong
quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội,
góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong
quá trình hoạt động các DNNN vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế, qui mô
nhỏ, hiệu quả kém, năng lực cạnh tranh thấp, công nghệ lạc hậu, thậm chí
một số DNNN còn làm ăn thua lỗ kéo dài… Vì vậy, vấn đề cải cách DNNN
được đặt ra cấp bách. Một trong những giải pháp cải cách mang tính chiến
lược là chuyển một bộ phận DNNN không cần nắm giữ 100% vốn sang
công ty cổ phần.
Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các
DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng nói riêng đã trải qua
một thời gian và đã thu được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, hàng loạt
vấn đề sau cổ phần hóa cần được rút kinh nghiệm, cần được giải quyết, để các
công ty cổ phần của thành phố Đà Nẵng sau cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước có thể phát triển. Đây là những vấn đề không hề đơn giản chút nào,
thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và không
thể giải quyết một sớm một chiều mà cần phải đầu tư nghiên cứu.
Thực tế, đối với thành phố Đà Nẵng năm 1997 sau khi chia tách tỉnh
Quảng Nam – Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng trở
thành đơn vị trực thuộc Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp
Nhà nước mới được Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đặc biệt
quan tâm, trong đó trọng tâm là công tác CPH các doanh nghiệp Nhà nước
thực tiễn, Tạp chí Cộng sản số 18/2004 có bài viết của đồng chí Hồ Xuân
Hùng Trưởng Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp về: CPH
DNNN kết quả, vướng mắc và giải pháp... Các bài viết nêu lên những vấn đề
lý luận và thực tiễn, về mục tiêu của CPH; về kết quả, thuận lợi, khó khăn và
các giải pháp để tháo gỡ, nhằm rút kinh nghiệm để làm tốt công tác CPH
trong thời gian đến. Tuy nhiên, còn ít công trình nghiên cứu vấn đề: “Những
vấn đề sau CPH các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà
Nẵng” dưới góc độ khoa học kinh tế - chính trị. Do đó, đề tài luận văn này
vẫn là cần thiết và không trùng lặp với các luận văn thạc sỹ kinh tế đã bảo vệ
ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khảo sát các DNNN trong ngành
thương mại ở Đà Nẵng đã cổ phần hoá, tìm ra những vấn đề vướng mắc, tồn
tại cần giải quyết. Từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp khắc phục.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận
văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Phân tích thực trạng CPH và hoạt động của các công ty cổ phần từ
CPH DNNN trong ngành TM của thành phố Đà Nẵng để rút ra những mặt
được, tồn tại và vướng mắc cần giải quyết.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại sau cổ phần
hóa các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các công ty cổ phần từ cổ phần hóa
DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng dưới góc cạnh những
tồn tại, vướng mắc, thành công.
Thời gian: từ năm 1997 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra luận văn sử
dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Chú trọng đến
phương pháp phân tích, tổng hợp.
của Đảng và Nhà nước, cộng với sự hưởng ứng từ phía các DNNN đã đạt
được những thành công nhất định. Qua khảo sát, hơn 850 công ty của Nhà
nước sau hơn 1 năm cổ phần hóa cho thấy: vốn điều lệ tăng 44%, doanh thu
tăng gần 24%, lợi nhuận tăng 140%, nộp ngân sách tăng 25%, thu nhập của
người lao động tăng 12%.
Đối với thành phố Đà Nẵng, năm 1997 sau khi chia tách tỉnh Quảng
Nam – Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, thành phố Đà Nẵng trở thành
đơn vị trực thuộc Trung ương, công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước mới được Thành ủy, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố đặc biệt quan
tâm, trong đó trọng tâm là công tác CPH các doanh nghiệp Nhà nước thuộc
thành phố quản lý, trong đó 10 doanh nghiệp thương mại sau khi sắp xếp, sáp
nhập còn lại 05 doanh nghiệp (DN), đến nay có 04 DN thực hiện xong CPH
đã đi vào hoạt động, 01 DN đang chuẩn bị CPH. Bốn doanh nghiệp CPH
xong đó là:
1- Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối là 41,54%).
2- Công ty CP cung ứng tàu biển Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 67,68%).
3- Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng (100% vốn cổ đông).
4- Công ty CP vật tư tổng hợp Đà Nẵng (vốn Nhà nước chi phối 53,72%).
Sự ra đời của công ty cổ phần từ CPH DNNN trong ngành thương mại
của thành phố Đà Nẵng nằm trong kế hoạch tổng thể của lãnh đạo Thành ủy,
UBND TP về triển khai xây dựng Đề án và tổ chức thực hiện CPH theo chủ
trương của Chính phủ. Uỷ Ban Nhân Dân thành phố thành lập Ban đổi mới và
phát triển doanh nghiệp, nhằm thường xuyên theo dõi, đôn đốc và chỉ đạo kịp
thời tiến độ thực hiện sắp xếp doanh nghiệp theo đề án được duyệt và theo
đúng quy trình. Đến cuối năm 2005 đã có 21 doanh nghiệp của thành phố Đà
Nẵng được CPH (trong đó DN thương mại là 04), bằng 65% kế hoạch được
duyệt đến cuối năm 2006.
Về các bước thực hiện tiến trình CPH đối với các doanh nghiệp trong
ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng cũng nằm trong qui trình chung của tất
cả các DNNN khi chuyển sang công ty CP và có thể được chia thành 4 bước:
(10) Đại hội cổ đông và Bầu hội đồng quản trị
Ra mắt
CTCP, đăng
ký kinh
doanh
(11) Bàn giao công việc
(12) Những công việc còn lại
1.1.1. Tình hình kinh doanh
Sau CPH đa số các doanh nghiệp thương mại của thành phố Đà Nẵng
SXKD ổn định và có hiệu quả, đã hình thành loại hình doanh nghiệp nhiều
chủ sở hữu về vốn, thực hiện được sự giám sát chặt chẽ hơn trong SXKD, huy
động được nhiều vốn từ xã hội, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thay đổi
phương thức tổ chức quản lý mới cùng với đội ngũ cán bộ quản lý thích nghi
hơn với cơ chế thị trường. Nhiều doanh nghiệp đã tự huy động và phát hành
cổ phiếu để tăng vốn Điều lệ, tuy không lớn nhưng đã thể hiện sự tự chủ trong
việc huy động các nguồn vốn phục vụ cho kinh doanh và thể hiện sự thống
nhất ý thức trong việc xây dựng và phát triển đơn vị. Từ những chuyển biến
nói trên đã nâng cao rõ rệt hiệu quả SXKD. Qua kết quả điều tra các doanh
nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau khi CPH trong
thời gian qua và 6 tháng đầu năm 2006 cho thấy, bước đầu tuy có khó khăn
nhưng nhìn chung vốn bình quân của doanh nghiệp tăng, có ¾ doanh nghiệp
trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng sau CPH hoạt động SXKD
có lãi đó là: Công ty CP thương mại dịch vụ Đà Nẵng, Công ty CP cung
ứng tàu biển Đà Nẵng, Công ty CP công nghệ phẩm Đà Nẵng, tỷ suất lãi
bình quân trước thuế tăng, mức nộp ngân sách tăng, thu nhập bình quân của
người lao động tăng, năng suất lao động tăng so với khi chưa CPH. Các
công ty đều thực hiện chia cổ tức hàng năm và mức cổ tức cao hơn so với lãi
suất ngân hàng.
Bên cạnh 03 đơn vị hoạt động SXKD có hiệu quả, còn một đơn vị KD
không có hiệu quả và có nguy cơ phá sản đó là: Công ty CP vật tư tổng hợp
càng cao của khách hàng. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước,
không ngừng nâng cao mức sống đối với người lao động, đảm bảo kinh doanh
có lãi để chia cổ tức cho cổ đông.
Kết quả khảo sát cụ thể tình hình kinh doanh của công ty thương mại
dịch vụ như sau:
Bảng 1.1: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP thương
mại dịch vụ ĐN trước và sau khi cổ phần hóa.
TT Chi tiêu ĐVT
Năm trước
khi CPH
Các năm sau CPH
Năm 2004 Năm 2005
6T
2006
1 Tổng doanh thu 1000đ 200.000.000 61.776.000 81.224.000 40.650.000
2 Kim ngạch XK USD 80.000 230.094 153.799
3 Nộp NSNN 1000đ 6.462.685 202.532 831.852 193.900
4 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 76.970
5 Thu nhập bình quân 1000đ 853 1.062 1.523 1.500
6 Cổ tức/tháng % 0,6 0,6 0,6
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP thương mại
dịch vụ từ khi CPH đến nay)
Qua bảng 1.1 ta nhận thấy sau khi chuyển sang CTCP đơn vị hoạt
động tương đối ổn định.
+ Tình hình doanh thu: doanh thu của công ty tăng, năm 2005 doanh
thu đạt 81,224 tỷ đồng cao hơn doanh thu năm 2004 (61,776 tỷ đồng) là
19,448 tỷ đồng và mức tăng là 31,48%.
+ Tình hình lợi nhuận, kim ngạch XNK: kinh doanh có lãi nhưng
không tăng, KNXK tăng.
+ Tình hình thu nhập: Sau khi CPH lợi nhuận tuy không tăng nhưng số
Tuy nhiên, với sự quyết tâm của HĐQT, BGĐ đã lãnh đạo đơn vị từng
bước ổn định và kinh doanh đạt hiệu quả, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch
năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006.
* Kết quả khảo sát cụ thể tình hình kinh doanh của công ty CP công
nghệ phẩm như sau:
Bảng 1.2: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP Công
nghệ phẩm trước và sau khi cổ phần hóa.
TT Chi tiêu ĐVT
Trước
khi CPH
Các năm sau CPH
Năm
2005
6T 2006
01 Tổng doanh thu 1000đ 332.000.000 255.000.000 123.420.000
02 Kim ngạch XK USD 1.630.000 73.900 51.000
03 Kim ngạch NK USD 1.050.000 2.303.900 76.000
04 Nộp NSNN 1000đ 1.655.000 780.000 80.000
05 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 63.540 181.000
06 Thu nhập bình quân 1000đ 867 1.200 1.500
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP công nghệ
phẩm từ khi CPH đến nay)
* Đây là doanh nghiệp mới CPH, vốn 100% là của cổ đông, Qua hơn
một năm kinh doanh ta nhận thấy tổng doanh thu, KNXK, KNNK, nộp ngân
sách của công ty giảm, do công ty thu hẹp việc kinh doanh các mặt hàng kém
hiệu quả. Mặc dù doanh thu giảm nhưng lợi nhuận của công ty vẫn không
thay đổi, thu nhập của người lao động tăng, năm 2004 thu nhập bình quân là
860.000 đồng, sau CPH năm 2005 thu nhập bình quân là 1.200.000 đồng với
mức tăng là 13,70%, 6 tháng năm 2006 1.500.000 đồng.
3) Công ty CP Cung ứng tàu biển (Vốn Nhà nước chi phối 67,68%)
05 Nộp NSNN 1000d
3.378.87
7
7.024.339 963.162 1.278.205 3.513.914 3.039.061
06
Thu nhập BQ
(người/tháng)
1000đ 799 1.068 1.413 1.398 1.420 1.500
(Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động SXKD của công ty CP Cung ứng
tàu biển từ khi CPH đến nay)
* Qua bảng 1.3 ta nhận thấy sau CPH những năm đầu công ty kinh
doanh tuy có khó khăn nhưng tình hình kinh doanh của công ty phát triển
tương đối tốt, doanh thu tăng không đều nhưng hiệu quả kinh doanh qua các
năm đều tăng, cổ tức chia cho cổ đông tăng theo từng năm, thu nhập bình
quân của người lao động tăng, với mức tăng so với những năm đầu khi mới
CPH là 30%, đóng góp cho ngân sách nhà nước lớn.
4) Công ty CP vật tư tổng hợp: (Vốn nhà nước chi phối 53,72%) (bảng 1.4).
Công ty vật tư tổng hợp Đà Nẵng là DNNN được chuyển sang Công
ty CP vật tư tổng hợp theo Quyết định số 141/QĐ-UB ngày 15 tháng 10 năm
2003 của UBND thành phố Đà Nẵng và bắt đầu chính thức đi vào hoạt động
công ty CP từ tháng 01 năm 2004.
Sau khi CPH những tháng đầu năm 2004 tình hình kinh doanh của
đơn vị thực hiện tốt, thị trường, thị phần vẫn duy trì, thu nhập của người lao
động ổn định. Nhưng đến cuối năm 2004 và đầu năm 2005 tình hình kinh
doanh giảm sút nghiêm trọng, thị trường, thị phần bị thu hẹp do thiếu vốn
hoạt động, tình hình tài chính mất cân đối, nợ bị chiếm dụng lớn không thu
hồi được, kinh doanh thua lỗ, 6 tháng đầu năm 2006 hoạt động kinh doanh
hoàn toàn ngưng hẳn, tài chính thâm hụt lớn, mất khả năng kinh doanh, đơn vị
xin phá sản, đang chờ ý kiến của lãnh đạo thành phố Đà Nẵng.
Bảng 1.4: Kết quả tình hình kinh doanh của Công ty CP Vật tư
DNNN CPH, đến chủ trương CPH của Đảng và Nhà nước cần được quan tâm
khắc phục.
1.1.2. Tình hình tài chính
Một trong những mục tiêu quan trọng của CPH là tạo khả năng huy
động vốn của xã hội một cách linh hoạt nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn
ở hầu hết các DN.
Trước CPH các DNNN trong ngành thương mại của thành phố Đà
Nẵng phần lớn có quy mô vừa và nhỏ. Hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu
vốn hoạt động. Qua khảo sát, sau CPH tình hình tài chính của đa số các doanh
nghiệp trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng được làm trong sạch,
lành mạnh, hơn nữa nợ trước CPH được Nhà nước tham gia xử lý, những
công nợ chuyển sang trước khi cổ phần các đơn vị tiếp tục xử lý thu hồi, đa số
công nợ có thế chấp, có tài sản. Nợ sau CPH được xác định trách nhiệm rõ
ràng và được qui định cụ thể trong Điều lệ hoạt động của các đơn vị; vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp đã tăng lên.
Các đơn vị vẫn duy trì và giữ vững được sự tín nhiệm đối với ngân
hàng, với các tổ chức tín dụng các khế ước vay vốn được trả đúng hạn.
Tuy nhiên, tình hình vay vốn của các doanh nghiệp trong ngành
thương mại của thành phố Đà Nẵng sau khi CPH đang gặp rất nhiều khó
khăn, Mặc dù Nhà nước qui định các công ty CP được vay vốn tín dụng tại
ngân hàng thương mại, công ty tài chính và các tổ chức tín dụng khác của
Nhà nước như các DNNN nhưng thực tế không hoàn toàn thuận lợi như văn
bản quy định (Điều 26 Nghị định số 64/2004/NĐ-CP về doanh nghiệp nhà
nước thành lập công ty cổ phần). Từ khi Nhà nước có chủ trương CPH, có
tình trạng phân biệt đối xử trong hoạt động cho vay tín dụng của các ngân
hàng thương mại nhà nước. Các DNNN có thể không cần thế chấp để được
vay vốn, các DN CP là phải có tài sản để thế chấp, các thủ tục thế chấp tài sản
ra công chứng kéo dài, chậm trễ, do các đơn vị cổ phần chưa được cấp giấy
chứng nhận sở hữu nhà đất, tài sản hoặc không có đơn vị chủ quản bảo lãnh
để vay tín chấp. Hơn nữa, ngân hàng luôn dè dặt, thận trọng khi cho công ty
CPH
Năm
2004
Năm
2005
6 T
2006
01 Vốn kinh doanh:
Trg đó:-Vốn N.nước(%)
-Vốn DN (%)
Tỷ đồng
Tỷ đồng
Tỷ đồng
4,580
3,199
1,381
2,962
1,411
1,551
2,653
1,102
1,551
2,653
1,102
1,551
02 Lợi nhuận trước thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 87.232
03 Lợi nhuận sau thuế 1000đ 107.160 652.527 360.447 87.232
04 Các khoản phải thu Tỷ đồng 20,369 10,090 11,105 13,271
05 Nợ phải trả Tỷ đồng 32,587 16,199 16,255 18,875
06 Cổ tức % % 0,6 0,6 0,6
Bảng 1.7: Tình hình tài chính của Công ty CP Cung ứng tàu biển Đà Nẵng
TT Chỉ tiêu ĐVT
Trước
CPH
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
6 T
2006
01 Vốn kinh doanh:
Trg đó:- Vốn N.nước (%)
-Vốn DN (%)
1000đ
1000đ
4.818 5.304 5.304
3.590
1.714
5.304
3.590
1.714
5.304
3.590
1.714
phân tích làm rõ thêm như sau:
- Năm 2004 tình hình hoạt động SXKD của doanh nghiệp vẫn được
duy trì, đời sống cán bộ công nhân viên giữ được mức thu nhập đủ sống, tuy
nhiên tình hình tài chính ở quí 4/2004 đã có dấu hiệu biểu hiện khó khăn do
vốn bị chiếm dụng quá lớn.
- Năm 2005 hoạt động SXKD giảm sút nghiêm trọng, tình hình tài
chính mất cân đối, nợ bị chiếm dụng không thu hồi được, tình trạng bán nợ
tràn lan hầu hết ở các đơn vị trực thuộc mà nhiều nhất là ở thành phố Hồ Chí
Minh. Người lao động mất việc làm, thu nhập chỉ còn 70% lương, hoạt động
SXKD lỗ 1,4 tỷ.
- Năm 2006 SXKD hoàn toàn bị ngưng hẳn vì không có vốn, doanh
nghiệp chỉ tập trung thực hiện các biện pháp thu hồi vốn bán tài sản nhưng
tình hình vẫn không được cải thiện, tài chính thâm thụt ngày càng lớn dẫn đến
xin phá sản.
1.1.3. Tình hình về lao động, sắp xếp lao động
Căn cứ phương án CPH về sắp xếp lao động, các doanh nghiệp trong
ngành thương mại của thành phố ĐN đánh giá thực trạng của doanh nghiệp
mình tại thời điểm đó để có phương án sắp xếp lại lao động, dự kiến số lao
động tiếp tục làm việc tại công ty, số lao động tiếp tục tuyển dụng thêm hay
giải quyết tiếp số lượng dôi dư là bao nhiêu người. Phân loại và lập phương
án hỗ trợ kinh phí đào tạo lại theo quy định của Chính phủ.
Nhìn chung, lực lượng lao động của các doanh nghiệp trong ngành
thương mại của thành phố Đà Nẵng sau CPH được sắp xếp lại trong cơ cấu tổ
chức mới phù hợp với trình độ và khả năng của từng người, các doanh nghiệp
cố gắng đảm bảo toàn bộ số cán bộ, công nhân viên và người lao động được
bố trí việc làm, kiên quyết cắt giảm số lượng lao động gián tiếp không cần
thiết. Ban hành các quy chế rõ ràng về nghĩa vụ và quyền lợi của người lao
động, gắn tiền lương và thu nhập với chất lượng công việc. Do vậy, đã nâng
cao năng suất lao động và tăng thu nhập cho người lao động (mặc dù có đơn
vị doanh thu không tăng). Hầu hết người lao động trong các công ty cổ phần
CPH chưa có được.
Tuy nhiên, trên thực tế sau CPH tình hình lao động ở các doanh
nghiệp cổ phần vẫn thiếu sinh khí mới, hầu hết bộ máy quản lý ít được đổi
mới, người lao động vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình cũ, tư duy và tác phong
cũ của DNNN. Cơ chế hoạt động theo mô hình cổ phần vẫn còn chưa thống
nhất và bất cập, chưa thích nghi với cơ chế thị trường.
Các doanh nghiệp chưa có chính sách thu hút các nhân tài, các
cán bộ quản lý giỏi từ trong và ngoài công ty. Nguyên nhân là do các
đơn vị chưa mạnh dạn đầu tư tiền của cho việc tìm người và thuê người
có trình độ năng lực về cho doanh nghiệp. Mặt khác, một số nhân viên
cũ của doanh nghiệp trình độ năng lực còn yếu, chưa chịu khó và tự
giác học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của mình để đáp
ứng yêu cầu của mô hình hoạt động mới đây là những khó khăn cho các
doanh nghiệp sau CPH. Đặc biệt đối với Công ty CP Vật tư tổng hợp do
quá trình CPH và hoạt động của công ty CP hiệu quả kém nên dẫn đến
doanh nghiệp phá sản. Vì vậy việc giải quyết tình hình lao động ở đơn
vị này hết sức phức tạp, từ khâu giải quyết quyền lợi cho người lao
động, cổ đông đến việc tìm kiếm cơ hội làm việc ở đơn vị mới rất cần
lãnh đạo thành phố, các ngành các cấp và doanh nghiệp quan tâm
giải quyết.
Tình hình lao động của các doanh nghiệp cổ phần trong ngành thương
mại của thành phố Đà Nẵng qua khảo sát
Bảng 1.9: Tình hình lao động ở Công ty CP Thương mại và dịch vụ
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng đảng của đơn vị qua các năm)
STT Chỉ tiêu Trước CPH Năm 2004 Năm 2005 6T 2006
1 Tổng số LĐ 232 115 101 71
2
Trình độ:
- ĐH
48
09
71
46
27
11
47
2
52
29
13
65
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng đảng của đơn vị qua các năm)
Bảng 1.11: Tình hình lao động ở Công ty CP Cung ứng tàu biển ĐN
STT Chỉ tiêu
Trước
CPH
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
6T 2006
1 Tổng số LĐ 120 120 102 102 92 76 119
52
33
23
11
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng đảng của đơn vị qua các năm).
Bảng 1.12: Tình hình lao động ở Công ty CP Vật tư tổng hợp
STT Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005
1 Tổng số LĐ
78 69
2
Trình độ
- Trên ĐH
- ĐH
- Trung cấp
- CNKT
- LĐ phổ thông
25
23
20
10
18
20
25
06
(Nguồn: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng đảng của đơn vị qua các năm)
1.1.4 Tình hình thu nhập
Tình hình thu nhập của người lao động ở các doanh nghiệp trước hết
là tiền lương, tiền lương của CBCNV trong các doanh nghiệp được trả căn cứ
đều theo thâm niên công tác mà áp dụng hình thức quản lý và phân phối tiền
lương, tiền thưởng theo hiệu quả của từng người. Hình thức này thường được
các công ty không có vốn nhà nước chi phối áp dụng như Công ty cổ phần
Công nghệ phẩm là doanh nghiệp 100% vốn cổ đông.
Tuy nhiên, tình hình thu nhập và các chế độ của người lao động sau
cổ phần hoá vẫn còn một số vấn đề vướng mắc, Nhà nước chưa có hướng
dẫn rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của công ty, chế độ chính sách gắn với
doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá như: Vấn đề BHXH đối với người lao
động ở công ty cổ phần chưa kịp thay đổi nên hiện nay các doanh nghiệp
cổ phần trong ngành thương mại của thành phố Đà Nẵng vẫn vận dụng các